Thứ Năm, 22 tháng 1, 2015


PARIS, ngày 22.1.2015 (PTTPGQT) – Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế xin hân hạnh gửi tới quý cơ quan truyền thông báo chí, đồng bào các giới và đồng bào Phật tử Thư Mời tham dự Lễ An vị Phật tại ngôi Chùa chung của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất Hải ngoại : chùa Phật Quang, toạ lạc tại 17101 A Lane – Thành phố Huntington Beach – California 92647 – USA / Hoa Kỳ, như bước tiến thứ hai sau khi xong việc tạo mãi.

Đồng thời xin giới thiệu Lá Thư số 11 của Thượng toạ Chủ tịch Văn Phòng II Viện Hoá Đạo vạch ra tinh thần mới trong sinh hoạt của Giáo hội, mà nhân sự đại diện có mặt khắp nơi, là vấn đề cơ yếu. Một nhân sự chung lòng, và xuất hiện từ khối hạ tầng Tứ chúng, chứ không còn là sự tập trung thiểu số thượng tầng để bảo vệ chức vụ, thay vì thi hành nghĩa vụ hoằng pháp cao cả ở thời đại tối tăm của dân tộc và đạo pháp. Sự thay da đổi thịt của một tổ chức, đất nước, hay tôn giáo, luôn khởi phát từ tinh não khai phóng, thanh xuân, chứ không bằng sự lão hoá tâm thần, trì trệ tồn đọng đã bao nhiêu năm ròng.
 header_VP2VHD_Chua-Phat-Quang-2015Phật lịch 2558                                                                                                 Số 01/VP2VHĐ/PQ/CT

THƯ MỜI LỄ AN VỊ PHẬT

Trong niềm hoan hỷ vô hạn với sự tạo lập ngôi Chùa Phật Quang 17101 A Lane Huntington Beach CA 92647 tại miền nam California, Giáo Hội sẽ tổ chức Lễ An Vị Tôn Tượng Phật vào ngày Thứ Bảy 7 tháng 2 năm 2105 với sự chứng minh của chư tôn giáo phẩm, chư vị thành viên các hội đồng. Đại lễ cũng chính thức đánh dấu sự hoạt động của ngôi chùa chung như sự mong đợi của Phật tử bốn phương.

Chương trình gồm ba phần.

Phần thứ nhất, CHÁNH LỄ AN VỊ PHẬT, khởi sự từ 10:30 sáng với lễ trai tăng, lời chào mừng của Văn Phòng II Viện Hóa Đạo, đạo từ của Đức Đệ Ngũ Tăng Tăng Thống, huấn từ của Hoà thượng Viện trưởng Viện Hoá Đạo, lễ cúng Tam Bảo, nghi thức an vị, thuyết pháp đề tài : “Thấy Pháp Là Thấy Phật”, cơm trưa của đại chúng.

Phần thứ hai, Hội Thảo KHÁI NIỆM NHÂN QUYỀN TRỌNG LỊCH SỬ PHẬT GIÁO VIỆT NAM, từ 1:30 trưa tới 3:30 giờ chiều, do Văn Phòng II Viện Hóa Đạo và Phòng Thông Tin Phật Giáo Quốc tế thực hiện. Đây là một trình bày về cái nhìn nhân quyền qua lăng kính Phật giáo được ghi nhận trong lịch sử qua hai triều đại thịnh trị của Việt Nam là nhà Lý, nhà Trần.
Phần thứ ba, HỌP BÁO, từ 3:30 tới 5 giờ chiều, Giáo hội sẽ dành thì giờ trả lời những ưu tư, thắc mắc của giới truyền thông và quần chúng về hiện tình GHPGVNTN và sự tạo lập ngôi chùa Phật Quang.

Sự hiện diện của quý vị là một niềm hoan hỷ lớn cho toàn thể Giáo hội.

Trân trọng kính cung thỉnh chư tôn đức, kinh mời các tổ chức, đoàn thể cộng đồng người Việt quốc gia, các cơ quan truyền thông, cùng toàn thể quý đồng hương, quý Phật tử về chùa cùng chia sẻ và cầu nguyện cho ngày lễ thiêng liêng đầy ý nghĩa nầy. Mọi chi tiết xin liên lạc Chùa Phật Quang (657) 464-9335, Đạo hữu Nguyên Hòa (310) 951-8863, Đạo hữu Thiện Quảng (714) 622-8468.
Nguyện cầu Phật gia hộ chúng ta.

Tỳ kheo Thích Giác Đẳng
Quyền chủ tịch Văn Phòng II Viện Hóa Đạo GHPGNVNTN
Kiêm Chủ tịch GHPGVNTN Hải ngoại tại Hoa Kỳ

bodhi1

Lá Thư Tuần 11 :
Những ai, và ai làm gì cho Giáo hội ?

Lá thư nầy đúng ra phải được viết từ đầu tháng. Ba tuần đầu năm 2015 là thời gian “khởi động” của các đề án cho 10 tháng tới. Chính vì vậy lá thư nầy gởi đi khá trễ. Chúng ta hãy bắt đầu bằng điều quan trọng nhất trong hoạt động của Giáo Hội là nhân sự. Nếu phải nói một điểm thôi về yếu tố thành bại của Phật sự trong năm thì phải là có những ai và ai làm gì ? Cộng đồng Phật giáo có tiềm lực to lớn về nhân sự. Những Phật tử tài năng, có đạo tâm và thiện chí không thiếu. Những ngôi chùa to lớn không phải tài sản đạo giáo mà chính là những con người chuyên chở thông điệp thiêng liêng và thể hiện những giá trị cao cả. Ở giai đoạn nào cũng có những điều thuận và nghịch. Điểm quan trọng là chúng ta tập trung vào những điều có thể làm được hơn là cứ than phiền những trở ngại rồi ngồi bó gối.

NHỮNG BÀI HỌC QUÁ KHỨ

Chúng ta biết ơn tiền nhân đã khai quang con đường đã đi. Không có nghĩa vì vậy mà phải chấp chặt phương cách của người đi trước. Với địa bàn sinh hoạt Giáo hội rộng lớn ngày nay thì cơ cấu tổ chức ngày trước có phần thiếu thực tiễn ; hơn hai thập niên qua chưa có một vị chánh đại diện miền nào quán xuyến hết Phật sự trong phần hành của mình. Các tổng vụ cũng gần như vậy ; sự chuyên môn của công việc thường vượt tầm của những bậc Tăng Ni vốn đã quá bận với chùa chiền của mình. Trong lúc một người có chức vụ rất lớn không biết làm thế nào chu toàn trọng trách, thì có một số lớn những người có khả năng, có thiện chí đứng bên ngoài như người ngoại cuộc dù rất thiết tha đóng góp. Chúng ta quá nặng hình thức danh vị ; một vị hoà thượng đã thốt lời : tôi không thấy hãnh diện gì khi được giới thiệu quá nhiều chức danh vì thực tế không làm được gì nhiều mà chỉ để giới thiệu dài dòng trong các buổi lễ. Sự bám giữ chức vụ quá lâu của những người trong tổ chức cũng tạo nên những buồn nản đáng tiếc. Chúng ta than thiếu người làm việc nhưng lại xây lên nhiều rào cản để cuối cùng tạo nên một bộ máy cồng kềnh mà hiệu năng rất kém. Thiếu can đảm nhận chân những vấn đề của mình thì sẽ tiếp tục dậm chân một chỗ.

CẢI THIỆN TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG THỨC LÀM VIỆC

Không nghi ngờ gì nếu muốn thực hiện công việc tốt thì cần người chuyên môn. Một vị tăng sĩ xây được một ngôi chùa lớn không hẳn là người giỏi về tài chánh. Giáo hội cần những người có khả năng thật sự cho những việc chuyên môn. Cuối năm rồi quốc hội Châu Âu đã mời một số những cá nhân và tổ chức chuyên về nhân quyền đến hướng dẫn họ về tình hình nhân quyền tại các quốc gia độc tài. Hỏi đúng người, đúng chuyện sẽ tiết kiệm nhiều thì giờ và công sức.
Giáo hội phục vụ chung cho tất cả mọi tầng lớp. Ni giới có đông mà tiếng nói của chư vị ni sư trong sinh hoạt chung ít ỏi thì chúng ta khó phát triển. Sự đại biểu cho mọi thành phần của tứ chúng là quan trọng trong guồng máy giáo hội. Phải kể thêm nhu cầu của giới trẻ và những người thuộc nghề nghiệp phổ thông trong cộng đồng. Có hiểu được tất cả thì mới có sự quân bình trong đường hướng chung và tránh được những những quyết định phiến diện, một chiều.
Ngày nay người Việt có mặt khắp nơi trên các châu lục. Những đại biểu cho các địa phương là điều cần thiết. Không thể sinh hoạt cả một quốc gia hay một tiểu bang chỉ quy vào một người. Trên phương diện điạ dư thì số người đại diện cho giáo hội cần tương thích với mật độ người Việt định cư. Phật Pháp dạy rằng chúng sanh có duyên lành khác biệt. Nhiều khi một người không cộng tác tốt với người nầy nhưng lại cống hiến nhiều khi hợp tác với người khác.

LỜI MỜI GỌI CHÂN THÀNH
ĐỐI VỚI NHỮNG TẤM LÒNG CHÂN THÀNH


Trong việc tạo lập ngôi chùa chung, Chùa Phật Quang, chúng ta bỗng nhiên tìm ra hơn 2000 người phát tâm hỗ trợ Giáo hội ở hoàn cảnh khó khăn. Tất nhiên con số đó còn tiếp tục tăng thêm. Những người nầy chỉ thương Giáo hội, thương Đức Tăng Thống và mong gìn giữ sự tồn tại của Giáo hội trước mọi tình huống. Chỉ vậy thôi không cầu mong hay hậu ý gì. Chúng ta hãy gọi những người đó là những tấm lòng chân thành.
Đại hội thường niên năm 2014 đã thông qua một quyết định quan trọng là mời đón tư cách thành viên cá nhân thay vì chỉ có thành viên các hội đồng và đơn vị cơ sở. Nói cách khác bất cứ cá nhân nào cùng chấp nhập sự lãnh đạo của Hội Đồng Lưỡng Viện và tuân thủ những điều lệ cần thiết thì đều có thể tham gia sinh hoạt Giáo hội trong tư cách thành viên cá nhân (individual membership).
Xin thay mặt Giáo hội chân thành mời thỉnh 2000 cá nhân đã góp phần kiến tạo chùa Phật Quang trở thành những thành viên danh dự khởi đầu. Đã đến lúc những người thật tâm tha thiết với tiền đồ giáo hội được lắng nghe, được tham dự những quyết định trọng đại và được biết rõ đường hướng hoạt động của Giáo hội.

VAI TRÒ QUAN YẾU CỦA NHỮNG UỶ VIÊN CÔNG CÁN
Trong quá khứ Giáo hội từng bổ nhiệm một số ít uỷ viên công cán cho một số Phật sự đặc biệt nào đó. Tháng tới nầy Giáo hội sẽ bổ nhiệm 72 Ủy viên Công cán. Trong số đó 5 người ở Úc Đại Lợi, 5 người ở Âu châu, 7 người ở Canada, 10 người ở Nam Cali, 10 người ở Bắc Cali, 7 người ở Houston, 7 người ở Dallas, 3 người ở Florida, 2 người ở Oklahoma, 4 người ở Denver, 2 người ở Oregon, 5 người ở Seattle, 5 người ở vùng Đông bắc Hoa kỳ.
Họ là những người có đầy nhiệt huyết, có khả năng mời gọi sự tham gia của những Phật tử hữu tâm khác, là người vừa đại diện trung ương mà cũng đại diện địa phương, với khả năng chuyên môn cho lãnh vực nào đó. Những Ủy Viên Công Cán qua các phiên họp hằng tháng sẽ nắm rõ hiện tình và đường hướng để chuyển đạt đến tất cả thành viên. Họ là những commissioner, cũng là team leader.
Các Ủy viên Công cán sẽ là thành phần chủ lực cho những đề án mà Giáo hội đang hướng tới trong 10 tháng trước Đại Hội X. Chúng ta hãy chúc mừng và cầu nguyện cho tất cả Ủy viên Công cán chu toàn những trọng trách Phật sự. Và cũng cầu nguyện cho mỗi chúng ta lên đường với tâm tư an lạc, vô tranh, vô cầu.
Viết tại ngôi Chùa chung 22.1.2015
Tỳ kheo Thích Giác Đẳng

Kinh Phật Tự Thuyết (Cảm Hứng Ngữ)Udàna

Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt

PHẨM MUCALINDA

BÀI  10. KINH BHADDIYA


(X) (Ud 18)
Như vầy tôi nghe:
Một thời Thế Tôn trú ở Anupiya tại rừng xoài. Lúc bấy giờ, Tôn giả Bhaddiya, con của Kàligodha, đi đến khu rừng, đi đến gốc cây, đi đến ngôi nhà trống, và thường hay nói lên lời cảm hứng: "Ôi, an lạc thay! Ôi, an lạc thay! " Một số đông Tỳ-kheo nghe Tôn giả Bhaddiya, con của Kàligodha đi đến khu rừng, đi đến gốc cây, hay đi đến ngôi nhà trống, thường nói lên lời cảm hứng: "Ôi, an lạc thay! Ôi an lạc thay! ". Nghe vậy, các Tỷ-kheo ấy suy nghĩ: "Không gì nghi ngờ chư Hiền, Tôn giả Bhaddiya con của Kàlighodha sống Phạm hạnh không có hoan hỷ, vì trước khi còn ở gia đình được hưởng an lạc nhà vua, vì Tôn giả nhớ đến an lạc ấy, nên khi đến khu rừng, hay đi đến gốc cây... thường nói lên lời cảm hứng: "Ôi, an lạc thay! Ôi, an lạc thay! " Rồi một số đông Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
- Bạch Thế Tôn, Tôn giả Bhaddiya con của Kàligodha khi đi đến rừng... nói lên lời cảm hứng: "Ôi, an lạc thay! Ôi, an lạc thay! "... không có nghi ngờ gì nữa.. sống Phạm hạnh không có hoan hỷ... "Ôi, an lạc thay! Ôi, an lạc thay! ".
Rồi Thế Tôn bảo một Tỳ-kheo:
- Này Tỳ-kheo, hãy đi và nhân danh Ta nói với Bhaddiya, con của Kàligodha: "Thưa hiền giả, bậc Ðạo sư gọi Hiền giả! ".
- Thưa vâng bạch Thế Tôn.
Vị Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn, đi đến Tôn giả Bhaddiya, con của Kàligodha:
- Thưa Hiền giả, bậc Ðạo sư gọi Hiền giả.
- Thưa vâng, Hiền giả.
Tôn giả Bhaddiya, con của Kàligodha, vâng đáp Tỷ-kheo ấy, đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với Tôn giả Bhaddiya, con của Kàligodha, đang ngồi một bên:
- Có thật chăng, này Bhaddiya, Thầy đi đến khu rừng "... Ôi, an lạc thay! Ôi, an lạc thay! "?
- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
- Do thấy mục đích gì đi đến khu rừng "... an lạc? ".
- Bạch Thế Tôn, thuở trước khi còn ở trong gia đình, được hưởng an lạc nhà vua, trong nội cung có đặt người khéo bảo vệ, ngoại nội cung có đặt người khéo bảo vệ; trong thành nội có đặt người khéo bảo vệ, ngoài thành có đặt người khéo bảo vệ. Trong nước cũng có đặt người khéo bảo vệ, ngoài nước cũng có đặt người khéo bảo vệ. Bạch Thế Tôn, con được bảo vệ phòng giữ như vậy, nhưng con vẫn sống sợ hãi, hồi hộp, run sợ, hoảng sợ. Nhưng nay con đi đến khu rừng, đi đến gốc cây, đi đến ngôi nhà trống, con sống một mình, con sống không sợ hãi, không hồi hộp, không run sợ, không hoảng sợ, không rộn ràng, không hốt hoảng, lắng dịu, nhẹ nhàng, tâm như con thú rừng. Bạch Thế Tôn, do thấy mục đích như vậy, nên con khi đi đến khu rừng... con nói lên lời cảm hứng "... an lạc thay! ".
Rồi Thế Tôn, sau khi hiểu biết ý nghĩa này ngay trong lúc ấy nói lên lời cảm hứng này:
10. Với ai, trong nội tâm,
Không có lòng phẫn nộ,
Vượt qua hữu, phi hữu,
Vị ấy thoát sợ hãi,
An lạc, không sầu muộn,
Chư Thiên không thấy được. 

Thứ Tư, 21 tháng 1, 2015

Kinh Phật Tự Thuyết (Cảm Hứng Ngữ)Udàna

Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt

PHẨM MUCALINDA

BÀI 9. KINH VISĀKHĀ 
(IX) (Ud 18)
Như vầy tôi nghe:
Một thời Thế Tôn ở Sàvatthi, tại Ðông Viên, ngôi lầu của mẹ Migàra.
Mẹ Migàra có công việc liên hệ đến vua Pasenadi nước Kosala và vua Pasenadi nước Kosala chưa có quyết định về việc ấy. Rồi Visàkhà, mẹ của Migàra, vào buổi sáng sớm đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Rồi Thế Tôn nói với Visàkhà, mẹ của Migàra, đang ngồi một bên:
- Này Visàkhà, Bà từ đâu đi đến sớm như vậy?
- Bạch Thế Tôn con có công việc liên hệ đến vua Pasenadi nước Kosala... về việc ấy.
Rồi Thế Tôn, sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy, nói lên lời cảm hứng này:
9. Mọi tùng thuộc là khổ,
Mọi chủ quyền là lạc,
Chung dùng làm não hại,
Trói buộc khó vượt qua.

Thứ Hai, 19 tháng 1, 2015

Kinh Phật Tự Thuyết (Cảm Hứng Ngữ)Udàna

Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt

PHẨM MUCALINDA

BÀI 8. KINH SUPPAVĀSĀ 
(VIII) (Ud 15) 
Như vầy tôi nghe:
Một thời Thế Tôn trú ở Kundiyàya, trong rừng Kunditthàna. Lúc bấy giờ, Suppavàsà, con gái của vua xứ Koliya có thai đến bảy năm và nay bị đau đẻ đến ngày thứ bảy. Dầu nàng cảm giác những cảm thọ khổ đau, nhức nhối, khốc liệt, thống khổ, nàng vẫn duy trì ba niệm: "Thế Tôn thật là bậc Chánh Ðẳng Giác, Ngài thuyết pháp để đoạn tận đau khổ này. Chúng đệ tử của bậc Thế Tôn ấy là khéo hành trì. Chúng hành trì để đoạn tận đau khổ này. Thật sự an lạc là Niết-bàn, tại đây khổ đau này không có mặt ". Rồi Suppavàsà, con vua Koliya gọi ngưòi chồng của mình:
- Này Phu quân, hãy đi đến Thế Tôn, sau khi đến nhân danh tôi, cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn, hỏi thăm có ít bệnh ít não, khinh an khỏe mạnh, lạc trú và thưa: "-Bạch Thế Tôn, Suppavàsà con gái vua Koliya cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn, hỏi thăm có ít bệnh ít não, khinh an khỏe mạnh, lạc trú ". Rồi hãy nói như sau: "Bạch Thế Tôn, Suppavàsà, con gái vua Koliya, có thai đến bảy năm và nay bị đau đẻ đến ngày thứ bảy. Dầu nàng cảm giác những cảm thọ.... tại đấy khổ đau này không có mặt! "
- Thật là tốt lành.
Koliyaputta đáp lại Suppavàsà, con gái vua Koliya, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Koliyaputta bạch Thế Tôn:
- Bạch Thế Tôn, Suppavàsà, con vua Koliya, cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn,.... lạc trú.... tại đấy khổ đau này không có mặt.
- Mong rằng Suppavàsà, con gái vua Koliya được an lạc, không bệnh, sanh đứa con không có bệnh hoạn. Với lời nói này của Thế Tôn, Suppavàsà, con gái Koliya, được an lạc không bệnh, đẻ đứa con trai không bệnh.
- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Koliyaputta hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài rồi trở về nhà của mình. Koliyaputta thấy Suppavàsà, con gái vua Koliya, được an lạc, không bệnh, sanh đứa con trai không bệnh, thấy vậy liền suy nghĩ như sau: "Thật vi diệu thay! Thật hy hữu thay, thần lực và đại uy lực của Thế Tôn, khiến cho Suppavàsà con gái vua Koliya này, với lời nói của Thế Tôn được an lạc, không bệnh, sanh con trai không bệnh!". Nghĩ vậy, Koliyaputta hoan hỷ, thích thú, tâm sanh hỷ lạc. Rồi Suppavàsà, con gái vua Koliya, bảo người chồng mình:
- Hãy đi, này Phu quân, hãy đi đến Thế Tôn, sau khi đếnc nhân danh tôi, cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn và thưa: " - Bạch Thế Tôn, Suppavàsà, con vua Koliya, cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn, có thai đến bảy năm và nay bị đau đẻ đến ngày thú bảy. Nàng được an lạc, không bệnh và sanh đứa con trai không bệnh. Nay nàng muốn mời chúng Tỳ-kheo dùng cơm trong bảy ngày. Mong Thế Tôn hãy nhận lời thọ bảy bữa cơm của Suppavàsà với chúng Tỷ-kheo".
- Thật là tốt lành.
Koliyaputta đáp lại Suppavàsà, con gái vua Koliya, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Koliyaputta bạch Thế Tôn:
- Bạch Thế Tôn, Suppavàsà, con gái vua Koliya, cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn và nói như sau: Suppavàsà, có thai đến bảy năm... đau đẻ đến ngày thứ bảy. Nay nàng được an lạc, không bệnh và sanh đứa con trai không bệnh. Nay nàng muốn mời chúng Tỳ-kheo... với chúng Tỷ-kheo!
Lúc bấy giờ một nam cư sĩ khác đã mời chúng Tỷ-kheo với Thế Tôn là vị cầm đầu, ngày mai dùng cơm người cư sĩ ấy là người hộ trì cho Tôn giả Moggallàna. Rồi Thế Tôn nói với Tôn giả Mahà Mogallàna:
- Này Moggallàna, hãy đến người cư sĩ, sau khi đến, nói với người cư sĩ ấy như sau: "Này Hiền giả, Suppavàsà con của vua Koliya.. có thai đến bảy năm... đến ngày thứ bảy. Nay nàng được an lạc.. Nay nàng muốn mời chúng Tỷ-kheo... với chúng Tỷ-kheo. Hãy để cho Suppavàsà tổ chức bảy ngày cơm trước. Sau sẽ đến lượt người hộ trì cho người".
- Thưa vâng, bạch Thế Tôn!.
Tôn giả Mahà Moggallàna vâng đáp Thế Tôn rồi đi đến người cư sĩ ấy, sau khi đến nói với người cư sĩ:
- Này Hiền giả Suppavàsà... Hãy để cho Suppavàsà con của Koliya tổ chức bảy ngày cơm trước, sau sẽ đến phiên Ông.
- Thưa Tôn giả, nếu Tôn giả bảo đảm cho con ba pháp về tài sản, về thọ mạng, về lòng tin, hãy để cho Suppavàsà, con gái của vua Koliya, tổ chức trước, rồi sau đến phiên con.
- Này Hiền giả, về hai pháp ta sẽ bảo đảm cho ông, về tài sản và về thọ mạng. Còn về lòng tin, thời ông phải tự bảo đảm!.
- Thưa Tôn giả, nếu Tôn giả bảo đảm cho con hai pháp, về tài sản và về thọ mạng, hãy để cho Suppavàsà, con gái vua Koliya, tổ chức bảy ngày con trước. Rồi sẽ đến phiên con.
Rồi Tôn giả Mahà Moggallàna, sau khi thuyết phục được người cư sĩ ấy, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, bạch Thế Tôn:
- Bạch Thế Tôn, cư sĩ ấy đã được con thuyết phục. Hãy để cho Suppavàsà, con gái vua Koliya, tổ chức bảy ngày cơm trước, sau sẽ đến phiên người cư sĩ ấy.
Rồi Suppavàsà, con gái vua Koliya, trong bảy ngày mời chúng Tỷ-kheo với Thế Tôn là bậc dẫn đầu, tự tay mời và làm cho thỏa mãn với những món ăn thượng vị, loại cứng và loại mềm và khiến cho đứa trẻ đảnh lễ Thế Tôn và toàn thể chúng Tỷ-kheo. Rồi Tôn giả Sàriputta nói với đứa trẻ:
- Này Con, Con có kham nhẫn được không? Con có nuôi sống được không? Con có đau khổ gì không?
- Thưa Tôn giả, từ đâu con có thể kham nhẫn? Từ đâu con có thể nuôi sống? Từ đâu con không có đau khổ? Con đã sống bảy năm trong các ghè đầy máu!
Rồi Suppavàsà, con gái vua Koliya, nghĩ rằng: "Con ta đang nói chuyện với vị tướng quân về Pháp, hoan hỷ, tín thọ, với tâm hỷ lạc."
Rồi Thế Tôn nói với Suppavàsà, con gái vua Koliya:
- Này Suppavàsà. Con có muốn một người con trai khác như vậy không?
- Bạch Thế Tôn, con muốn có bảy người con trai như vậy!
Rồi Thế Tôn sau khi hiểu biết ý nghĩa này,ngay trong lúc ấy, nói lên lời cảm hứng này:
8. Không vui, giả dạng vui,
Không ái, giả dạng ái,
Khổ đau, giả dạng lạc,
Nhiếp phục kẻ phóng dật.

BÀI 9. KINH VISĀKHĀ 
(IX) (Ud 18)
Như vầy tôi nghe:
Một thời Thế Tôn ở Sàvatthi, tại Ðông Viên, ngôi lầu của mẹ Migàra.
Mẹ Migàra có công việc liên hệ đến vua Pasenadi nước Kosala và vua Pasenadi nước Kosala chưa có quyết định về việc ấy. Rồi Visàkhà, mẹ của Migàra, vào buổi sáng sớm đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Rồi Thế Tôn nói với Visàkhà, mẹ của Migàra, đang ngồi một bên:
- Này Visàkhà, Bà từ đâu đi đến sớm như vậy?
- Bạch Thế Tôn con có công việc liên hệ đến vua Pasenadi nước Kosala... về việc ấy.
Rồi Thế Tôn, sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy, nói lên lời cảm hứng này:
9. Mọi tùng thuộc là khổ,
Mọi chủ quyền là lạc,
Chung dùng làm não hại,
Trói buộc khó vượt qua.

 BÀI  10. KINH BHADDIYA
(X) (Ud 18)
Như vầy tôi nghe:
Một thời Thế Tôn trú ở Anupiya tại rừng xoài. Lúc bấy giờ, Tôn giả Bhaddiya, con của Kàligodha, đi đến khu rừng, đi đến gốc cây, đi đến ngôi nhà trống, và thường hay nói lên lời cảm hứng: "Ôi, an lạc thay! Ôi, an lạc thay! " Một số đông Tỳ-kheo nghe Tôn giả Bhaddiya, con của Kàligodha đi đến khu rừng, đi đến gốc cây, hay đi đến ngôi nhà trống, thường nói lên lời cảm hứng: "Ôi, an lạc thay! Ôi an lạc thay! ". Nghe vậy, các Tỷ-kheo ấy suy nghĩ: "Không gì nghi ngờ chư Hiền, Tôn giả Bhaddiya con của Kàlighodha sống Phạm hạnh không có hoan hỷ, vì trước khi còn ở gia đình được hưởng an lạc nhà vua, vì Tôn giả nhớ đến an lạc ấy, nên khi đến khu rừng, hay đi đến gốc cây... thường nói lên lời cảm hứng: "Ôi, an lạc thay! Ôi, an lạc thay! " Rồi một số đông Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
- Bạch Thế Tôn, Tôn giả Bhaddiya con của Kàligodha khi đi đến rừng... nói lên lời cảm hứng: "Ôi, an lạc thay! Ôi, an lạc thay! "... không có nghi ngờ gì nữa.. sống Phạm hạnh không có hoan hỷ... "Ôi, an lạc thay! Ôi, an lạc thay! ".
Rồi Thế Tôn bảo một Tỳ-kheo:
- Này Tỳ-kheo, hãy đi và nhân danh Ta nói với Bhaddiya, con của Kàligodha: "Thưa hiền giả, bậc Ðạo sư gọi Hiền giả! ".
- Thưa vâng bạch Thế Tôn.
Vị Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn, đi đến Tôn giả Bhaddiya, con của Kàligodha:
- Thưa Hiền giả, bậc Ðạo sư gọi Hiền giả.
- Thưa vâng, Hiền giả.
Tôn giả Bhaddiya, con của Kàligodha, vâng đáp Tỷ-kheo ấy, đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với Tôn giả Bhaddiya, con của Kàligodha, đang ngồi một bên:
- Có thật chăng, này Bhaddiya, Thầy đi đến khu rừng "... Ôi, an lạc thay! Ôi, an lạc thay! "?
- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
- Do thấy mục đích gì đi đến khu rừng "... an lạc? ".
- Bạch Thế Tôn, thuở trước khi còn ở trong gia đình, được hưởng an lạc nhà vua, trong nội cung có đặt người khéo bảo vệ, ngoại nội cung có đặt người khéo bảo vệ; trong thành nội có đặt người khéo bảo vệ, ngoài thành có đặt người khéo bảo vệ. Trong nước cũng có đặt người khéo bảo vệ, ngoài nước cũng có đặt người khéo bảo vệ. Bạch Thế Tôn, con được bảo vệ phòng giữ như vậy, nhưng con vẫn sống sợ hãi, hồi hộp, run sợ, hoảng sợ. Nhưng nay con đi đến khu rừng, đi đến gốc cây, đi đến ngôi nhà trống, con sống một mình, con sống không sợ hãi, không hồi hộp, không run sợ, không hoảng sợ, không rộn ràng, không hốt hoảng, lắng dịu, nhẹ nhàng, tâm như con thú rừng. Bạch Thế Tôn, do thấy mục đích như vậy, nên con khi đi đến khu rừng... con nói lên lời cảm hứng "... an lạc thay! ".
Rồi Thế Tôn, sau khi hiểu biết ý nghĩa này ngay trong lúc ấy nói lên lời cảm hứng này:
10. Với ai, trong nội tâm,
Không có lòng phẫn nộ,
Vượt qua hữu, phi hữu,
Vị ấy thoát sợ hãi,
An lạc, không sầu muộn,
Chư Thiên không thấy được
.

Chủ Nhật, 11 tháng 1, 2015

KINH PHẬT TỰ THUYẾT - UDÀNA 
 Chương Một - Phẩm Bồ Đề 
 Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt


1. 10. KINH BĀHIYA

(X) (Ud 6)
Như vầy tôi nghe:
Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, ngôi vườn ôngAnàthapindika. Lúc bấy giờ, Bàhiya Daruciriya trú ở Suppàraka, trên bờ biển, được cung kính, tôn trọng đảnh lễ, cúng dường và nhận được y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh. Rồi Bàhiya Dàcuciriya khởi lên tư tưởng như sau: "Với ai là bậc A-la-hán hay đang đi trên con đường A-la-hán, ta là một trong những vị ấy ". Rồi một Thiên nhân, trước là bà con huyết thống với Bàhiya Dàruciriya, vì lòng từ mẫn, vì muốn lợi ích, với tâm của mình biết tâm tư của Bàhiya Dàruciriya, đi đến Bàhiya Dàruciriya và nói như sau:
- Này Bàhiya. Ông không phải là A-la-hán hay đang đi trên con đường A-la-hán. Ông không có đạo lộ ấy, với đạo lộ này Ông có thể trở thành A-la-hán hay đang đi trên con đường đưa đến A-la-hán.
- Nhưng ai là những vị, trong thế giới này, với thế giới chư Thiên là những vị A-la-hán hay đang đi trên con đường A-la-hán?
- Này Bàhiya, có thành phố tên là Sàvatthi trên những quốc lộ phương Bắc. Tại đấy có Thế Tôn hiện đang trú, bậc A-la-hán. Chánh Ðẳng Giác. Vị ấy là bậc A-la-hán và thuyết pháp đưa đến quả A-la-hán.
Rồi Bàhiya Dàruciriya, được Thiên nhân ấy thúc dục, đi ra khỏiSappàraka, trong suốt đường trường, chỉ nghỉ một đêm, đi đến chỗ Thế Tôn đang trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, trong khu vườn Anàthapindika. Lúc bấy giờ nhiều Tỷ-kheo đang đi kinh hành giữa trời. Bàhiya Dàruciritya đi đến các Tỳ-kheo ấy, sau khi đến nói như sau:
- Thưa các Tôn giả, nay Thế Tôn, bậc A-la-hán Chánh Ðẳng Giác ở đâu? Chúng tôi muốn được yết kiến Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác.
- Này Bàhiya, Thế Tôn đã đi vào giữa các nhà để khất thực.
Rồi Bàhiya Dàraciriva mau chóng ra khỏi Jetavana, đi vào Sàvatthi, và thấy Thế Tôn đang đi khất thực, khả ái, khởi lên tịnh tin, các căn an tịnh, tâm ý an tịnh, đạt được an chỉ, chế ngự tối thượng, giống như một con voi được điều phục, phòng hộ với các căn an tịnh. Thấy vậy, Bàhiya Dàruciriya liền đi đến Thế Tôn, sau khi đến, cúi đầu xuống chân Thế Tôn và bạch Thế Tôn:
- Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy thuyết pháp cho con, Thiện Thệ hãy thuyết pháp cho con, nhờ vậy con có thể được hạnh phúc an lạc lâu dài.
Khi được nói vậy, Thế Tôn nói với Bàhiya Dàruciriya:
- Không phải thời, này Bàhiya, Ta đang khất thực.
Lần thứ hai Bàhiya Dàruciriya Bạch Thế Tôn:
- Thật khó biết, bạch Thế Tôn, là chướng ngại cho mạng sống của Thế Tôn, hay chướng ngại cho mạng sống của con. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy thuyết pháp cho con. Thiện Thệ hãy thuyết pháp cho con, nhờ vậy con có thể được hạnh phúc an lạc lâu dài.
Lần thứ hai, Thế Tôn nói với Màhiya Dàruciriya:
- Không phải thời, này Bàhiya, Ta đang khất thực.
Lần thứ ba, Bàhiya Dàruciriya bạch Thế Tôn:
- Thật khó biết... hạnh phúc lâu dài.
- Vậy này Bàhiya, Ông cần phải học tập như sau: "Trong cái thấy, sẽ chỉ là cái thấy. Trong cái nghe, sẽ chỉ là cái nghe. Trong cái thọ tưởng, sẽ chỉ là cái thọ tưởng. Trong cái thức tri, sẽ chỉ là các thức tri ". Như vậy, nàyBàhiya, Ông cần phải học tập. Vì rằng, này Bàhiya, nếu với Ông, trong cái thấy, sẽ chỉ là cái thấy; trong cái nghe, sẽ chỉ là cái nghe; trong cái thọ tưởng, sẽ chỉ là cái thọ tưởng; trong cái thức tri, sẽ chỉ là cái thức tri. Do vậy, này Bàhiva, ông không là chỗ ấy. Vì rằng, này Bàhiya, Ông không là đời này, không là đời sau, không là đời chặng giữa. Như vậy là đoạn tận khổ đau.
Nhờ lời thuyết pháp tóm tắt này của Thế Tôn, tâm của Bàhiya Dàruciriyađược giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ. Thế Tôn sau khi thuyết cho Bàhiya Dàruciriya lời giáo giới tóm tắt này, liền ra đi. Thế Tôn ra đi không bao lâu, một con bò con húc chết Bàhiya Dàruciriya. Thế Tôn sau khi khất thực ở Sàvatthi xong, sau buổi ăn, trên con đường đi khất thực trở về, đi ra khỏi thành với nhiều Tỷ-kheo, thấy Bàhiya Dàruciriya bị chết, thấy vậy liền nói với các Tỳ-kheo:
- Này các Tỳ-kheo, hãy lấy thân xác Bàhiya Dàruciriya, đặt lên trên cái chõng, đem đi hỏa thiêu, rồi xây tháp lên trên. Này các Tỷ-kheo, một vị đồng Phạm hạnh với các Thầy đã qua đời!
- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các vị Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn, sau khi đặt xác thân của Bàhiya Dàruciriya lên trên cái chõng, đem đi hỏa thiêu, xây dựng cái tháp cho vị ấy, rồi đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
- Bạch Thế Tôn, thân xác của Bàhiya Dàruciriya đã được hỏa thiêu, tháp đã được xây dựng xong cho vị ấy. Sanh thứ cho vị ấy là gì? Ðời sau vị ấy là gì?
- Này các Tỷ-kheo, Hiền trí là Bàhiya Dàruciriya đã hành trì tùy pháp, đúng pháp và không có phiền nhiễu Ta với những tranh luận về pháp. Này các Tỷ-kheo, Bàhiya Dàruciriya đã nhập Niết Bàn.
Rồi Thế Tôn sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy, nói lên lời cảm hứng này:
10. Chỗ nào nước và đất,
Lửa, gió không chấp trước,
Tại đây sao không chói,
Mặt trời không chiếu sáng,
Tại đây trăng không chiếu,
Tại đây u ám không,
Khi ẩn sĩ Phạm chí,
Tự mình với trí tuệ,
Thể nhập vào Chánh pháp,
Vị ấy được giải thoát
Khỏi sắc và vô sắc,
Khỏi an lạc, đau khổ.
Lời cảm hứng này được Thế Tôn thuyết giảng và tôi được nghe như vậy.

Thứ Năm, 8 tháng 1, 2015

KINH PHẬT TỰ THUYẾT - UDÀNA 
Chương Một - Phẩm Bồ Đề 
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt

(VII) (Ud 4)
Như vầy tôi nghe:
Một thời Thế Tôn trú ở Pàtali tại Ajakalàpaka, chỗ ở của Dạ-xoa Ajakalàpa. Lúc bấy giờ Thế Tôn đang ngồi ngoài trời, trong đêm tối đen, và trời mưa từng hột xuống. Rồi Dạ-xoa Ajakalàpaka muốn làm cho Thế Tôn sợ hãi, hoảng sợ, lông tóc dựng ngược, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, ba lần nói lên gần Thế Tôn tiếng gào thét của mình là Akkulopakkulo: "Này Sa môn, có con quỷ cho Ông ". Thế Tôn sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy nói lên lời cảm hứng này:
7. Khi nào Bà-la-môn
Ðối với pháp của mình,
Ðã đạt được bờ kia,
Vị ấy vượt qua được,
Ác quỷ yêu ma này.
(VIII) (Ud 5)
Như vầy tôi nghe:
Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, khu vườn ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ Tôn giả Sangamàji đã đi đến Sàvatthi để yết kiến Thế Tôn. Người vợ trước kia của Tôn giả Sangamàji nghe được tin Tôn giả Sangamàji đã đến Sàvattthi. Nàng liền dắt người con đi đến Jetavana. Lúc bấy giờ Tôn giả Sangamàji đang ngồi dưới gốc cây đề nghỉ ban ngày. Rồi người vợ trước đây của Tôn giả Sangamàji, đi đến Tông Giả Sangamàji, sau khi đến, nói lên với Tôn giả Sangamàji:
- Này Sa môn, hãy nuôi dưỡng tôi và đứa con nhỏ!
Khi nghe nói vậy, Tôn giả Sangamàji, giữ im lặng. Lần thứ hai, người vợ trước kia của Tôn giả Sangamàji nói với Tôn giả Sangamàji:
- Này Sa-môn, hãy nuôi dưỡng tôi và đứa con nhỏ!
Lần thứ hai, Tôn giả Sangamàji giữ im lặng. Lần thứ ba người vợ trước kia của Tôn giả Sangamàji nói với Tôn giả Sangamàji:
- Này Sa-môn, hãy nuôi dưỡng tôi và đứa con nhỏ!
Lần thứ ba, Tôn giả Sangamàji vẫn giữ im lặng. Rồi người vợ trước kia của Tôn giả Sangamàji đặt đứa nhỏ trước mặt Tôn giả Sangamàji rồi bỏ đi, nói rằng:
- Này Sa-môn, đây là đứa con trai của Sa-môn. Hãy nuôi dưỡng nó!
Tôn giả Sangamàji không có ngó đến đứa nhỏ ấy, cũng không nói gì. Rồi người vợ trước kia của Tôn giả Sangamàji sau khi đi không xa, ngó lui lại thấy Tôn giả Sangamàji không ngó đứa con nhỏ ấy, cũng không nói; thấy vậy liền suy nghĩ: "Sa môn này không muốn ngó đến người con ". Nàng liền trở lui lại, bồng lấy đứa con rồi ra đi. Thế Tôn với Thiên nhãn thanh tịnh siêu nhân, thấy cử chỉ thô bạo như vậy của người vợ trước kia của Tôn giả Sangamàji.
Rồi Thế Tôn sau khi hiểu biết được ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy, nói lên lời cảm hứng này:
8. Không hoan hỷ, nàng đến,
Không sầu muộn, nàng đi,
Giải thoát khỏi ái phược,
Là Sangamàji
Ta gọi người như vậy,
Là vị Bà-la-môn.
(IX) (Ud 6)
Như vầy tôi nghe:
Một thời Thế Tôn trú ở Gayà, tại Gayasisa. Lúc bấy giờ, nhiều kẻ bện tóc, trong những đêm gió lạnh mùa đông, giữa những ngày mồng tám, trong thời tuyết rơi, đang lặn xuống và nổi lên trong nước, làm việc lặn xuống nổi lên, tưới nước và tế lửa, nghĩ rằng: "Với hành động này, được thanh tịnh ".
Thế Tôn thấy nhiều kẻ bện tóc ấy, trong những đêm gió lạnh mùa đông, giữa những ngày mồng tám, trong thời tuyết rơi, đang lặng xuống và nổi lên trong nước, làm việc lặn xuống nổi lên, tưới nước và tế lửa, nghĩ rằng: "Với hành động này, được thanh tịnh ".
Thế Tôn sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy, nói lên lời cảm hứng này:

9. Thanh tịnh không có nước,
Ở đây nhiều người tắm,
Trong ai có chân thật,
Lại thêm có Chánh pháp,
Người ấy là Thanh tịnh,
Người ấy là Phạm chí.

Thứ Tư, 7 tháng 1, 2015

PARIS, ngày 27.12.2014 (PTTPGQT) – Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế xin hân hạnh giới thiệu Bạn đọc Lá Thư Trong Tuần – Tuần thứ Mườ., Sau khi kết thúc việc tạo mãi ngôi chùa chung Phật Quang, toạ lạc tại 17101 A Street – Thành phố Huntington Beach – California 92647 – USA / Hoa Kỳ. làm cơ sở sinh hoạt cho Văn Phòng II Viện Hoá Đạo và Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất Hải ngoại tại Hoa Kỳ. Nay bước sang phần hoạt động để phát triển và phát huy Giáo hội từ nơi cơ sở mới này. Lá Thư số 10 vạch ra viễn trình mới với những dự án phát triển cụ thể cùng lịch hoạt động đầy hứng khởi và thực tiễn trong năm 2015. Xin mời Bạn đọc vào Trang Thư thứ Mười :
bodhi1

Lá Thư Trong Tuần – Tuần 10 :Hãy Kết Thúc Bằng Sự Bắt Đầu

Ba tháng trước Lá Thư Trong Tuần số 1 gởi đến bạn đọc xa gần với lời mời gọi cùng cất bước hành trình 10 tuần lễ vận động tạo lập ngôi chùa chung. Lá thư nầy chính là lá thư cuối cùng của đoạn đường đã đi. Chùa Phật Quang đã ra đời với sự nhiệt tâm góp phần của bao nhiêu trái tim tha thiết từ khắp nơi trên thế giới. Một người từ Canada đã viết email về bày tỏ ý nghĩ : Lá Thư Trong Tuần không phải chỉ vận động tài chánh mà còn ghi lại những gì đáng nhớ và thông tin về sinh hoạt Giáo Hội. Người nầy cũng đề nghị : nên tiếp tục ngay sau khi hoàn tất công cuộc xây dựng ngôi chùa của Giáo Hội. Hơn tháng qua chúng tôi cũng nhận được nhiều yêu cầu, khuyến khích – đôi lúc như đòi hỏi – làm thế nào có lá thư thường xuyên để phổ biến tin tức cần thiết. Đáp lại sự mong mỏi, xin được tiếp tục Lá Thư Trong Tuần.
QUÃNG ĐƯỜNG SẮP TỚI
Việc tạo lập ngôi chùa Phật Quang là niềm hoan hỷ lớn lao sau bao lo lắng, nỗ lực và vận động của tăng ni, Phật tử khắp nơi. Dù thế nào thì thành tựu nầy chỉ là một khởi điểm. Chúng ta đã tìm thấy được nhiều tấm lòng thiết tha với Giáo Hội, bây giờ phải làm thế nào tất cả cùng đồng hành trên con đường phụng sự quê hương và đạo pháp. Chúng ta đã nhận ra tiềm lực lớn lao của truyền thông trong Phật sự, bây giờ cần làm thế nào để có một quy cũ làm việc bền chặt, hiệu quả lâu dài với những đóng góp của nhiều nhân tài. Chúng ta đã khẳng định được giá trị của ngôi chùa chung đúng theo truyền thống vượt ngoài tư hữu, thì bây giờ làm sao chứng minh được khả năng duy trì tốt đẹp trở thành kiểu mẫu phổ cập. Chúng ta đã tìm được sự đồng thuận chung về chủ trương thay đổi lề lối làm việc, đặc biệt là lãnh vực tài chánh cần có kế hoạch ổn định rõ ràng cho đường dài. Sự đồng tâm hợp lực là sức mạnh nền tảng của Giáo Hội. Nếu chúng ta tiếp tục đồng hành trong tinh thần hòa hài, dõng mãnh như 10 tuần lễ qua, thì trong 10 tháng tới, trước khi Đại Hội Khoáng đại 10 diễn ra chắc chắn sẽ có nhiều thành tựu đáng kể.
HIẾN CHƯƠNG GHPGVNTN VĂN KIỆN LỊCH SỬ QUAN TRỌNG VỚI PHẬT GIÁO ĐỒ VIỆT NAM
Sự ra đời của bản Hiến Chương Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất đầu năm 1964 là một sự kiện lịch sử quan trọng với Phật giáo Việt Nam. Đó là kết tinh quyết tâm của Phật giáo đồ Việt Nam trong mưu cầu gìn giữ giá trị truyền thống thiêng liêng bằng một cơ cấu hành chánh mới. Chưa bao giờ một hình thái tổ chức mang quy cũ hành chánh như vậy được chính thức thiết lập bằng văn tự trong chiều dài lịch sử hơn hai mươi thế kỷ trước đó. Sự hợp nhất hai tông phái chủ lưu Bắc Tông và Nam Tông cũng là một sự kiện chưa từng có trong lịch sử Phật Giáo thế giới từ xưa tới nay. Bản hiến chương đó được bảo vệ qua nhiều giai đoạn khốc liệt. Tâm huyết và xương máu của bốn chúng đệ tử Phật trải ra vì sự tồn tại của văn kiện lịch sử nầy không có bút mực nào nói đủ. Hiến chương của giáo hội được tu chỉnh năm 1973, năm 2011 đều lưu lại những dấu ấn quan trọng. Hội Đồng Lưỡng Viện chỉ đạo Văn Phòng II tổ chức Đại Hội Khoáng đại X năm 2015 với nội dung mang nhiều điểm quan trọng, mà trong đó, việc tu chỉnh hiến chương là một phần quan trọng. Đức Đệ Ngũ Tăng Thống xưa kia nhận vai trò Tổng Thư Ký Viện Hóa Đạo năm 1973, được suy tôn ngôi vị Tăng Thống năm 2011. Sự chứng minh và phê chuẩn của Ngài đối với việc tu chỉnh hiến chương mang ý nghĩa đặc biệt đối với lịch sử giáo hội. Công việc nầy sẽ được thực hiện lần đầu tiên với sự tham gia của cả hai giới xuất gia, tại gia mà một số là chuyên gia trong các lãnh vực luật pháp, hành chánh.
TƯ CÁCH THÀNH VIÊN SẼ XÂY DỰNG NỀN TẢNG CỦA GIÁO HỘI
Việc tạo lập ngôi chùa chung đã cho thấy một điều tế nhị nhưng cực kỳ quan trọng : những người có thật tâm tha thiết với sự tồn vong của Giáo hội thường là những người đứng bên lề. Có cái gì không hợp lý trong cách làm việc của chúng ta. Có những người mang chức vụ quan trọng trong giáo hội nhưng không thật sự thiết tha với Phật sự chung, trong lúc ngoài kia có rất nhiều người hy hiến rất nhiều lại chỉ là những người ủng hộ không hơn không kém. Đó là kết quả cách làm việc thư lại, thiếu tinh thần thực tiễn. Đã đến lúc cơ cấu hành chánh của Giáo hội mở rộng cửa cho những người nhiều thiện tâm, thiện chí. Đại hội thường niên 2014 của GHPGVNTN Hải ngoại tại Hoa Kỳ thông qua một quyết định quan trọng : đồng thuận tư cách hội viên (membership) của Tăng ni, Phật tử thông qua một trình tự hợp theo luật pháp địa phương cũng như quy chế của Giáo hội. Tiếng nói của đại khối quần chúng Phật tử của Giáo Hội sẽ được lắng nghe và đóng vai trò quyết định. May mắn cho chúng ta ở điểm là từ việc vận động tạo lập ngôi chùa chung, Giáo hội đã tìm thấy những tấm lòng đó đây vì đạo, vì đời không một chút hậu ý. Những người đó nên là những thành viên ban đầu để tạo cơ sở mở rộng lâu dài. Sẽ có lúc Giáo Hội bắt buộc phải làm những quyết định trọng đại thì quyết định đó nên đến từ đại khối quần chúng thành viên. Tin tưởng vào số đông là căn bản của tinh thần dân chủ.
CƠ SỞ TÀI CHÁNH BẢO ĐẢM SINH HOẠT ỔN ĐỊNH
Làm việc không có kế hoạch dài hạn thường dẫn đến chỗ bị động, chậm bước. Muốn có kế hoạch lâu dài thì phải nắm rõ khả năng, mà trong đó, tài chánh là yếu tính. Cách làm việc tới đâu hay tới đó không cho phép những chương trình dài hạn quan trọng. Do vậy rất đoản, (mang tính cơ hội, thiếu lo xa). Sự tồn tại ngày nay trong một xã hội nặng tính tổ chức bắt buộc chúng ta thay đổi cái nhìn và phương thức làm việc để tồn tại. Một trong những đề án trong mười tháng tới là xây dựng cơ sở tài chánh, để từ đó, xác lập được ngân sách cho những năm tới. Cộng đồng Phật tử không thiếu những người có khả năng và thiện chí. Vấn đề là làm sao kết hợp và hiện thực những nguyện vọng của Phật tử xa gần. Hơn lúc nào hết, đây là thời điểm có thể thực hiện được điều nầy. Chúng ta thấy được nhu cầu ; thấy được khả tính ; điều còn lại là cụ thể hóa nguyện vọng chung. Tất cả hoạt động trong và ngoài nước đều tùy thuộc nhiều vào đề án nầy. Sự hình thành một cơ sở tài chánh đang được đẩy mạnh. Một lần nữa, cũng như đề án xây dựng ngôi chùa chung, đòi hỏi sự quyết tâm và chung sức xa gần. Giáo hội đang cần những bàn tay và khối óc tinh anh của Phật tử bốn phương cho dự án quan trọng nầy. Một khi đã hình thành thì gánh nặng trên đôi vai của chúng ta ngày một nhẹ đi.
CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH PHẬT GIÁO
Truyền thông là lãnh vực hoạt động quan trọng cho sự tồn tại của Giáo hội. Những đóng góp của Phòng Thông Tin Phật Giáo Quốc Tế trong thời gian hơn hai thập niên qua đã chứng minh điều đó. Ngành truyền thông cũng mở ra cơ hội đóng góp của nhiều Phật tử hữu tâm có chuyên môn trong nhiều lãnh vực. Chính truyền thông giúp rất nhiều cho Phật tử xa gần thấu hiểu và góp phần kíp thời cho những nhu cầu Phật sự quan trọng. Đã có nhiều đóng góp quan trọng trong thời gian qua. Tuy vậy Giáo Hội vẫn cần một nỗ lực trong quy mô và đồng bộ trong ngành truyền thông. Người trẻ thường truy cập qua internet. Người lớn tuổi thường theo dõi tin tức qua radio và TV. Hiện nay có một cơ duyên quan trọng giúp chúng ta có một đài TV Phật giáo riêng biệt 24 giờ mỗi ngày. Vấn đề là điều hợp sự đóng góp của nhiều tầng lớp Phật tử khác nhau. Ngoài Phật Pháp, thiền tập, tin tức Phật giáo xa gần đài cần chương trình song ngữ Việt, Anh. Những chủ đề về văn hóa, giáo dục, nghệ thuật và gia đình cũng là trọng điểm nhắm tới. Chương trình truyền hình cung ứng cho radio, webcast, youtube… có thể nói là đa dụng. Đối với nhiều Phật tử khắp nơi có khả năng, thiện chí muốn góp phần phục vụ Giáo hội thì đây là cơ hội thích hợp. Tất cả hoạt động cho dân chủ, nhân quyền đều cần truyền thông. Đẩy mạnh công việc nầy là một đáp ứng cấp thiết và hữu hiệu cho nhiều nhu cầu hiện tại.
LỊCH SINH HOẠT NĂM 2015
Năm 2015 sẽ là năm bận rộn. Ngoài những tiệc gây quỹ đó đây trước Tết Nguyên Đán, còn có lễ An Vị Phật chùa Phật Quang vào ngày thứ bảy 7.2.2015. Đây là sinh hoạt chính thức đầu tiên của ngôi chùa chung với sự tham dự của chư tôn giáo phẩm trong giáo hội với phiên họp thảo hoạch lịch chi tiết hoạt động cho năm tới, một năm với nhiều Phật sự bận rộn mà Đại hội Khoáng đại X là một đánh dấu quan trọng.
Chủ Nhật, ngày 22 tháng 3 năm 2014 là ngày Gây quỹ Yểm Trợ Phòng Thông Tin Phật Giáo Quốc Tế do Sáng Hội Phạm Gia Bình thực hiện.
Ðại lễ Phật Ðản Phật lịch 2559, dương lịch 2015, sẽ được tổ chức vào ngày chủ nhật 31.5.2015 (Rằm tháng tư âm lịch) tại Chùa Phật Quang, thành phố Huntington Beach, tiểu bang Nam California, Hoa Kỳ ;
Lễ Húy nhật Đức cố Đệ tứ Tăng Thống Thích Huyền Quang cũng sẽ tổ chức tại chùa Phật Quang vào ngày 26.7.2015.
Đại học Hè Phật giáo sẽ tổ chức từ ngày 11 đến 16.8.2015 tại chùa Pháp Luân, thành phố Houston, tiểu bang Texas.
Đại hội Khoáng đại lần X tại Chùa An Lạc ở thành phố San Jose, tiểu bang Bắc California, trong ba ngày 9, 10 và 11.10.2015. Đức Tăng Thống và Hòa thượng Viện trưởng Viện Hóa Đạo đã chỉ thị cho Văn phòng II Viện Hóa Đạo thực hiện như một Đại hội Khoáng đại nối dài của Đại hội Khoáng Đại Viện Hóa Đạo trong nước.

Năm 2014 sắp đi qua. Năm mới 2015 lại về. Một hành trình mới bắt đầu. chúng ta hãy kết thúc năm cũ bằng niềm hoan hỷ vô hạn với sự tạo lập ngôi chùa chung. Niềm hân hoan không phải là thỏa mãn để ngừng nghỉ mà là tư lương cho hành trình trước mắt. Nếu mười lá thư qua khẳng định được tấm lòng kiên trinh của Phật tử bốn phương thì mười tháng tới sẽ phải ghi được những thành tựu cụ thể qua các đề án quan trọng nói trên. Cho dù bất cứ hoàn cảnh nào thì sự phục vụ luôn dựa trên tinh thần dấn thân, thiện chí và thực tiễn.
Đoạn đường mười tháng sắp tới đang cần quyết tâm, thiện chí và sự đồng lòng của tất cả. Chúng ta hãy khởi hành.
Manila, cuối năm 2014
Tỳ kheo Thích Giác Đẳng
KINH PHẬT TỰ THUYẾT - UDÀNA 
Chương Một - Phẩm Bồ Đề 
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt

(VII) (Ud 4)

Như vầy tôi nghe:Một thời Thế Tôn trú ở Pàtali tại Ajakalàpaka, chỗ ở của Dạ-xoa Ajakalàpa. Lúc bấy giờ Thế Tôn đang ngồi ngoài trời, trong đêm tối đen, và trời mưa từng hột xuống. Rồi Dạ-xoa Ajakalàpaka muốn làm cho Thế Tôn sợ hãi, hoảng sợ, lông tóc dựng ngược, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, ba lần nói lên gần Thế Tôn tiếng gào thét của mình là Akkulopakkulo: "Này Sa môn, có con quỷ cho Ông ". Thế Tôn sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy nói lên lời cảm hứng này:

7. Khi nào Bà-la-môn/ Ðối với pháp của mình,/ Ðã đạt được bờ kia,/ Vị ấy vượt qua được,/ Ác quỷ yêu ma này.
1-7: Pàvàsuttaü (7)

1. Evaü me sutaü: ekaü samayaü Bhagavà Pàvàyaü 11 viharati Ajakalàpake cetiye Ajakalàpakassa yakkhassa bhavane. Tena kho pana samayena Bhagavà rattandhakàratimisàyaü [PTS Page 005] [\q 5/] abbhokàse nisinno hoti. Devo ca ekam-ekaü phusàyati, atha kho Ajakalàpako yakkho Bhagavatà bhayaü chambhitattaü lomahaüsaü uppàdetukàmo yena Bhagavà tenupasaïkami, upasaïkamitvà Bhagavato avidåre tikkhattuü ßakkulo pakkuloû ti akkulapakkulikaü akàsi, ßeso te samaõa pisàcoû ti.

2. Atha kho Bhagavà etam-atthaü viditvà tàyaü velàyaü imaü udànaü udànesi:

ßYadà sakesu dhammesu ~ pàragu hoti brahmaõo, /Atha etaü pisàca¤-ca ~ pakkula¤-càtivattatãû-ti.

Thứ Ba, 6 tháng 1, 2015

KINH PHẬT TỰ THUYẾT - UDÀNA
Chương Một - Phẩm Bồ Đề
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt

(IV) (Ud 3)

Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn trú ở Uruvelà, trên bờ sông Neranjarà, dưới gốc cây bàng ajapala, khi mới chứng Chánh Ðẳng Giác. Lúc bấy giờ, Thế Tôn trong bảy ngày ngồi trong một thế ngồi kiết-già, thọ hưởng lạc giải thoát. Rồi Thế Tôn sau bảy ngày ấy ra khỏi định. Có một Bà-la-môn thuộc dòng họ Huhunka, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, nói lên lời chào hỏi, sau khi nói lời chào hỏi thân hữu, rồi đứng một bên. Ðứng một bên, Bà-la-môn ấy nói với Thế Tôn:

- Tôn giả Gotama, cho đến như thế nào là Bà-la-môn, và những pháp nào tác thành Bà-la-môn?

Thế Tôn sau khi biết được ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy, nói lên lời cảm hứng này:

4. Vị Bà-la-môn nào,
Loại trừ các ác pháp,
Không kiêu, không uế nhiễm,
Tự ngã khéo chế ngự,
Vệ-đà được thông đạt,
Phạm hạnh được viên thành,
Vị Bà-la-môn ấy,
Có thể nói lên được,
Lời Phạm ngữ đúng pháp,
Vị ấy ở đời này,
Không hề có mạn tâm
Bất cứ ở nơi nào.

Chánh Văn Pali

4. Huṃhuṅkasuttaṃ

4. Evaṃ me sutaṃ – ekaṃ samayaṃ bhagavā uruvelāyaṃ viharati najjā nerañjarāya tīre ajapālanigrodhe paṭhamābhisambuddho. Tena kho pana samayena bhagavā sattāhaṃ ekapallaṅkena nisinno hoti vimuttisukhapaṭisaṃvedī. Atha kho bhagavā tassa sattāhassa accayena tamhā samādhimhā vuṭṭhāsi.

Atha kho aññataro huṃhuṅkajātiko [huhuṅkajātiko (sī. syā. kaṃ. pī.)] brāhmaṇo yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavatā saddhiṃ sammodi. Sammodanīyaṃ kathaṃ sāraṇīyaṃ vītisāretvā ekamantaṃ aṭṭhāsi. Ekamantaṃ ṭhito kho so brāhmaṇo bhagavantaṃ etadavoca – ‘‘kittāvatā nu kho, bho gotama, brāhmaṇo hoti, katame ca pana brāhmaṇakaraṇā [brāhmaṇakārakā (ka.)] dhammā’’ti?

Atha kho bhagavā etamatthaṃ viditvā tāyaṃ velāyaṃ imaṃ udānaṃ udānesi –

‘‘Yo brāhmaṇo bāhitapāpadhammo,
Nihuṃhuṅko [nihuhuṅko (sī. syā. kaṃ pī.)] nikkasāvo yatatto;
Vedantagū vūsitabrahmacariyo,
Dhammena so brahmavādaṃ vadeyya;
Yassussadā natthi kuhiñci loke’’ti. catutthaṃ;

Thứ Hai, 5 tháng 1, 2015

KINH PHẬT TỰ THUYẾT - UDÀNA
Chương Một - Phẩm Bồ Đề
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt
                                                 
I) (Ud 1)

Như vầy tôi nghe:
Một thời Thế Tôn ở Uruvelà, trên bờ sông Neranjarà, dưới gốc cây Bồ đề, khi mới chứng Chánh Ðẳng Giác. Lúc bấy giờ, Thế Tôn trong bảy ngày ngồi trong một thế ngồi kiết-già, thọ hưởng lạc giải thoát. Rồi Thế Tôn sau bảy ngày ấy, ra khỏi định ấy, trong đêm canh thứ nhứt, khéo thuận chiều tác ý lý Duyên khởi: "Do cái này có mặt, cái kia hiện hữu. Do cái này sanh, cái kia sanh. Tức là duyên vô minh, có các hành; duyên các hành, có thức; duyên thức, có danh sắc; duyên danh sắc, có sáu xứ; duyên sáu xứ, có xúc; duyên xúc, có thọ; duyên thọ, có ái; duyên ái, có thủ; duyên thủ, có hữu; duyên hữu, có sanh; duyên sanh, có già, chết, sầu bi khổ ưu não. Như vậy là sự tập khởi của khổ uẩn này".

Rồi Thế Tôn, sau khi hiểu biết ý nghĩa này, trong lúc ấy, nói lên lời cảm hứng này:

1. Thật sự, khi các pháp,
Có mặt, hiện khởi lên,
Ðối vị Bà-la-môn,
Nhiệt tâm hành thiền định,
Khi ấy, với vị ấy,
Các nghi hoặc tiêu trừ,
Vì quản tri hoàn toàn,
Pháp cùng với các nhân.

Chánh Văn Pali

1-1: Pañhamabodhisuttaü (1)
1. Evaṃ me sutaṃ – ekaṃ samayaṃ bhagavā uruvelāyaṃ viharati najjā nerañjarāya tīre bodhirukkhamūle paṭhamābhisambuddho. Tena kho pana samayena bhagavā sattāhaṃ ekapallaṅkena nisinno hoti vimuttisukhapaṭisaṃvedī [vimuttisukhaṃ paṭisaṃvedī (syā. pī. ka.)]. Atha kho bhagavā tassa sattāhassa accayena tamhā samādhimhā vuṭṭhahitvā rattiyā paṭhamaṃ yāmaṃ paṭiccasamuppādaṃ anulomaṃ sādhukaṃ manasākāsi –
‘‘Iti imasmiṃ sati idaṃ hoti, imassuppādā idaṃ uppajjati, yadidaṃ – avijjāpaccayā saṅkhārā, saṅkhārapaccayā viññāṇaṃ, viññāṇapaccayā nāmarūpaṃ, nāmarūpapaccayā saḷāyatanaṃ, saḷāyatanapaccayā phasso, phassapaccayā vedanā, vedanāpaccayā taṇhā, taṇhāpaccayā upādānaṃ, upādānapaccayā bhavo, bhavapaccayā jāti, jātipaccayā jarāmaraṇaṃ sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā sambhavanti. Evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa samudayo hotī’’ti.
Atha kho bhagavā etamatthaṃ viditvā tāyaṃ velāyaṃ imaṃ udānaṃ udānesi –
‘‘Yadā have pātubhavanti dhammā,
Ātāpino jhāyato brāhmaṇassa;
Athassa kaṅkhā vapayanti sabbā,
Yato pajānāti sahetudhamma’’nti. paṭhamaṃ;