Thứ Hai, 17 tháng 11, 2014
GIÁO TRÌNH KINH TẬP SUTTANIPÀTA
Chương Bốn - Phẩm Tám Nhóm
(III) Kinh Sân Hận tám kệ (Sn 153)
786. Vị tẩy sạch loại bỏ,
Không tìm được ở đời,
Các kiến được sửa soạn,
Ðối với hữu, phi hữu.
Bỏ man trá, kiêu mạn,
Vị tẩy sạch loại bỏ,
Vị ấy đi với gì,
Vị ấy không chấp thủ.
787. Với ai có chấp thủ,
Bị chỉ trích trong Pháp,
Với ai không chấp thủ,
Lấy gì có thể nói?
Chính đối với vị ấy,
Ngã, phi ngã đều không,
Vị ấy đã tẩy sạch,
Mọi tà kiến ở đời.
Thứ Tư, 12 tháng 11, 2014
KINH TẬP
SUTTANIPÀTA
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt
Chương Hai- Tiểu Phẩm
(XIII)
Kinh Chánh xuất gia (Sn 63)
371. Có lòng tin, nghe pháp,
Thấy được quyết định tánh,
Bậc hiền không phe phái,
Giữa rất nhiều phe phái,
Có thể nhiếp phục được,
Tham, sân và hận thù,
Tỷ-kheo ấy chơn chánh
Du hành ở trên đời.
372. Thanh tịnh và chiến thắng,
Kéo lên màn che kín,
Tự tại trong các pháp,
Ðến bờ kia, bất động,
Ðoạn diệt các sở hành,
Thiện xảo trong chánh trí,
Tỷ-kheo ấy chơn chánh
Du hành ở trên đời.
373. Trong những thời quá khứ,
Trong những thời vị lai,
Vượt qua các chủ thuyết,
Trí tuệ thật thanh tịnh,
Với tất cả mọi xứ,
Ðược hoàn toàn giải thoát.
Tỷ-kheo ấy chơn chánh
Du hành ở trên đời.
374. Rõ biết được Pháp cú,
Chứng tri được Chánh pháp,
Thấy được sự mở rộng,
Ðoạn tận các lậu hoặc,
Ðối tất cả sanh y,
Ðược trừ diệt hoàn toàn,
Tỷ-kheo ấy chơn chánh
Du hành ở trên đời.
Người hỏi:
375. Bạch Thế Tôn, chắc chắn,
Thực sự là như vậy,
Tỷ-kheo được chế ngự,
Ðã an trú như vậy,
Ðã nhiếp phục hoàn toàn,
Tất cả các kiết sử,
Tỷ-kheo ấy chơn chánh
Du hành ở trên đời.
Thứ Ba, 11 tháng 11, 2014
GIÁO TRÌNH KINH TẬP SUTTANIPÀTA
Chương Hai - Tiểu Phẩm
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt
(IV) Kinh Ðiềm Lành Lớn
(Kinh Ðại Hạnh Phúc - Mahamangala Sutta) (Sn 46)
Như vầy tôi nghe:
Một thời Thế Tôn trú tại Sàvatthi, ở Jetavana, khu vườn ông Anàthapindika. Rồi một Thiên nhân, khi đêm đã gần mãn, với dung sắc thù thắng chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Ðứng một bên, vị Thiên nhân ấy với bài kệ bạch Thế Tôn:
Thiên nhân:
258. Nhiều Thiên nhân và Người,
Suy nghĩ đến điềm lành,
Mong ước và đợi chờ,
Một nếp sống an toàn,
Xin Ngài hãy nói lên
Về điềm lành tối thượng.
Thế Tôn:
259. Không thân cận kẻ ngu,
Nhưng gần gũi bậc trí,
Ðảnh lễ người đáng lễ
Là điềm lành tối thượng.
260. Ở trú xứ thích hợp,
Công đức trước đã làm,
Chân chánh hướng tụ tâm,
Là điều lành tối thượng.
261. Học nhiều, nghề nghiệp giỏi,
Khéo huấn luyện học tập,
Nói những lời khéo nói
Là điềm lành tối thượng.
262. Hiếu dưỡng mẹ và cha,
Nuôi dưỡng vợ và con,
Làm nghề không rắc rối
Là điềm lành tối thượng.
263. Bố thí, hành đúng pháp,
Săn sóc các bà con,
Làm nghiệp không lỗi lầm
Là điềm lành tối thượng.
264. Chấm dứt, từ bỏ ác,
Chế ngự đam mê rượu,
Trong pháp, không phóng dật
Là điềm lành tối thượng.
265. Kính lễ và hạ mình,
Biết đủ và biết ơn,
Ðúng thời, nghe Chánh pháp
Là điềm lành tối thượng.
266. Nhẫn nhục, lời hòa nhã,
Yết kiến các Sa-môn,
Ðúng thời, đàm luận pháp,
Là điềm lành tối thượng.
267. Khắc khổ và Phạm hạnh,
Thấy được lý Thánh đế,
Giác ngộ quả Niết bàn
Là điềm lành tối thượng.
268. Khi xúc chạm việc đời,
Tâm không động, không sầu,
Không uế nhiễm, an ổn
Là điềm lành tối thượng.
269. Làm sự việc như vậy,
Không chỗ nào thất bại,
Khắp nơi được an toàn,
Là điềm lành tối thượng.
Thứ Hai, 10 tháng 11, 2014
GIÁO TRÌNH KINH TẬP SUTTANIPÀTA
Chương Ba - Đại Phẩm
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt
(XII) Kinh Hai Pháp Tuỳ Quán (Sn 139)
Này các Tỷ-kheo, có thể các Thầy được hỏi thêm nữa như sau:.... "Phàm có khổ gì hiện hữu, tất cả đều do duyên xúc", đây là pháp tùy quán thứ nhất. "Do đoạn diệt, ly tham xúc không có dư tàn, khổ không có hiện hữu", đây là tùy quán pháp thứ hai.
Này các Tỷ-kheo, do Tỷ-kheo chơn chánh tùy quán hai pháp. Bậc Ðạo Sư lại nói thêm:
736. Những ai, xúc chi phối,
Chạy theo dòng sanh hữu,
Những người hành tà đạo,
Xa vời diệt kiết sử.
737. Những ai liễu tri xúc,
Nhờ trí, thích an tịnh,
Do họ thắng tri xúc,
Không dục ái, tịch tịnh.
Này các Tỷ-kheo, có thể các Thầy được hỏi thêm nữa như sau:... "Phàm có khổ gì hiện hữu, tất cả đều do duyên thọ", đây là pháp tùy quán thứ nhất. "Do đoạn diệt, ly tham thọ không có dư tàn, khổ không có hiện hữu", đây là tùy quán pháp thứ hai. Này các Tỷ-kheo, do Tỷ-kheo chơn chánh tùy quán hai pháp.
Bậc Ðạo Sư lại nói thêm:
738. Với lạc thọ, khổ thọ,
Hay bất khổ, bất lạc;
Nội thọ và ngoại thọ,
Phàm có cảm thọ gì.
739. Biết được đây là khổ,
Giả dối bị hủy hoại.
Thấy các xúc hoại diệt,
Như vậy, đây ly tham,
Tỷ-kheo diệt các thọ,
Không dục ái, tịch tịnh.
Này các Tỷ-kheo, có thể các Thầy được hỏi thêm nữa như sau:... "Phàm có khổ gì hiện hữu, tất cả đều do duyên ái", đây là pháp tùy quán thứ nhất. "Do đoạn diệt, ly tham ái, không có dư tàn, khổ không có hiện hữu", đây là tùy quán pháp thứ hai. Này các Tỷ-kheo, do Tỷ-kheo chơn chán tùy quán hai pháp.
Bậc Ðạo Sư lại nói thêm:
740. Người có ái bạn đường,
Bị luân chuyển dài dài,
Ðến hữu này, hữu khác,
Luân chuyển không dừng nghỉ.
741. Do biết nguy hiểm nầy,
Chính ái tác thành khổ,
Ly ái, không chấp thủ,
Chánh niệm, Tỷ-kheo hành.
Này các Tỷ-kheo, có thể các Thầy được hỏi thêm nữa như sau:.... "Phàm có khổ gì hiện hữu, tất cả đều do duyên thủ", đây là pháp tùy quán thứ nhất. "Do đoạn diệt, ly tham thủ không có dư tàn, khổ không có hiện hữu", đây là tùy quán pháp thứ hai. Này các Tỷ-kheo, do Tỷ-kheo chơn chánh tùy quán hai pháp.
Bậc Ðạo Sư lại nói thêm:
742. Do duyên thủ, có hữu,
Do hữu, đi đến khổ,
Từ sanh nên có chết,
Ðây hiện hữu của khổ.
743. Do vậy, bậc Hiền trí,
Diệt thủ, nhờ chánh trí,
Nhờ thắng trí sanh diệt,
Không đi đến tái sanh.
Này các Tỷ-kheo, có thể các Thầy được hỏi thêm nữa như sau:... "Phàm có khổ gì hiện hữu, tất cả đều do duyên khởi xướng", đây là pháp tùy quán thứ nhất. "Do đoạn diệt ly tham khởi xướng không có dư tàn, khổ không có hiện hữu", đây là tùy quán pháp thứ hai. Này các Tỷ-kheo, do Tỷ-kheo chơn chánh tùy quán hai pháp.
Bậc Ðạo Sư lại nói thêm:
744. Phàm khổ gì hiện hữu,
Tất cả duyên khởi xướng,
Do đoạn diệt khởi xướng,
Khổ không có hiện hữu.
745. Do biết nguy hiểm này,
Khổ do duyên khởi xướng,
Từ bỏ mọi khởi xướng,
Không khởi xướng, giải thoát.
746. Do đoạn tận hữu ái,
Tâm Tỷ-kheo tịch tịnh,
Vượt khỏi sanh luân chuyển
Vị ấy không tái sanh.
Này các Tỷ-kheo, có thể các Thầy được hỏi thêm nữa như sau:... "Phàm có khổ gì hiện hữu, tất cả đều do duyên thức ăn", đây là pháp tùy quán quán thứ nhất. "Do đoạn diệt, ly tham thức ăn không có dư tàn, khổ không có hiện hữu", đây là tùy quán pháp thứ hai. Này các Tỷ-kheo, do Tỷ-kheo chơn chánh tùy quán hai pháp.
Bậc Ðạo Sư lại nói thêm:
747. Phàm khổ gì hiện hữu,
Tất cả duyên thức ăn,
Do đoạn diệt thức ăn,
Khổ không có hiện hữu.
748. Do biết nguy hiểm này,
Khổ do duyên thức ăn,
Liễu tri mọi thức ăn,
Không y mọi thức ăn.
749. Nhờ chánh trí không bệnh,
Ðoạn diệt các lậu hoặc,
Thọ dụng các thức ăn,
Giác sát, trú Chánh pháp,
Vị đạt được trí tuệ,
Không rơi vào ước lượng.
Này các Tỷ-kheo, có thể các Thầy được hỏi thêm nữa như sau:... "Phàm có khổ gì hiện hữu, tất cả đều do duyên dao động", đây là pháp tùy quán quán thứ nhất. "Do đoạn diệt, ly tham dao động không có dư tàn, khổ không có hiện hữu", đây là tùy quán pháp thứ hai. Này các Tỷ-kheo, do Tỷ-kheo chơn chánh tùy quán hai pháp.
Bậc Ðạo Sư lại nói thêm:
750. Phàm khổ gì hiện hữu,
Tất cả duyên dao động,
Do đoạn diệt dao động,
Khổ không có hiện hữu.
751. Do biết nguy hiểm này,
Khổ do duyên dao động,
Do vậy, bỏ dao động,
Chận dừng lại các hành,
Không có gì chướng ngại
Không chấp thủ, chánh niệm,
Vị Tỷ-kheo bộ hành,
Khắp tất cả chân trời.
Này các Tỷ-kheo, có thể các Thầy được hỏi thêm nữa như sau:... "Ai có nương tựa, thì bị dao động", đây là pháp tùy quán quán thứ nhất. "Ai không có nương tựa, không bị dao động", đây là pháp tùy quán thứ hai. Này các Tỷ-kheo, do Tỷ-kheo chơn chánh tùy quán hai pháp.
Bậc Ðạo Sư lại nói thêm:
752. Không nương tựa, không động,
Nương tựa có chấp thủ,
Chấp hữu này, hữu khác,
Không chinh phục luân chuyển.
753. Sau khi rõ biết được,
Nguy hiểm tai hại nầy,
Trong các sự nương tựa,
Có sợ hãi lớn lao,
Không nương tựa y chỉ,
Không chấp thủ, chánh niệm,
Vị Tỷ-kheo bộ hành,
Khắp tất cả chân trời.
Này các Tỷ-kheo, có thể các Thầy được hỏi thêm nữa như sau: "Có thể có như thế nào?" Này các Tỷ-kheo "Các pháp vô sắc an tịnh hơn các sắc pháp", đây là pháp tùy quán thứ nhất. "Sự đoạn diệt an tinh hơn các pháp vô sắc", đây là pháp tùy quán thứ hai. Này các Tỷ-kheo, do Tỷ-kheo chơn chánh tùy quán hai pháp.
Bậc Ðạo Sư lại nói thêm:
754. Chúng sanh thuộc sắc giới,
Chúng sanh trú vô sắc,
Không tuệ tri đoạn diệt,
Chúng đi đến tái sanh.
755. Những ai liễu tri sắc,
Khéo an trú vô sắc,
Giải thoát trong đoạn diệt,
Họ từ bỏ sự chết.
Này các Tỷ-kheo, có thể các Thầy được hỏi thêm nữa như sau: "Có thể có như thế nào?" Này các Tỷ-kheo, "Cái gì được thế giới với chư Thiên, các Ma, các Phạm thiên, được thế giới này với quần chúng Sa-môn và Bà-la-môn, với chư Thiên và loài Người suy tưởng: "Ðây là sự thật", cái ấy được các vị Thánh khéo thấy như thật với chánh trí tuệ là: "Cái này là hư vọng", đây là pháp tùy quán thứ nhất. Này các Tỷ-kheo, "Cái gì được thế giới với chư Thiên, các Ma, các Phạm thiên, được thế giới này với quần chúng Sa-môn và Bà-la-môn, với chư Thiên và loài Người suy tưởng: "Ðây là hư vọng", cái ấy được các vị Thánh khéo thấy như thật với chánh trí tuệ là: "Cái này là chân thật", đây là pháp tùy quán thứ hai. Này các Tỷ-kheo, do Tỷ-kheo chơn chánh tùy quán hai pháp.
Bậc Ðạo Sư lại nói thêm:
756. Hãy xem thế giới nầy,
Với thế giới chư Thiên,
Hoan hỷ với phi ngã,
An trú trên danh sắc,
Nghĩ rằng danh sắc này
Là chân thật không ngụy.
757. Dầu họ nghĩ thế nào,
Khi danh sắc đổi khác,
Danh sắc là hư vọng,
Giả dối sống tạm bợ,
758. Niết-bàn không hư ngụy,
Bậc Thánh chân thật biết,
Họ thắng tri chân thật,
Không ái dục, tịch tịnh.
Này các Tỷ-kheo, có thể các Thầy được hỏi thêm nữa như sau: "Có thể có như thế nào?" Này các Tỷ-kheo, "Cái gì được thế giới với chư Thiên, các Ma, các Phạm thiên, được thế giới này với quần chúng Sa-môn và Bà-la-môn, với chư Thiên và loài Người suy tưởng: "Ðây là an lạc", cái ấy được các vị Thánh khéo thấy như thật với chánh trí tuệ là: "Cái này là khổ", đây là pháp tùy quán thứ nhất. Này các Tỷ-kheo, "Cái gì được thế giới với chư Thiên, các Ma, các Phạm thiên, được thế giới này với quần chúng Sa-môn và Bà-la-môn, với chư Thiên và loài Người suy tưởng: "Ðây là khổ", cái ấy được các vị Thánh khéo thấy như thật với chánh trí tuệ là: "Cái này là lạc", đây là pháp tùy quán thứ hai. Này các Tỷ-kheo, do Tỷ-kheo chơn chánh tùy quán hai pháp.
Bậc Ðạo Sư lại nói thêm:
759. Sắc, tiếng, hương, vị, xúc,
Tất cả những pháp này,
Khả lạc, hỷ, khả ý,
Khi nào chúng hiện hữu.
760. Thế giới với chư Thiên
Xem chúng là khả lạc,
Khi chúng bị hoại diệt,
Mới thấy chúng là khổ.
761. Bậc Thánh thấy là lạc,
Khi có thân đoạn diệt,
Ðây hoàn toàn trái ngược,
Ðiều mọi giới được thấy.
762. Ðiều người khác gọi lạc,
Bậc Thánh gọi là khổ,
Ðiều người khác gọi khổ,
Bậc Thánh biết là lạc,
Hãy xem pháp khó biết,
Kẻ không thấy mê mờ.
763. Kẻ bị che, tối tăm,
Kẻ không thấy, tối mù,
Bậc thiện, được rộng mở,
Bậc thấy, được ánh sáng,
Kẻ ngu dầu có gần,
Cũng không biết con đường,
Cũng không có thiện xảo,
Ðối Chánh pháp Phật dạy.
764. Bị hữu tham chiến bại,
Bị trôi theo dòng hữu,
Rơi vào Ma chi phối,
Pháp này khó chánh giác.
765. Ai ngoài các bậc Thánh,
Xứng đáng đạo chánh giác.
Do chánh trí đạo ấy
Chứng vô lậu Niết-bàn.
Thế Tôn thuyết như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỉ tín thọ lời Thế Tôn dạy. Trong khi pháp này được giảng, tâm của hơn sáu mươi Tỷ-kheo giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ.
Thứ Ba, 4 tháng 11, 2014
GIÁO TRÌNH KINH TẬP SUTTANIPÀTA
Chương Ba - Đại Phẩm
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt
(II) Kinh Tinh Cần (Sn 74)
Thế Tôn:
425. Bên sông Ni-liên-thuyền,
Ta tinh cần tinh tấn,
Cố gắng, Ta thiền định,
Ðạt an ổn khổ ách.
426. Ác ma đến gần Ta,
Nói lên lời từ mẫn,
Ông ốm không dung sắc,
Ông đã gần chết rồi.
427. Cả ngàn phần, Ông chết,
Chỉ một phần còn sống,
Hãy sống, sống tốt hơn,
Sẽ làm các công đức.
428. Như Ông sống Phạm hạnh,
Hãy đốt lửa tế tự,
Hãy chất chứa công đức,
Ông tinh tấn làm gì?
429. Khó thay, đường tinh tấn,
Khó làm, khó đạt được.
Ác ma đứng gần Phật,
Nói lên những kệ này.
430. Thế Tôn đã đáp lại
Lời Ác ma như sau:
Bà con ác phóng dật,
Ngươi đến đây làm gì?
431. Với công đức nhỏ bé,
Ta đâu có cần đến?
Với ai cần công đức,
Ác ma đáng nói chúng.
432. Ðây có tín, tinh tấn,
Và Ta có trí tuệ,
Như vậy, Ta tinh tấn,
Sao Ngươi hỏi Ta sống?
433. Gió này làm khô cạn,
Cho đến các dòng sông,
Làm sao khô cạn máu,
Khi Ta sống tinh tấn?
434. Dầu máu có khô cạn,
Mật, đàm Ta khô cạn,
Dầu thịt có hủy hoại,
Tâm Ta càng tịnh tín,
Ta lại càng vững trú,
Niệm, tuệ và thiền định.
435. Do Ta sống như vậy,
Ðạt được thọ tối thượng,
Tâm không cầu các dục,
Nhìn chúng sanh thanh tịnh.
436. Dục, đội quân thứ nhất.
Thứ hai, gọi bất lạc,
Thứ ba, đói và khát,
Thứ tư, gọi tham ái.
437. Năm, hôn trầm thụy miên,
Thứ sáu, gọi sợ hãi,
Thứ bảy, gọi nghi ngờ,
Tám, dèm pha ngoan cố.
438. Lợi, danh và cung kính,
Danh vọng được tà vạy,
Ai tự đề cao mình,
Hủy báng các người khác.
439. Ôi, này Na-mu-ci,
Ðây là quân đội Ngươi,
Ðây quân đội chiến trận,
Của dòng họ Kanhà,
Kẻ nhát, không thắng Ngươi,
Ai thắng Ngươi, được lạc.
440. Ta mang cỏ munja,
Vững thay, đây đời sống,
Thà Ta chết chiến trận,
Tốt hơn, sống thất bại.
441. Bị thấy đắm ở đây,
Số Sa-môn, Phạm chí,
Không biết được con đường,
Bậc giới đức thường đi.
442. Thấy khắp quân đội dàn,
Ác ma trên lưng voi,
Ta bước vào chiến trận,
Không để ai chiếm đoạt.
443. Ðội ngũ quân nhà Ngươi,
Ðời này và chư Thiên,
Không một ai thắng nổi,
Ta đến Ngươi với tuệ,
Như hòn đá dập nát,
Chiếc bát chưa nung chín.
444. Nhiếp phục được tâm tư,
Khéo an trú chánh niệm,
Ta sẽ đi bộ hành,
Nước này qua nước khác,
Ðể huấn luyện rộng rãi,
Cho những người đệ tử.
445. Không phóng dật, tinh cần,
Họ hành lời Ta dạy,
Dầu Ngươi không muốn vậy,
Họ vẫn sẽ đi tới,
Chỗ nào họ đi tới,
Chỗ ấy không sầu muộn.
Ác-ma:
446. Bảy năm, ta bước theo,
Chân theo chân Thế Tôn,
Không tìm được lỗi lầm,
Nơi Thế Tôn chánh niệm.
447. Như quạ bay xung quanh,
Hòn đá như đống mỡ,
Có thể có gì mềm?
Có thể có gì ngọt?
448. Không tìm được gì ngọt,
Quạ từ đó bay đi,
Như quạ mổ hòn đá,
Ta bỏ Gotama.
449. Bị sầu muộn chi phối,
Cây đàn rơi khỏi nách,
Kẻ Dạ-xoa ác ý,
Tại đấy liền biến mất.
Thứ Sáu, 31 tháng 10, 2014
GIÁO TRÌNH KINH TẬP SUTTANIPÀTA
Chương Bốn - Phẩm Tám
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt
(I) Kinh về Dục (Sn 151)
766. Ai ao ước được dục,
Nếu dục được thành tựu,
Chắc tâm ý hoan hỷ,
Ðược điều con người muốn.
767. Nếu người có dục ấy,
Ước muốn được sanh khởi,
Các dục ấy bị diệt,
Bị khổ như tên đâm.
768. Ai tránh né các dục
Như chân tránh đầu rắn,
Chánh niệm vượt thoát được,
Ái triền này ở đời.
769. Người nào tham đắm dục,
Ruộng đất, vàng, bò, ngựa,
Người nô tỳ, phục vụ,
Nữ nhân và bà con.
770. Như người không sức lực,
Bị các dục chinh phục,
Tai họa dẫm đạp nó,
Khổ đau bước theo nó,
Như nước ùa tràn vào,
Chiếc thuyền bị vỡ nát.
771. Do vậy người thường niệm,
Từ bỏ các loài dục,
Bỏ dục, vượt bộc lưu,
Tát thuyền đến bờ kia.
Thứ Năm, 30 tháng 10, 2014
PARIS, ngày 30.10.2014 (PTTPGQT) – Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế xin hân hạnh giới thiệu Bạn đọc Lá Thư Trong Tuần – Tuần thứ Sáu, trình bày về diễn tiến việc tạo mãi Ngôi Chùa Phật Quang, làm cơ sở sinh hoạt cho Văn Phòng II Viện Hoá Đạo và Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất Hải ngoại tại Hoa Kỳ. Giáo hội đã đặt cọc mua với số tiền 220 nghìn Mỹ kim. Chùa nằm trên đại lộ Beach, cách Bolsa năm phút lái xe. Từ đây đến 4 tuần lễ, Giáo hội phải chồng thêm Một Triệu Mỹ kim để kết thúc việc tạo mãi và có nơi sinh hoạt ngay. Nhưng đã có những bàn tay phá hoại việc tạo mãi, không muốn cho Giáo hội có chùa, không muốn cho Phật tử sinh hoạt tôn giáo, không muốn cho Giáo hội chuyển vận ước mơ và ngưỡng vọng thiết tha của người dân Việt ra toàn thế giới. Xin mời Bạn đọc vào Trang Thư thứ Sáu :
Lá Thư Trong Tuần – Tuần 6 :THẮP SÁNG Ý THỨC
và lời kêu gọi KHẨN
Bắc bán cầu đang bước vào mùa thu. Đông phương thường nhìn mùa thu ảm đạm, sầu mị. Tây phương thì thấy mùa thu rực rỡ những chiếc lá thay màu, của thu hoạch mùa màng và lễ hội. Cũng hình ảnh rừng thu pha sắc vàng và đỏ nhưng hai nền văn hoá đông, tây có hai cảm quan riêng biệt. Cũng hình ảnh đó người ta thấy là khởi sắc cũng có người nghĩ là ảm đạm. Cũng khí thu lành lạnh mà khiến kẻ thấy cô liêu, còn có người vui thoát được cái oi bức của mùa hè. Tất cả đến từ nhận thức chủ quan. Mùa thu năm nay Giáo Hội tạo lập ngôi chùa chung. Ngày hoàn tất thủ tục tạo mãi cũng trong khoảng thời gian đại tường Đức Phó Tăng Thống (1). Tối nay Hoà thượng Thích Trí Hoà gọi điện thoại hỏi han chuyện vận động tài chánh. Ngài là cố vấn của Văn Phòng II Viện Hoá Đạo. Sức khoẻ kém nhưng vẫn lo lắng nhiều cho Phật sự tạo mãi ngôi chùa Phật Quang. Mấy ngày trước, một Phật tử từ Atlanta gởi text với dòng chữ nầy : Ngày cũng như đêm, chuyện GHPGVNTN ở trong tâm trí của con. Đọc chừng đó chữ, chúng tôi tự hỏi những thăng trầm của cuộc sống mang lại những điên đảo vọng tưởng hay những tấm lòng cao khiết. Có thể cả hai. Giống như mùa thu cho chúng ta cả hai cách nghĩ hoặc vui hoặc buồn.
TRONG KHỔ NẠN THẤY ĐƯỢC THẾ NÀO LÀ VÔ SỞ UÝ.
Những tháng ngày đầu sau 30 tháng 4 năm 1975 cả miền nam Việt Nam run rẩy trước sự đàn áp bạo tàn. Ai cũng có thể bị tù đày. Tài sản có thể bị tịch biên bất cứ lúc nào. Một lời vô ý cũng có thể là nguyên nhân bị bắt đi biệt tích. Thế mà khi Cô nhi viện Quách Thị Trang bị nhà cầm quyền ngang nhiên chiếm dụng thì vị Tổng thư ký Viện Hoá Đạo (2) đã ra thông tư số 2 phản đối hành động vô pháp, vô cương. Phải sống ở Miền Nam trong giai đoạn đó mới cảm nhận sự quả cảm của một bậc tu hành tay không tấc sắt chỉ tin vào lẽ phải và lên tiếng vì lẽ phải cho dù phải đối mặt với muôn ngàn khổ nạn. Lịch sử Phật giáo mai hậu sẽ ghi lại chính giai đoạn đầy đau thương khổ nạn của Giáo Hội sau năm 1975 đã có những bậc lãnh đạo dám xem nhẹ an nguy của mình để đối diện với bạo lực một cách can đảm. Người ta đã tìm mọi cách dìm các ngài xuống nhưng sẽ không ai xoá đi được sự thật.
CHẤP NHẬN HÀNH TRÌNH ĐƠN ĐỘC
Một thực trạng mà nhiều Phật tử Việt Nam vẫn không mấy quan tâm là cho dù Đạo Phật là một tôn giáo lớn của dân tộc nhưng hiện nay không có được một cơ cấu tổ chức độc lập với nhà nước. Nói cách khác là tổ chức Phật giáo dân lập bị đặt ra ngoài vòng luật pháp. Sự việc rõ nét từ năm 1980 khi nhà cầm quyền thành lập Ban Vận Động Thống Nhất Phật Giáo. Năm 1981 cơ cấu mang tên Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam ra đời trực thuộc sự quản chế của Ban Tôn Giáo nhà nước và là thành viên của Mặt Trận Tổ Quốc. Tất cả tổ chức Phật giáo tại Miền Nam đều phải “tự nguyện giải tán và gia nhập”. Dễ hiểu thôi. Bất tuân là bị đàn áp, tù đày. Một lần nữa hai bậc lãnh đạo (3) của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất từ chối gia nhập. Lại tiếp tục tù đày. Cả hai trải qua nhiều nhà tù rồi cuối cùng bị an trí trong ngôi chùa tại sanh quán của mình. Thái độ như vậy vào thời điểm đó không phải là lựa chọn của số đông. Các Ngài nằm trong số rất ít ỏi quên đi sự an nguy của bản thân chỉ vì đại nghĩa. Những năm tháng kế tiếp là tù đày nối tiếp tù đày. Hành trình đó tuy cô độc nhưng làm toả sáng hùng tâm đại nguyện của người con Phật.
HÀNH ĐỘNG CHÂN CHÍNH PHẢI DỰA TRÊN CÁI NHÌN TOÀN DIỆN
Chiến tranh Việt Nam là một cục diện phức tạp. Tương lai của dân tộc chứa đầy những nan đề. Năm 2001 Hoà thượng viện trưởng Viện Hoá Đạo gởi đi Lời Kêu Gọi Dân Chủ Cho Việt Nam. Bản văn đó không những đề cập đến thực trạng đau thương của đất nước mà còn nêu rõ những nguyên nhân chính yếu và giải pháp cho sự bế tắc. Nói thuần lý thì lời kêu gọi nầy là biểu đạt của hệ luận tứ diệu đế : Đau khổ, nhân sanh khổ, sự diệt khổ và hành trình dẫn đến sự diệt khổ. Cái nhìn toàn diện ở đây rất quan trọng. Ai cũng biết cuộc sống có vấn đề. Nhưng vấn đề thật sự là gì ? Đâu là nguyên nhân ? Đâu là giải pháp ? Đâu là phương cách đạt đến giải pháp đó ? Ba nguyên nhân tạo nên một đất nước nghèo khó, lạc hậu và 8 tám đề nghị cụ thể là nội dung chính của văn kiện. Cái nhìn toàn diện đó rất quan trọng. Những vấn đề được nêu ra không từ quan niệm phe nhóm chống đối mà là đề xuất mang tính xây dựng thực tiễn. Lời kêu gọi cũng nhắm vào người Phật tử Việt Nam với tinh thần vô úy thắp sáng ý thức hộ quốc — hộ dân — hộ pháp. Tôn chỉ đó không phải chỉ mới ghi trong Hiến chương GHPGVNTN đương đại mà xuyên suốt trong giòng lịch sử Phật giáo Việt Nam.
VAI TRÒ DẪN ĐẠO ĐÒI HỎI KHẢ NĂNG TIÊN LIỆU
Tháng 3 năm 2009 vị lãnh đạo GHPGVNTN (4) đưa ra lời phản đối khai thác quặng mỏ bô-xít ở Tây Nguyên. Bên cạnh sự quan tâm về môi trường là lời cảnh báo về nạn ngoại xâm Bắc phương. Nhiều người, kể cả người Việt ở hải ngoại, không tin về một sự xâm lăng mới của Trung Quốc đối với Việt Nam. Có lẽ người ta tin là với sự nhượng bộ tối đa của Đảng Cộng Sản Việt Nam cũng như giao thương mật thiết giữa hai quốc gia thì sự xâm lăng bằng vũ lực sẽ rất khó xẩy ra. Bây giờ thì đó không phải là điều đáng lo mà là sự thật hiển nhiên. Đây là một trong nhiều thí dụ cho thấy về cái nhìn xa của chư tôn lãnh đạo Hội Đồng Lưỡng Viện. Tất cả những tiên liệu về vận nước và nội tình Giáo Hội đều cho thấy mức chính xác đáng kinh ngạc. Dự đoán được những tình huống xấu sắp xẩy ra và cương quyết có biện pháp cụ thể không phải là điều dễ dàng trong cương vị lãnh đạo. Sự khẳng khái chấp nhận búa rìu của công luận để giữ vững con thuyền Giáo Hội chưa bao giờ gặp nhiều thách thức như trong mười năm qua.
HÌNH ẢNH CỦA MỘT CỘI TÙNG
Có những lần đi dọc miền duyên hải bắc California nhìn thấy những cây tùng, cây bách trơ gan cùng phong ba tuế nguyệt. Bỗng nhiên nhớ tới những con người trong cơn bão loạn vẫn kiên cường gìn giữ những giá trị cao đẹp. Lịch sử của Giáo Hội trong bốn thập kỷ qua đầy những cuồng phong bão tố. Thấp thoáng trong đó là hình ảnh của Hoà thượng Thích Huyền Quang và Hoà thượng Thích Quảng Độ. Bây giờ Đức Đệ Tứ Tăng Thống đã đi rồi chỉ còn Đức Đệ Ngũ Tăng Thống. Cuộc đời của Đức đương kim Tăng thống không đơn giản để điểm xuyến bằng chức vị, bằng những công trình sọan dịch trước tác to lớn, bằng tiếng nói ảnh hưởng sâu rộng trên các diễn đàn quốc tế. Sẽ là một thiếu sót lớn nếu quên đi sự chánh trực, bất khuất, trí tuệ sắc bén của Ngài. Để thấy rõ điều đó chỉ cần nhìn lại những biến cố trên sẽ thấy được phần nào tâm thái của một người sống vì lẽ phải, vì lợi lạc của nhân quần. Sự nghiệp tinh thần của Ngài chính là tài sản vô giá của tất cả chúng ta.
CON SỐ CỦA TUẦN NẦY
Khởi sự viết lá thư số 6 thì riêng đoạn nầy thay đổi vào phút chót. Phía bên bán vừa có yêu cầu là trong tuần nầy Giáo Hội phải có giấy tờ chứng minh là đã có đủ một triệu Mỹ kim trong chương mục. Mặc dù theo khế ước mua bán thì tới cuối tháng 11-2014 mới là ngày phải giao đủ số tiền. Trong lịch trình vận động tài chánh thì chúng ta mới hoàn tất hai nơi trong số mười một điểm gây quỹ và còn 4 tuần lễ để tiếp tục kêu gọi sự đóng góp. Chúng ta hoàn toàn tin là sẽ đủ số tiền sau bốn tuần lễ nữa. Nhưng phía bên bán đang bị tác động bởi những người nào đó cho thấy là Giáo Hội sẽ không bao giờ hoàn tất việc tạo mãi với số tiền đã hứa. Ở đây, phải chăng “những người nào đó” là những kẻ mong cầu cho Giáo hội không có chùa, Phật tử không có nơi sinh hoạt tôn giáo, và chuyển vận ngưỡng vọng thiết tha của người dân Việt ra thế giới ? Vấn đề trở nên cấp bách. Xin khẩn thiết kêu gọi tất cả những cơ sở đơn vị, những Phật tử hữu tâm đã hứa cúng dường hoặc cho mượn, xin nhanh chóng gởi về văn phòng Giáo Hội hay deposit thẳng vào chương mục của Văn Phòng II Viện Hoá Đạo (5). Đồng thời xin kêu gọi khắp nơi mạnh mẽ hơn nữa trong sự tiếp tay vận động tạo mãi ngôi chùa chung. Chúng ta sẽ vượt qua khó khăn to lớn nhưng nhất thời nầy bằng sự thắp sáng ý thức. Cũng như nhân loại có nhiều cách nhìn về mùa thu. Đối với chúng ta tất cả trở lực chỉ là cơ hội tôi luyện thiện tâm, vun bồi phước hạnh.
Houston 29.10.2014
Tỳ Kheo Thích Giác Đẳng
Tỳ Kheo Thích Giác Đẳng
Mọi sự giúp đỡ tài chánh xin gởi về :
Trong nước : Tiền bạc ủng hộ hay cho mượn xin gởi về :
- HT. Thích Nguyên Lý
Chùa Từ Hiếu, 59 lô D, đường Dương Bá Trạc, P1. Q8
Thành phố Hồ Chí Minh
Điện thoại : 0908 217 533
Email : nguyenly2550@yahoo.com
Ở Hải ngoại : Tiền bạc ủng hộ hay cho mượn, xin viết Ngân phiếu đề tên“Van Phong II Vien Hoa Dao”và gửi về địa chỉ :
- Văn Phòng II Viện Hoá Đạo GHPGVNTN
Chùa Pháp Luân
13913 S. Post Oak Blvd, Suite B
Houston, TX 77045
Hoa Kỳ / USA
Tel : (281) 216 3588
Email : ghpgvntn@gmail.com(Tất cả mọi ngân phiếu nhận được sẽ có hồi báo để làm bằng)
Tiền đóng góp của chư liệt vị sẽ được trừ thuế theo quy chế “Non-profit – Bất vụ lợi” của tổ chức GHPGVNTN.
Hoặc trực tiếp gởi vào chương mục của Giáo hội :
Hoặc trực tiếp gởi vào chương mục của Giáo hội :
- VAN PHONG II VIEN HOA DAO
CHASE BANK
ACC. 610595337SWIFT code CHASUS33
ROUTING No. 111000614
KINH TẬP
SUTTANIPÀTA
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt
Chương Ba- Đại Phẩm
(VI)
Kinh Sabhiya (Sn 91)
528. Sabhiya hỏi rằng:
Tôn giả Gotama,
Do đạt được những gì
Ðược gọi bậc có trí?
Nhờ gì, gọi tùy trí?
Thế nào xưng tinh tấn?
Thế nào được danh xưng,
Là vị đã thuần thục?
Ðược con hỏi như vậy,
Mong Thế Tôn trả lời.
Thế Tôn:
529. Thế Tôn liền đáp lại:
Hỡi này Sabhiya,
Ai quán sát Vệ-đà,
Hoàn toàn và toàn diện,
Ðược Sa-môn, Phạm chí,
Ðạt được rất đầy đủ,
Vị ấy gọi ly tham,
Trong tất cả cảm thọ,
Do vượt qua Vệ-đà,
Ðược gọi bậc Vệ-đà?
530. Do quán sát, quán triệt,
Các hý luận, danh sắc,
Kể cả nội và ngoại,
Về cội gốc bệnh hoạn,
Vị ấy thoát trói buộc,
Cội gốc các bệnh hoạn,
Vị đức tánh như vậy
Ðược gọi vị rõ biết
531. Vị ở đời từ bỏ
Tất cả các pháp ác,
Với tinh tấn vượt qua,
Mọi khổ đau địa ngục,
Vị ấy có tinh tấn,
Có tinh cần, siêng năng,
Vị đức tánh như vậy,
Ðược gọi vị có trí.
532. Với ai các trói buộc,
Bị bựt đứt, huỷ hoại,
Nguồn gốc các tham ái,
Vị ấy được giải thoát,
Khỏi tất cả gốc tham,
Vị đức tánh như vậy,
Ðược gọi vị thuần thục.
Rồi du sĩ
Sabhiya.. lại hỏi Thế Tôn thêm câu hỏi nữa:
Sahiya:
533. Sabhiya hỏi rằng:
Tôn giả Gotama,
Do đạt được những gì,
Ðược gọi vị được nghe?
Nhờ gì, gọi bậc Thánh?
Sở hành như thế nào,
Như thế nào được tên,
Là một người du sĩ?
Ðược con hỏi như vậy,
Mong Thế Tôn trả lời.
Thế Tôn:
534. Thế Tôn bèn đáp lại:
Hỡi này Sabhiya!
Do ở đời được nghe,
Thắng tri tất cả pháp,
Pháp có lỗi, không lỗi,
Phàm mọi pháp ở đời,
Là vị đã chiến thắng,
Ðoạn nghi, được giải thoát,
Trọn vẹn không dao động,
Ðược gọi, vị có nghe.
535. Sau khi đoạn, chặt đứt,
Mọi lậu hoăc chấp trước,
Vị ấy sau khi biết
Không đi đến thai tạng,
Ðoạn trừ và từ bỏ,
Ba loại tưởng bùn nhơ,
Không đi vào thời kiếp,
Ðược gọi là bậc Thánh.
536. Vị nào ở nơi đây,
Thành tựu các giới hạnh,
Thiện xảo mọi lãnh vực,
Rõ biết được Chánh Pháp,
Cùng khắp cả mọi nơi,
Không chấp trước, giải thoát,
Không sân hận một ai,
Ðược gọi là có hạnh.
537. Ai không làm các nghiệp
Ðưa đến quả đau khổ
Phía trên và phía dưới,
Bề ngang và chặng giữa,
Sống với sự liễu tri,
Từ bỏ, không chấp nhận,
Man trá và kiêu mạn,
Tham ái và phẫn nộ,
Làm cho đến cùng tận,
Cả danh và cả sắc,
Vị này đã đạt được,
Tên gọi là du sĩ.
Rồi du sĩ
Sabhiya hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy; hoan hỷ, hân
hoan, phấn chấn, hỷ duyệt sanh khởi, từ chỗ ngồi đứng dậy,
đắp thương y vào một bên vai, chấp tay hướng đến Thế Tôn,
trước mặt Thế Tôn, thốt lên những câu kệ thích đáng:
538. Ôi, bậc tuệ rộng lớn!
Nhiếp phục sự tụ họp,
Các Sa-môn tranh luận,
Có đến sáu (mươi) ba thuyết,
Các ngôn thuyết văn tự,
Y đây các tưởng khởi,
Vị ấy vượt qua được,
Dòng nước mạnh sanh tử.
539. Ngài đi đến tận cùng,
Ðến bờ kia đau khổ,
Bậc La-hán, Chánh Giác,
Con nghĩ Ngài lậu tận,
Ngài chói sáng, thông minh.
Với trí tuệ rộng lớn,
Ngài đoạn tận đau khổ,
Ðưa con qua bờ kia.
540. Ngài thấy, Ngài biết rõ
Những điều con nghi ngờ,
Ngài giúp con vượt qua,
Con xin đảnh lễ Ngài,
Bậc ẩn sĩ đạt được,
Con đường thật an tịnh,
Ôi, bà con mặt trời!
Không hoang vu, nhu hòa.
541. Ðiều xưa con nghi ngờ,
Ðều được Ngài giải đáp,
Ôi, bậc có Pháp nhân!
Ngài thật là ẩn sĩ
Bậc Chánh Ðẳng, Chánh Giác,
Ngài không còn triền cái.
542. Với Ngài, mọi ưu não,
Ðược phá tan, đoạn diệt,
Ngài tịnh tịch, chế ngự,
Tâm kiên trì, thành thực.
543. Ngài là bậc long tượng,
Trong các hàng long tượng,
Ngài là đại anh hùng
Chư Thiên đều hoan hỷ,
Cả hai Nàrada,
Và cả Pabbatà,
Ðều hoan hỷ tín thọ,
Lời thuyết giảng của Ngài.544. Chúng con xin đảnh lễ,
Con người thuần thục nhất,
Chúng con xin đảnh lễ,
Con người tối thượng nhất,
Trong cảnh giới Trời, Người,
Không ai sánh được Ngài,545. Ngài chính là Ðức Phật,
Ngài chính là Ðạo Sư,
Ngài là bậc ẩn sĩ,
Ðã chiến thắng Ác ma,
Ngài chặt đứt tuỳ miên,
Ðã vượt qua sanh tử,
Ngài giúp chúng sanh này,
Vượt qua bể sanh tử.546. Ngài vượt khỏi sanh y,
Ngài phá tan lậu hoặc,
Ngài là bậc sư tử,
Không chấp thủ, chấp trước,
Mọi sợ hãi, hoảng hốt,
Ngài đoạn tận, trừ diệt.
547. Như hoa sen tươi đẹp.
Nước không thể dính vào,
Cũng vậy cả thiện ác,
Cả hai không dính Ngài,
Ôi anh hùng vĩ đại,
Xin Ngài duỗi chân ra,
Sabhiya chúng con,
Ðảnh lễ bậc Ðạo Sư.
Rồi du sĩ
Sabhiya lấy đầu đảnh lễ chân Thế Tôn và bạch Thế Tôn:
- Thật vi
diệu thay, bạch Thế Tôn!... Con xin quy y Thế Tôn, Pháp và
chúng Tỷ-kheo. Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn cho con được xuất
gia với Thế Tôn, mong cho con thọ đại giới.
- Này
Sabhiya, ai trước kia thuộc ngoại đạo, nay xin xuất gia,
xin thọ đại giới trong Pháp Luật này cần phải sống biệt trú
trong bốn tháng. Sau bốn tháng, nếu tâm các Tỷ-kheo thỏa
thuận, có thể cho vị ấy xuất gia, cho thọ đại giới để thành
vị Tỷ-kheo. Nhưng ở đây, Ta biết sự sai biệt giữa các chúng
sanh.
- Bạch Thế
Tôn, nếu những ai trước kia thuộc ngoại đạo, nay xin xuất
gia, xin thọ đại giới trong Pháp Luật này, sống biệt trú bốn
tháng. Sau bốn tháng, nếu tâm các Tỷ-kheo thỏa thuận, có thể
cho vị ấy xuất gia, cho thọ đại giới để thành vị Tỷ-kheo,
con sẽ sống biệt trú bốn năm. Sau bốn năm, nếu tâm con thỏa
thuận hãy cho xuất gia, cho con thọ đại giới để trở thành
Tỷ-kheo.
Du sĩ
Sabhiya được xuất gia với Thế Tôn, được thọ đại giới...
rồi Tôn giả Sabhiya trở thành một vị A-la-hán.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)