Thứ Bảy, 28 tháng 7, 2007

No. 1491 NEW (Minh Châu dịch)

Hoạt động Phật sự của một danh tài điện ảnh Hoa Kỳ

Ngày 23 tháng 7, 2007

Glouster, Massachusetts (Hoa Kỳ) -- Lindsey Crouse, một minh tinh điện ảnh và đài truyền hình, quê quán tại Annisquam, đã tìm ra con đường tâm linh mà bà muốn chia xẻ với cư dân vùng Cape Ann.

Gần ba năm trước đây bà đã tổ chức một chương trình Phật học để phổ truyền sự hiểu biết và sự thanh thản mà đạo Phật đã đem đến cho bà.

Thiện chí của bà đã được sự hưởng ứng nồng nhiệt của cộng đồng ngoài dự kiến của bà. Hiện bà đang chuẩn bị cho khóa tu học hàng năm lần thứ ba tại Windhover, Rockport từ 20 đến 26 tháng 8.

Có khoảng 30 người đã ghi danh 3 tuần trước khóa tu đầu tiên năm 2005. Bà nói ‘Tôi đã biết chắc rằng có rất nhiều người ưa thích tu học, nhưng tôi cần phải loan tin này ra. Sau khi bài viết được đăng trên tờ báo địa phương, 250 người đã gọi cho tôi trong vòng một tuần rưỡi sau đó. Đây là một sự hưởng ứng không thể ngờ được. Tuy nhiên điều làm cho tôi hăng hái hơn là những câu chuyện được mọi người trút ra đối với một nhân vật hoàn toàn xa lạ’.

Họ kể cho bà Crouse nghe những mẫu chuyện khó khăn của gia đình, cái chết của người thân, sự bất lực trong việc duy trì quan hệ tình cảm, sự hoang mang của họ về ý nghĩa cuộc sống, sự khao khát một ‘cuộc dừng chân’.

Từ hạt giống ấy nảy sinh một phong trào tại địa phương được nhuận sắc với sự tham gia của tín đồ từ mọi tôn giáo.

Khoá tu đầu tiên nhằm xóa tan mọi hiểu lầm về việc hành trì theo Phật giáo. Khóa tu năm vừa qua chú trọng về tâm từ. Chủ đề năm nay là sự an lạc.

Bà Crouse cho biết ‘Nhiều điều đã xảy ra do kết quả của hai khóa tu học trước. Lạt ma Brian Smith và cư dân vùng Cape Ann hiện là một đoàn thể trân quý lẫn nhau. Sư rất yêu thích thời gian giảng dạy tại đây, và cũng rất yêu mến các học viên của mình nên Sư đã hứa sẽ đến đây một năm ba lần. Mọi người đã nhiệt tình đáp ứng lại lối giảng dạy nồng nhiệt, khéo léo và siêu việt của Sư, và nhận ra rằng những lời dạy của Sư có lợi ích trực tiếp đến cuộc sống của họ’.

Sư Smith là một tu sĩ Phật giáo Tây Tạng có tiếng tăm và cũng là học giả về tiếng Sanskrit, đã từng là giáo sư tôn giáo tại Đại học Columbia và Đại học California tại Riverside.

Khi Sư trở về để dạy 4 buổi tối tại Rockport Community Center tháng 12 vừa qua, có gần 400 người đã đến tham dự, đây là một điều đáng ngạc nhiên đối với thời điểm bận rộn trong năm.

Sau khi hoàn tất các buổi giảng, bà Crouse đã tổ chức một buổi họp mặt tại tư gia của bà cho những ai muốn tìm hiểu sâu thêm về cách áp dụng Phật Pháp vào đời sống. Bà nói ’60 người đã chen chúc trong căn phòng khách nhỏ bé của tôi ở Annisquam’. Bà nói rằng cuộc đời của bà đã thay đổi do kết quả của việc bà làm tại đây. ‘Đối với cá nhân tôi, đây là sự thành tựu một ước mơ. Bốn năm trước, tôi đã ngồi trong một lớp học vốn là căn phòng trọ nhỏ tại Venice Beach của Sư Brian Smith lúc chưa xuất gia, và điều làm cho tôi kinh ngạc là nơi mà tôi yêu thích nhất trên đời - Cape Ann - lại là một địa điểm tuyệt vời để Sư đến đây giảng dạy...

-----------------------------------------------------------------------------

No. 1492 NEW (Hạt Cát dịch)

Thái Lan: Đương kim Thái Tử cúng dường tăng y

cho 7,476 tu sĩ thọ đại giới trên toàn quốc

The Nation, July 26, 2007

Bangkok, Thailand -- Đương Kim Thái Tử Thái Lan, Ngài Maha Vajiralongkorn đã ân cần dâng tặng 89 bộ tam y đến cho chư tăng trong buổi lễ thọ đại giới của 7,476 tu sĩ trên toàn quốc để mừng khánh thọ đức Vua.

Bộ phận Tôn Giáo Tín Ngưỡng thuộc bộ Văn Hóa đã cử hành một buổi lễ tại Chùa Bovornnivet hôm thứ Sáu để tiếp nhận tăng y do hoàng gia dâng tặng dành cho tu sĩ được tuyển trạch tham dự đại giới đàn toàn quốc được Bộ Tôn Giáo Tín Ngưỡng, Văn Phòng Phật Giáo Quốc Gia và các cơ quan liên hệ chủ tọa.

Thư Ký thường trực của Bộ Văn Hóa, Ông Veera Rojanapojanarat nói con số 7476 vị gồm có 89 vị của mỗi tỉnh trong 75 tỉnh và kể cả 89 vị của mỗi ngôi chùa trong số 9 ngôi chùa là Wat Bonornnivet, Wat Saket, Wat Chanasongkhram, Wat Pak Nam, Wat Trimitwittayaram, Wat Suthatthepvararam, Wat Phrachetupon Wimolmangklaram, Wat Yannawa and Wat Rama 9.

Nghi thức thế phát được dự trù thực hiện vào ngày 26 tháng Bảy, và buổi lễ thọ Cụ Túc giới sẽ được tổ chức ngày hôm sau đó.

Tam Y hoàng gia dâng tặng sẽ được đưa đến cho vị Sư Tế Độ, người chịu trách nhiệm về những tu sĩ mới, tại mỗi tỉnh và mỗi trung tâm trong số chín ngôi chùa trung ương, Veera nói thêm.

Những ai mong muốn được cúng dường để yểm trợ nghi lễ này hãy liên lạc với Bộ phận Tín Ngưỡng Tôn giáo trực thuộc Bộ Văn Hóa.

Thứ Sáu, 27 tháng 7, 2007


Nhật Hành

Ngày: 27 tháng 07 năm 2007

Giảng Sư: TT Giác Đẳng

Giảng Sư Điền khuyết: ...

Tri chúng: PT Bích Thu

Môn học:

Bài học: Kinh Tương Ưng - II. Puta (S.iv,306).


Vị Tăng hoặc Ni nói lời cầu nguyện đầu lớp học: ĐĐ Minh Hạnh

Xướng ngôn viên: Vo Thuong09, TN Nhu Nguyen, Dieu Nghiem (tin tức), Sangkhaly, và các Ops.
http://www.phapluan.net &
http://bandieuhanh.blogspot.com

Người mở room: Tinh Tan, Bich Thu.

Người mở nhạc và kinh tụng: Tinh Tan, Bich Thu.

Người hoán chuyển bài và làm banner cho Room: TN Nhu Nguyen.

Người post bài cho Room: NguonDucHanh, Mi Yoen (Các Ops đk).

Người gửi bài riêng cho chư Tăng: TN Nhu Nguyen, Bich Thu.

Trực room (op): Các Ops.

Thông báo (nếu có): Chị Upekha bận xin nghỉ phép.
Bài Đọc ngày Thứ Sáu của MC

Phần I: Lễ Tam Bảo, Phần này đọc sau khi dứt kinh tụng


Namo Buddhaya
Con ............. (................ điền khuyết) thành kính đảnh lễ Chư Tôn Ðức Tăng Ni, thân chào tất cả quí vị hiện diện. Hôm nay Thứ Sáu, ngày 27 tháng 07 năm 2007 Phật lịch 2551. Ðây là chương trình Phật Học trực tiếp thực hiện trên Paltalk mỗi ngày, giờ VN nhằm 7:30 đến 10:00 tối, giờ Houston 7:30 đến 10:00 sáng, giờ NY từ 8:30 đến 11:00 sáng, giờ Cali 5:30 đến 8:00 sáng, giờ Paris 2:30 đến 5:00 chiều, giờ Sydney 10:30 tối đến 1:00 sáng.

Kính thưa quý vị hôm nay lớp học do TT Giác Đẳng thuyết giảng Bài Kinh Tương Ưng - II. Puta (S.iv,306). Chúng ta sẽ có chương trình tiếp theo là Chư Tăng thảo luận, Câu đố và kết thúc với bản tin Phật Giáo.

Mở đầu chương trình xin tất cả chúng ta trang nghiêm tam nghiệp đảnh lễ Tam Bảo.

Chúng con xin kính thỉnh Đại Đức Minh Hạnh đọc kinh Lễ Tam Bảo hôm nay. Namo Buddhaya.

(Đại Đức Minh Hạnh)

Nhất tâm đảnh lễ Ðức Như Lai bậc Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Ðiều Ngự, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.

Nhất tâm đảnh lễ Chánh Pháp do Phật thiện thuyết, thiết thực hiện tiền, vượt ngoài thời gian, đến để chứng nghiệm, hiệu năng hướng thượng, trí giả thân chứng.

Nhất tâm đảnh lễ Chư Tăng đệ tử Thế Tôn bậc diệu hạnh, trực hạnh, như lý hạnh, chân chánh hạnh, gồm bốn đôi tám vị, đáng nhận lễ phẩm, tặng phẩm, tế phẩm, kính lễ, là phước điền vô thượng trong đời.

Nguyện cầu uy đức Phật Bảo
Nguyện cầu uy đức Pháp Bảo
Nguyện cầu uy đức Tăng Bảo
Xin Tam Bảo gia hộ
Ngăn ngừa mọi tai ương
Những hiện tượng bất tường
Những mộng mị xấu xa
Những nghịch duyên trở ngại
Thảy đều mau tan biến
Nguyện muôn loài chúng sanh
Người khổ xin hết khổ
Người sợ hết sợ hãi
Người sầu hết sầu bi
Biết cho với niềm tin
Biết hộ trì giới hạnh
Biết lạc trú trong thiền
Chư thiên đã vân tập
Xin tùy hỷ phước lành
Ðược cát tường như ý
Rồi phản hồi thiên xứ
Chư Toàn Giác đại lực
Chư Ðộc Giác đại lực
Thinh Văn Giác đại lực
Nguyện tổng trì uy đức
Cầu phúc lành phát sanh (lạy)
*****************************
___________________________________________________

(Phần I (Tiếp theo): ............... (.............. điền khuyết) )

Kính tri ân Sư Minh Hạnh.
Kính bạch chư tôn đức
Kính thưa đại chúng

Bài Học hôm nay:

Tương Ưng Bộ - Samyutta Nikaya

II. Puta (S.iv,306)
____________

Chúng con kính cung thỉnh Sư Trưởng từ bi dẫn nhập bài học hôm nay. Namo Buddhaya.

Phần II:



A. Toát yếu bài kinh

Một thời Đức Thế Tôn trú ở Vương Xá, tại Trúc lâm, chỗ nuôi dưỡng các con sóc. Vũ kịch sư Talaputa đến đảnh lể Thế Tôn, ngồi xuống một bên và bạch rằng các vị Đạo sư, Tổ sư thuở xưa nói rằng nhà vũ kịch, trên sân khấu, giữa kịch trường, với các điệu bộ giả sự thật làm cho quần chúng vui cười, thích thú, khi thân hoại mạng chung sẽ được cộng trú với chư thiên hay cười (Pahasādeve). Ở đây Đức Thế Tôn nói như thế nào ?

Đức Thế Tôn trả lời:

- Thôi vừa rồi, này thôn trưởng. Hãy dừng ở đây. Chớ có hỏi ta về điều này.

Talaputa hỏi lần thứ hai, Đức Phật vẫn trả lời như thế. Talaputa hỏi đến lần thứ ba, Đức Phật trả lời qua hai điểm:

1. Đối với những loài hữu tình thuở trước chưa đoạn trừ được lòng tham, sân, si nếu nhà vũ kịch tập trung những pháp hấp dẫn sẽ khiến cho lòng tham, sân, si của họ càng tăng thịnh.

2. Đối với người tự mình đắm say, phóng dật, làm người khác đắm say, phóng dật, khi thân hoại mạng chung sẽ bị sanh vào địa ngục hý tiếu (Pahāso). Nếu người ấy có tà kiến người vũ kịch nào, trên sân khấu hay giữa kịch trường, với các điệu bộ giả sự thật, làm quần chúng vui cười, thích thú, người ấy sau khi thân hoại mạng chung sẽ sanh cọng trú với chư thiên hay cười, tà kiến này sẽ đưa người ấy vào một trong hai sanh thú là địa ngục hoặc súc sanh.

Nghe lời giảng dạy vi diệu của Đức Phật, vũ kịch sư Talaputa khóc vì lâu nay ông đã bị các Đạo sư, Tổ sư lừa dối. Talaputa xin thọ trì Tam quy và đại giới và xin xuất gia với Đức Phật. Thọ đại giới không bao lâu, Tôn giả Talaputa trở thành một vị A-la-hán.

Chúng con kính cung thỉnh TT Giác Đẳng từ bi thuyết giảng bài học hôm nay. Namo Buddhaya.



B. Xuất xứ và tên bài kinh


...

Trong Budsas:

http://www.zencomp.com/greatwisdom/uni/u-kinh-tuongungbo/tu4-42.htm

Nhân danh và địa danh

...



C. Thảo Luận

4 ý chính của bài học hôm nay:

a. "Nghề" cũng là "nghiệp" của mỗi chúng sanh.

b. Cái gì làm vui cuộc đời không nhất thiết là hoàn toàn tốt.

c. Tự mình phóng túng, khiến người khác phóng túng là nhân sanh vào cõi khổ.

d. Chấp kiến tà vạy cũng là một nguyên nhân sanh vào cảnh khổ.

5 Câu thảo luận của bài học hôm nay:

1. Thế nào là "phóng dật - pamado và không phóng dật - appamado" ?

2. Người ta nói "Phật dụng lòng", nếu có thiện chí mà hành động không hợp lẽ đạo thì quả báo thế nào ?

3. Tà kiến có nhất thiết nằm trong khuôn khổ của thường kiến và đoạn kiến không ?

4. Ðức Phật có phủ nhận tất cả giá trị của văn hóa nghệ thuật chăng ?

5. Trên phương diện nghiệp báo, nghệ nhân có trách nhiệm thế nào với người thưởng ngoạn ?




D. Đố vui

1. Những nghệ thuật nào dưới đây không tìm thấy trong các nền văn hóa Ðạo Phật:

a. Ðiêu khắc.
b. Âm nhạc.
c. Kiến trúc.
d. Binh pháp.

2. Nếu có người qui kết là: "nấu ăn ngon là một nghiệp bất thiện vì làm người ăn tham đắm". Lời nói đó đối với Phật Pháp đúng hay sai ?

a. Ðúng, vì nấu ăn ngon làm cho người ăn tham đắm là nghiệp bất thiện.
b. Sai, vì ăn uống là một nhu cầu cần thiết.
c. Sai, vì sự tham đắm là ở người ăn, không thể nói là tại người nấu, đã tham đắm thì thế nào cũng tham đắm được.
d. Câu b và c đúng.

Chúng con kính cung thỉnh ... từ bi giới thiệu bài học ngày mai. Namo Buddhaya
________________________________________

Phần III:
Hồi Hướng này đọc khi kết thúc phần đố vui và giảng sư mời Pt MC lên hoàn mãn buổi học. Giới thiệu bài học hôm sau/ Hồi Hướng (Tri Chúng lên hồi hướng)

Sadhu! Sadhu ! Lành Thay!
Con .......... thay mặt đại chúng trong room, chúng con kính tri ân Chư Tôn Đức đã mở lòng bi mẫn giảng dạy Phật pháp hữu ích cho chúng con, đã hướng dẫn, dìu dắt chúng con tiến bước trên hành trình tu tập hầu mong đem lại an lạc trong đời sống và hướng đến đạo quả giải thoát luân hồi. Cám ơn đại chúng đã lắng tâm thanh tịnh thính pháp. Kính cám ơn quý chủ nhiệm, Ops, xướng ngôn viên đã yểm trợ cho các phần hành trong lớp học được hoàn tất mỹ mãn. Chúng con kính chúc chư Tôn Đức thân tâm thường lạc, đạo hạnh trang nghiêm, tâm bồ đề viên đắc, Phật đạo chóng viên thành, chúc quý đạo hữu luôn an lạc cát tường trong chánh pháp nhiệm màu của Đức từ phụ Thích Ca Mâu Ni.

Kính Bạch chư Tôn Đức,
Kính thưa quý đạo hữu,

Ngày mai chúng ta sẽ có Bài Kinh Tăng Chi - Số 13. Ba Hạng Người do ĐĐ Pháp Tân thuyết giảng. Để kết thúc chương trình xin chúng ta nhất tâm hồi hướng.

Nguyện công đức đã làm
Kết duyên lành giải thoát
Nguyện hồi hướng chư thiên
Hàng thiện thần hộ pháp
Nguyện các bậc hữu ân
Ðồng thừa tư công đức
Nguyện chánh pháp trường tồn
Chúng sanh cầu giải thoát
Namo Buddhaya

mở kinh tụng và nhạc, (đóng room)

Kính thưa đại chúng, chương trình sinh hoạt hôm nay đến đây đã kết thúc. Ban điều hành room Diệu Pháp xin phép được đóng room trong vài giây tới. Kính chào tạm biệt tất cả, xin hẹn gặp lại quý vị ngày mai trong giờ thường lệ. Namo Buddhaya.

No. 1489 NEW (Minh Châu dịch)

Những ngôi đền Phật giáo cổ

được tìm thấy tại West Godavari, Ấn Độ

Guntur, Ấn Độ -- Viện Nghiên cứu Khảo cổ Ấn đã tìm ra hai ngôi đền Phật giáo cổ nằm đối diện nhau tại Kantamanenivarigudem thuộc phía Tây Godavari, gần những ngôi chùa bằng núi đá thuộc khu vực Guntupalli nổi tiếng.

Những ngôi đền này được xây vào thế kỷ thứ 2 trước Công Nguyên, là biểu tượng cho việc truyền bá giáo Pháp của đức Phật rộng khắp quần chúng đã tạo thành rường cột của hệ phái Đại Thừa.

Trong cuộc khám phá này còn có một ngôi tháp nhỏ đường kính 1 mét rưỡi và một số mảnh đồ gốm đáng kể, như một pho tượng Phật trong tư thế thiền định nửa phần đã bị hư hoại và cột trụ bằng đá xanh hoàn toàn được khắc chạm đã được tìm thấy tại đây hơn một năm trước, Giám đốc ASI Hyderabad Cicle kiêm quản lý khảo cổ D. Jithender Das đã cho tờ báo The Hindu biết như trên.

Các ngôi đền có chiều dài 10 mét 4, chiều rộng 5 mét 57 trong đó có tượng Phật và một ngôi tháp nhỏ, chiều cao của ngôi đền, mặc dù hiện nay không còn trông thấy, được ước tính khoảng 12 feet để mọi người có thể vào bên trong một cấu trúc bằng đá kiên cố này.

Hồ vôi là hỗn hợp được dùng để đúc khuôn cho tầng hầm của hai ngôi đền và ngôi tháp nhỏ.

Ngôi đền có tượng Phật hướng về phía Đông trong khi ngôi đền có ngôi tháp nhỏ lại hướng về phía Tây và người ta tin rằng cả hai ngôi đền này đã được thành lập trong thời vua Satavahana.

Ông Das giải thích ‘Từ lúc khởi thuỷ của các ngôi đền này tại miền Tây Ấn vào thế kỷ thứ 3 trước Công Nguyên, chúng được xem là những cơ sở chủ yếu cho việc lễ bái. Chư tăng từ miền Đông đã tăng thêm những nét đặc trưng của sự tôn kính như đã được tìm thấy trong chánh điện của các ngôi đền của Salihundam, Ramateertham, Guntupalli và Amaravathi trong quận Guntur’.

Phụ tá quản lý khảo cổ D. Kanna Babu trong lúc khảo sát về những khám phá này đã nhận định ‘các cấu trúc khép kín này cốt tạo nên sự chú tâm cho người hành lễ và đây là sáng kiến của chư tăng Tu viện Dhakiniana.

Ba căn hầm này với những phiến gạch được chế tạo đặc biệt cho mỗi tầng là sự khơi màu cho những căn hầm Tripattakumada Adhishtanams của các ngôi chùa Ấn giáo sau này’.

-----------------------------------------------------------------------------

No. 1490 NEW (Hạt Cát dịch)

Hàn Quốc: Triển lãm tranh họa kinh điển cho thấy


nét huy hoàng của nghệ thuật Phật Giáo Á Châu

07-25-2007 17:17

Avatamsaka Sutra painting, gold paint on dark-blue paper, from the Goryeo Kingdom (1350), National Museum of Korea.

Hàn Quốc: Viện Bảo Tàng Quốc Gia Hàn Quốc đang thực hiện một cuộc triển lãm đặc biệt được mệnh danh "Kinh Điển Trên Hội Họa: Nghiên Cứu Đời Sống Đức Phật" tại Phòng Triển Lãm Đặc Biệt cho đến 16 tháng 09.

Các bài kinh bằng tranh vẽ được xem như là kinh điển Phật Giáo với miêu tả nhiều thủ bút và họa tiết khác nhau.

Chỉ với phương diện là hội họa Phật Giáo, với những đường nét tinh xảo và tỉ mỉ, các họa phẩm được đánh giá một cách cao trọng, các công trình thuộc triều đại Cao Ly vì thế cũng được trọng vọng.

Cuộc triển lãm hàng trăm bài kinh bằng tranh vẽ của bảo tàng viện Quốc Gia Hàn Quốc lần đầu tiên được thực hiện tại đây. Sự kiện này được xem là thuộc về công trình quốc bảo.

Các bức họa đã thu hút được sự quan tâm của công chúng với biểu hiện thẩm mỹ quan của Vương Triều Cao Ly ( từ năm 918 đến 1392 sau Tây Lịch).

Cuộc triển lãm, tuy được mở cửa cho công chúng tham quan nhưng cũng nằm trong sự giới hạn để bảo đảm tính chất bảo toàn của nó.

Phiên triển lãm mang đến cho công chúng một cơ hội hiếm hoi để chứng kiến bộ sưu tập các họa phẩm kinh điển từ bảo tàng viện quốc gia, bảo tàng viện tư nhân, các phòng triển lãm và ngay cả những bộ sưu tập cá nhân.

Cuộc triển lãm trình bày hơn 40 họa phẩm, tất cả đều được thực hiện dưới triều đại Cao Ly, được mang đến từ Bảo Tàng Viện Quốc Gia Nhật Bản và nhiều đền chùa khác nhau cho cuộc triển lãm này.

Giữa những bộ sưu tập này có 14 họa phẩm được trưng bày lần đầu tiên tại Hàn Quốc.

Cuộc triển lãm gồm có 26 họa phẩm thuộc danh sách Quốc Bảo Hàn Quốc, ví dụ như 7 quốc bảo kể cả Bảo Vật số 196 "Hoa Nghiêm Kinh" từ bộ sưu tập của Bảo Tàng Viện Leeum, 17 Bảo Vật khác và hai Sản Vật Văn Hoá Quan Trọng từ Nhật Bản.

Đây cũng là lần đầu tiên bức "Họa Kinh Liên Hoa", dưới sự bảo trợ của Yeom Seung-ik, được phát hiện từ tháp Namgyewon được trưng bày.

Cuộc triển lãm gồm có hai chủ đề, chủ đề thứ nhất nhằm giới thiệu Tạng Kinh Kim Cang bằng vàng được phát hiện tại tháp Iksan Wanggung-ri Các loại hộp cũng như hòm chứa kinh, vải bọc cũng được trưng bày.

Chủ đề thứ hai nhằm cống hiến các bản họa kinh được sắp xếp theo các thời đại từ triều Thống Nhất Tân La - Unified Silla (668-935) cho đến Vương triều Triều Tiên - Joseon Kingdom (1392-1910), sắp xếp theo niên đại nhằm trình bày một cái nhìn toàn bộ những nét đặc thù riêng biệt theo từng thời đại và khuynh hướng.

Đồng thời, các bản Họa Kinh của Trung Quốc và Nhật Bản cũng được trưng bày để cho thấy nét ưu việt của thủ công nghệ Hàn quốc.

Cuộc triển lãm cống hiến cho quan khách một cơ hội vô giá để tán thưởng những bản họa kinh của Hàn Quốc cũng như những vật linh tinh như hòm chứa kinh, vải gói, vật cắm hương v.v, ...

"Qua những bức họa kinh tinh xảo và rực rỡ này, chúng ta có thể thấy được kỹ thuật vẽ kim loại cao nhất thế giới đã được đạt đến đỉnh cao như thế nào trong triều đại Cao Ly, triều đại mà Phật giáo đã được nhìn nhận là quốc giáo". Kim Hong-nam, giám đốc Viện Bảo Tàng nói như trên, Cô thêm" Nó cho thấy tinh thần thánh thiện của tổ tiên và sự cao siêu của Phật Giáo".

Dưới đây là một vài tác phẩm tiêu biểu như:

- Họa Kinh Hoa Nghiêm vẽ bằng vàng trên giấy quý từ triều đại Thống Nhất Tân La, là một bản Họa Kinh của Bản được chuyển ngữ bởi Sư Sikananda trong đời nhà Đường (652-710).

"Bất không Quyên Sách Thần Biến Chân Ngôn Kinh" bằng vàng vẽ trên giấy quý xanh dưới triều đại Cao Ly năm 1275 đến từ BảoTàng Viện Leeum đang được trưng bày.

Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh vẽ bằng vàng trên giấy quý xanh đậm từ Heian Period (794-1191) Thời Kỳ Bình An Nhật Bản.

Thứ Năm, 26 tháng 7, 2007


Nhật Hành

Ngày: 26 tháng 07 năm 2007

Giảng Sư: TT Tuệ Siêu

Giảng Sư Điền khuyết: ...

Tri chúng: PT Anitya
Môn học:

Bài học: Kinh Trường Bộ 21. Kinh Ðế-thích sở vấn (Sakka-panha sutta)

Vị Tăng hoặc Ni nói lời cầu nguyện đầu lớp học: ĐĐ Minh Hạnh

Xướng ngôn viên: Nhu Khanh, Vo Thuong09, Vo Bat Phi, Mi Yoen, Sangkhaly và Quý Ops.
http://www.phapluan.net/ &
http://bandieuhanh.blogspot.com

Người mở room: Nguon Duc Hanh / Anitya.

Người mở nhạc và kinh tụng: Nguon Duc Hanh / Anitya.

Người hoán chuyển bài, làm banner cho Room: Nguon Duc Hanh / Bich Thu.

Người post bài và clean room: Tinh Tan / Nhu Khanh.

Người gửi bài riêng cho chư Tăng: Nhu Khanh, Tinh Tan.

Trực room (op): Nhu Khanh, VoThuong, VoBatPhi, My Yoen, Sangkhaly và quý Ops.

Thông báo (nếu có): Chị Upekha bận xin nghỉ phép.
Bài Đọc ngày Thứ Năm của MC

Phần I: Lễ Tam Bảo, Phần này đọc sau khi dứt kinh tụng


Namo Buddhaya
Con ............. (................ điền khuyết) thành kính đảnh lễ Chư Tôn Ðức Tăng Ni, thân chào tất cả quí vị hiện diện. Hôm nay Thứ Năm, ngày 26 tháng 07 năm 2007 Phật lịch 2551. Ðây là chương trình Phật Học trực tiếp thực hiện trên Paltalk mỗi ngày, giờ VN nhằm 7:30 đến 10:00 tối, giờ Houston 7:30 đến 10:00 sáng, giờ NY từ 8:30 đến 11:00 sáng, giờ Cali 5:30 đến 8:00 sáng, giờ Paris 2:30 đến 5:00 chiều, giờ Sydney 10:30 tối đến 1:00 sáng.

Kính thưa quý vị hôm nay lớp học do TT Tuệ Siêu thuyết giảng Bài Kinh Trường Bộ: 21. "Đế Thích Sở Vấn" (Sakka-panha sutta). Chúng ta sẽ có chương trình tiếp theo là Chư Tăng thảo luận, Câu đố và kết thúc với bản tin Phật Giáo.

Mở đầu chương trình xin tất cả chúng ta trang nghiêm tam nghiệp đảnh lễ Tam Bảo.

Chúng con xin kính thỉnh Đại Đức Minh Hạnh đọc kinh Lễ Tam Bảo hôm nay. Namo Buddhaya.

(Đại Đức Minh Hạnh)

Nhất tâm đảnh lễ Ðức Như Lai bậc Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Ðiều Ngự, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.

Nhất tâm đảnh lễ Chánh Pháp do Phật thiện thuyết, thiết thực hiện tiền, vượt ngoài thời gian, đến để chứng nghiệm, hiệu năng hướng thượng, trí giả thân chứng.

Nhất tâm đảnh lễ Chư Tăng đệ tử Thế Tôn bậc diệu hạnh, trực hạnh, như lý hạnh, chân chánh hạnh, gồm bốn đôi tám vị, đáng nhận lễ phẩm, tặng phẩm, tế phẩm, kính lễ, là phước điền vô thượng trong đời.

Nguyện cầu uy đức Phật Bảo
Nguyện cầu uy đức Pháp Bảo
Nguyện cầu uy đức Tăng Bảo
Xin Tam Bảo gia hộ
Ngăn ngừa mọi tai ương
Những hiện tượng bất tường
Những mộng mị xấu xa
Những nghịch duyên trở ngại
Thảy đều mau tan biến
Nguyện muôn loài chúng sanh
Người khổ xin hết khổ
Người sợ hết sợ hãi
Người sầu hết sầu bi
Biết cho với niềm tin
Biết hộ trì giới hạnh
Biết lạc trú trong thiền
Chư thiên đã vân tập
Xin tùy hỷ phước lành
Ðược cát tường như ý
Rồi phản hồi thiên xứ
Chư Toàn Giác đại lực
Chư Ðộc Giác đại lực
Thinh Văn Giác đại lực
Nguyện tổng trì uy đức
Cầu phúc lành phát sanh (lạy)
*****************************
___________________________________________________

(Phần I (Tiếp theo): ............... (.............. điền khuyết) )

Kính tri ân Sư Minh Hạnh.
Kính bạch chư tôn đức
Kính thưa đại chúng

Bài Học hôm nay:


Trường Bộ Kinh - Digha Nikaya

21. Kinh "Đế Thích Sở Vấn" (Sakka-panha sutta)
____________

Chúng con kính cung thỉnh TT Giác Đẳng từ bi dẫn nhập bài học hôm nay. Namo Buddhaya

Phần II:




A. Toát yếu bài kinh


Một thời Đức Thế Tôn trú tại Magadha, phía Đông thành Vương Xá, tại một ngôi làng Bà La Môn trong hang động Indasāla. Lúc bấy giờ thiên chủ Sakka náo nức muốn chiêm ngưỡng Đức Thế Tôn nên kêu gọi các chư thiên ở Tam thập tam thiên cùng đến chiêm ngưỡng Bậc Chánh Đẳng, Chánh Giác. Ngài cũng thông báo đến Pancasikha, con của Càn Thát Bà và bảo Pancasikha hãy tìm cách làm cho Đức Thế Tôn hoan hỷ trước rồi chư thiên mới đến yết kiến Bậc Chánh Đẳng, Chánh Giác sau.

Pancasikha vâng lời, đứng ở một nơi không quá xa mà cũng không quá gần Đức Thế Tôn và cầm cây đàn bằng gỗ vàng hát lên bài kệ liên hệ đến Phật, đến Pháp, đến A La Hán và đến ái dục.

Bài kệ tạo được sự chú ý của Đức Thế Tôn rồi Pancasikha đại diện chư thiên đảnh lễ Đức Thế Tôn và tất cả thượng chúng đều được Như Lai chào đón. Đức Thế Tôn tán thán sự yết kiến của thiên chủ Sakka. Thiên chủ Sakka trình bày việc thiên tử Gopakā, con của ngài, đã bỏ tâm niệm đàn bà, tu tập tâm niệm đàn ông, tin vào Tam Bảo, gìn giữ giới luật và khi thân hoại mạng chung được sinh lên thiện thú, Thiên giới. Thiên tử Gopakā đã trách các chư thiện hữu không nghe theo lời dạy của Đức Thế Tôn. Qua câu chuyện về Gopakā, Thiên chủ Sakka thỉnh nguyện được vấn đạo Đức Thế Tôn. Câu hỏi đầu tiên của ngài là do nguyên nhân nào các loài Thiên, Nhân, Asurā, Nāgā, Càn Thát Bà và tất cả các loài khác thường ao ước “không hận thù, không đả thương, không thù nghịch, không ác ý, chúng ta sống với nhau không hận thù,” nhưng mà với hận thù, với đả thương, với thù nghịch, với ác ý, họ sống với nhau trong hận thù ?

Đức Thế Tôn trả lời chính tật đố và xan tham đã khiến các loài Thiên, Nhân, Asurā, Nāgā, Càn Thát Bà, và tất cả những loài khác với hận thù, với đả thương, với thù nghịch, với ác ý, họ sống với nhau trong hận thù.

Thiên chủ Sakka rất hoan hỷ, tín thọ câu trả lời của Thế Tôn và hỏi tiếp:

- Bạch Thế Tôn, tật đố, xan tham do nhân duyên gì, do tập khởi gì mà ra. Đức Thế Tôn trả lời: do ưa ghét làm nhân duyên, làm tập khởi.

- Bạch Thế Tôn, ưa ghét do nhân duyên gì, do tập khởi gì mà ra ? – Ưa ghét do dục làm nhân duyên, do dục làm tập khởi.

- Bạch Thế Tôn, nhưng dục do nhân duyên gì, do tập khởi gì ? – Dục do tầm làm nhân duyên, do tầm làm tập khởi.

-Bạch Thế Tôn, tầm lấy gì làm nhân duyên, lấy gì làm tập khởi ? – Tầm lấy các loại vọng tưởng, hý luận làm nhân duyên, lấy các loại vọng tưởng hý luận làm tập khởi.

- Bạch Thế Tôn, vị Tỷ kheo phải phải chứng đạt như thế nào, phải thành tựu con đường nào thích hợp và hướng dẫn diệt trừ các loại vọng tưởng hý luận ? – Này thiên chủ, ta nói hý luận có hai loại, một loại phải thân cận, một loại phải tránh xa; ưu cũng có hai loại, một loại phải thân cận, một loại phải tránh xa; xả cũng có hai loại, một loại phải thân cận, một loại phải tránh xa.

Khi nghe Đức Thế Tôn giảng rõ về hai pháp nên thân cận hoặc nên tránh xa, thiên chủ Sakka vô cùng hoan hỷ bạch với Đức Thế Tôn mọi nghi ngờ đều diệt tận. Rồi ngài lại hỏi thêm:

- Bạch Đức Thế Tôn, vị Tỷ kheo phải thành tựu như thế nào, phải thành tựu biệt giải thoát luật nghi như thế nào thì Đức Thế Tôn trả lời:

- Thân hành có hai loại, một loại nên thân cận, một loại nên lánh xa; khẩu hành có hai loại, một loại nên thân cận, một loại nên lánh xa; tầm cầu có hai loại, một loại nên thân cận, một loại nên tránh xa.

Thiên chủ Sakka hoan hỷ tín thọ rồi hỏi thêm:

- Bạch Thế Tôn, vị Tỷ kheo phải thành tựu như thế nào, phải thành tựu hộ trì các căn như thế nào ?

- Này thiên chủ, sắc do mắt phân biệt, ta nói rằng có hai loại, một nên thân cận, một nên tránh xa; tiếng do tai phân biệt, hương do mủi phân biệt, xúc do thân phân biệt, pháp do ý phân biệt, ta nói rằng có hai loại, một loại nên thân cận, một loại nên tránh xa.

Thiên chủ Sakka rất hoan hỷ với câu trả lời rõ ràng của Đức Thế tôn và bạch với ngài mọi nghi ngờ, do dự của Thiên chủ đều được diệt tận.

Chúng con kính cung thỉnh TT Tuệ Siêu từ bi thuyết giảng bài học hôm nay. Namo Buddhaya.




B. Xuất xứ và tên bài kinh

...

Trong Budsas:

http://www.budsas.org/uni/u-kinh-truongbo/truong21.htm

Nhân danh và địa danh
...



C. Thảo Luận

Bốn ý chính của bài học hôm nay:

a. Có rất nhiều vấn đề trọng đại của xã hội vốn bắt nguồn từ động lực sâu kín nội tâm.

b. Chiến tranh, hòa bình vốn tạo nên do những niệm bất thiện hơn là vì lý do hoàn cảnh khách quan.

c. Người tu Phật nhìn thấy những nguyên nhân nội tại và từ đó cho thấy mỗi chúng ta có thể dự phần làm thay đổi thế giới này.

d. Những gì thân cận và không nên thân cận không phải chỉ là điều để đắn đo đối với thế giới chung quanh mà còn ở chính ý nghĩ, suy tư trong mỗi người.

5 câu thảo luận của bài học:

1. "Ðế Thích" được đề cập trong kinh điển Pāli ra sao ?

2. Chữ "tầm" ở trong đoạn kinh này có giống với chữ "tầm" trong 5 chi thiền không ?

3. Nếu chúng ta có tính hay ganh tị thì có thể làm gì để giảm bớt ?

4. Ưu theo A Tỳ Ðàm chỉ đi với tâm sân bất thiện. Có thứ "ưu" nào đi với tâm thiện chăng ?





D. Đố vui

...

Chúng con kính cung thỉnh ... từ bi giới thiệu bài học ngày mai. Namo Buddhaya.

________________________________________

Phần III:
Hồi Hướng này đọc khi kết thúc phần đố vui và giảng sư mời Pt MC lên hoàn mãn buổi học. Giới thiệu bài học hôm sau/ Hồi Hướng (Tri Chúng lên hồi hướng)

Sadhu! Sadhu ! Lành Thay!
Con .......... thay mặt đại chúng trong room, chúng con kính tri ân Chư Tôn Đức đã mở lòng bi mẫn giảng dạy Phật pháp hữu ích cho chúng con, đã hướng dẫn, dìu dắt chúng con tiến bước trên hành trình tu tập hầu mong đem lại an lạc trong đời sống và hướng đến đạo quả giải thoát luân hồi. Cám ơn đại chúng đã lắng tâm thanh tịnh thính pháp. Kính cám ơn quý chủ nhiệm, Ops, xướng ngôn viên đã yểm trợ cho các phần hành trong lớp học được hoàn tất mỹ mãn. Chúng con kính chúc chư Tôn Đức thân tâm thường lạc, đạo hạnh trang nghiêm, tâm bồ đề viên đắc, Phật đạo chóng viên thành, chúc quý đạo hữu luôn an lạc cát tường trong chánh pháp nhiệm màu của Đức từ phụ Thích Ca Mâu Ni.

Kính Bạch chư Tôn Đức,
Kính thưa quý đạo hữu,

Ngày mai chúng ta sẽ có Bài Kinh Tương Ưng - II. Puta (S.iv,306) do ĐĐ Pháp Đăng thuyết giảng. Để kết thúc chương trình xin chúng ta nhất tâm hồi hướng.

Nguyện công đức đã làm
Kết duyên lành giải thoát
Nguyện hồi hướng chư thiên
Hàng thiện thần hộ pháp
Nguyện các bậc hữu ân
Ðồng thừa tư công đức
Nguyện chánh pháp trường tồn
Chúng sanh cầu giải thoát
Namo Buddhaya

mở kinh tụng và nhạc, (đóng room)

Kính thưa đại chúng, chương trình sinh hoạt hôm nay đến đây đã kết thúc. Ban điều hành room Diệu Pháp xin phép được đóng room trong vài giây tới. Kính chào tạm biệt tất cả, xin hẹn gặp lại quý vị ngày mai trong giờ thường lệ. Namo Buddhaya.

Thứ Tư, 25 tháng 7, 2007


Nhật Hành

Ngày: 25 tháng 07 năm 2007

Giảng Sư: NS Liễu Pháp

Giảng Sư Điền khuyết: ...

Tri chúng: PT Tinh Tấn


Môn học: Kinh Tăng Chi

Bài học: 34. “Về Alavī” hay “Ý nghĩa an lạc”


Vị Tăng hoặc Ni nói lời cầu nguyện đầu lớp học: ĐĐ Minh Hạnh

Xướng ngôn viên: Lang Gia Nguyet, Nguon Duc Hanh, Duong Tieu (tin tức), Bich Thu, Vo Bat Phi.
http://www.phapluan.net &
http://bandieuhanh.blogspot.com

Người mở room: Bich Thu (các Ops đk).

Người mở nhạc và kinh tụng: Bich Thu (các Ops đk).

Người hoán chuyển bài cho Room: Lang Gia Nguyet.

Người post bài cho Room: Bich Thu / Nguon Duc Hanh (các Ops đk).

Người gửi bài riêng cho chư Tăng: Bich Thu / Nguon Duc Hanh (các Ops đk).

Trực room (op): Các Ops.

Thông báo (nếu có): Chị Upekha bận xin nghỉ phép.
Bài Đọc ngày Thứ Tư của MC

Phần I: Lễ Tam Bảo, Phần này đọc sau khi dứt kinh tụng


Namo Buddhaya
Con ............. (................ điền khuyết) thành kính đảnh lễ Chư Tôn Ðức Tăng Ni, thân chào tất cả quí vị hiện diện. Hôm nay Thứ Tư, ngày 25 tháng 07 năm 2007 Phật lịch 2551. Ðây là chương trình Phật Học trực tiếp thực hiện trên Paltalk mỗi ngày, giờ VN nhằm 7:30 đến 10:00 tối, giờ Houston 7:30 đến 10:00 sáng, giờ NY từ 8:30 đến 11:00 sáng, giờ Cali 5:30 đến 8:00 sáng, giờ Paris 2:30 đến 5:00 chiều, giờ Sydney 10:30 tối đến 1:00 sáng.

Kính thưa quý vị hôm nay lớp học do NS Liễu Pháp thuyết giảng Bài Kinh Tăng Chi số 34. “Về Alavī” hay “Ý nghĩa an lạc”. Chúng ta sẽ có chương trình tiếp theo là Chư Tăng thảo luận, Câu đố và kết thúc với bản tin Phật Giáo.

Mở đầu chương trình xin tất cả chúng ta trang nghiêm tam nghiệp đảnh lễ Tam Bảo.

Chúng con xin kính thỉnh Đại Đức Minh Hạnh đọc kinh Lễ Tam Bảo hôm nay. Namo Buddhaya.

(Đại Đức Minh Hạnh)

Nhất tâm đảnh lễ Ðức Như Lai bậc Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Ðiều Ngự, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.

Nhất tâm đảnh lễ Chánh Pháp do Phật thiện thuyết, thiết thực hiện tiền, vượt ngoài thời gian, đến để chứng nghiệm, hiệu năng hướng thượng, trí giả thân chứng.

Nhất tâm đảnh lễ Chư Tăng đệ tử Thế Tôn bậc diệu hạnh, trực hạnh, như lý hạnh, chân chánh hạnh, gồm bốn đôi tám vị, đáng nhận lễ phẩm, tặng phẩm, tế phẩm, kính lễ, là phước điền vô thượng trong đời.

Nguyện cầu uy đức Phật Bảo
Nguyện cầu uy đức Pháp Bảo
Nguyện cầu uy đức Tăng Bảo
Xin Tam Bảo gia hộ
Ngăn ngừa mọi tai ương
Những hiện tượng bất tường
Những mộng mị xấu xa
Những nghịch duyên trở ngại
Thảy đều mau tan biến
Nguyện muôn loài chúng sanh
Người khổ xin hết khổ
Người sợ hết sợ hãi
Người sầu hết sầu bi
Biết cho với niềm tin
Biết hộ trì giới hạnh
Biết lạc trú trong thiền
Chư thiên đã vân tập
Xin tùy hỷ phước lành
Ðược cát tường như ý
Rồi phản hồi thiên xứ
Chư Toàn Giác đại lực
Chư Ðộc Giác đại lực
Thinh Văn Giác đại lực
Nguyện tổng trì uy đức
Cầu phúc lành phát sanh (lạy)
*****************************
___________________________________________________

(Phần I (Tiếp theo): ............... (.............. điền khuyết) )

Kính tri ân Sư Minh Hạnh.
Kính bạch chư tôn đức
Kính thưa đại chúng

Bài Học hôm nay:

Tăng Chi Bộ - Anguttara Nikaya

34. “Về Alavī” hay “Ý nghĩa an lạc”
____________


Chúng con kính cung thỉnh TT Giác Đẳng từ bi dẫn nhập bài học hôm nay. Namo Buddhaya.


Phần II:




A. Toát yếu bài kinh

Hoàng tử Hatthaka đang du ngoạn và gặp Đức Thế Tôn đang ngự trên chỗ trải lá trong rừng Simsapā tại Gomagga ở Alavī. Hoàng tử đến đảnh lễ và bạch hỏi Đức Thế Tôn có sống an lạc chăng trong những đêm lạnh mùa đông tuyết rơi của những ngày tám (trước và sau ngày rằm) với nệm bằng lá cây. Đức Thế Tôn trả lời Ngài luôn luôn sống an lạc và dạy thế nào là “an lạc” thật sự:

“- Người gia chủ hay con của người gia chủ ấy, này Hoàng Tử, bị nung đốt bởi những nhiệt não do tham ái sanh, nhiệt não về thân hay tâm do sân sanh, nhiệt não do si sanh, cảm thấy đau khổ. Tham ái ấy, sân ấy, si ấy, Như Lai đã đoạn tận, cắt đứt từ gốc rễ, làm cho như thân cây tala, làm cho không thể hiện hữu, làm cho không thể sanh khởi trong tương lai. Do vậy ta cảm thấy an lạc”.

Luôn luôn được an lạc,
Vị phạm chí tịch tịnh
Không bị dục uế nhiễm
Trong mát, không sanh y,
Mọi tham trước dứt đoạn,
Nhiếp phục tâm sầu khổ,
An tịnh, cảm thọ lạc
Với tâm đạt an tịnh
.


Chúng con kính cung thỉnh NS Liễu Pháp từ bi thuyết giảng bài học hôm nay. Namo Buddhaya.



B. Xuất xứ và tên bài kinh

...

Trong Budsas:

http://www.budsas.org/uni/u-kinh-tangchibo/tangchi03-0104.htm


Nhân danh và địa danh

...



C. Thảo Luận

Những ý chính của bài học hôm nay:

a. Chúng sanh thường lấy hạnh phúc, an lạc để làm thước đo sự thành tựu trong đời sống. Dù vậy ít người biết rõ thế nào là chân hạnh phúc.

b. Đức Phật chỉ rõ có những thứ như khao khát, hy vọng, thường được xem là hạnh phúc, nhưng kỳ thật là thiếu thốn, nhiệt não.

c. Hạnh phúc thật sự chính là sự tịnh lạc, một điều không dễ dàng cho phàm nhân cảm nhận.

d. Nếu nói rằng một người thật sự sống hạnh phúc thì chỉ có đức Phật và những Thánh đệ tử đã đoạn tận phiền não.

5 Câu thảo luận của bài học hôm nay:

1. Nhiều người nói rằng chính sự "thắt thỏm, chờ đợi, ước vọng" chính là lúc hạnh phúc nhất của đời người. Điều này theo Phật Pháp quan niệm thế nào ?

2. Đức Phật có phủ nhận hạnh phúc của sắc đẹp, tiếng hay, mùi thơm, vị ngon, xúc lạc chăng ?

3. Hoàng tử Hatthaka là người thế nào ?

4. Người ta có nói rằng "có thì khổ, không có thì lỗ". Cuộc sống thế nào mà "không khổ cũng không lỗ" ?

5. Xã hội hôm nay vốn bắt buộc chúng ta phải phấn đấu, vật vả để tồn tại, liệu một người Phật tử có thể đứng ngoài trào lưu ấy không ?




D. Đố vui

1. Theo Phật Pháp thì điểm nào dưới đây thật sự là hạnh phúc đối với một người có một chiếc xe tốt ?

a. ước mơ có được chiếc xe.
b. Làm chủ được chiếc xe.
c. Hãnh diện vì có được chiếc xe.
d. Không phiền não vì chiếc xe.

2. Một vị Thánh đệ tử Phật trước khi xuất gia là hoàng tử. Sau khi xuất gia thường thốt lên lời: "Thật là hạnh phúc khi ở trong rừng vắng". Vị đó là:

a. Tôn giả Ananda.
b. Tôn giả Anuruddha.
c. Tôn giả Devadatta.
d. Tôn giả Bhaddiya.

Chúng con kính cung thỉnh ... từ bi giới thiệu bài học ngày mai. Namo Buddhaya
________________________________________

Phần III:
Hồi Hướng này đọc khi kết thúc phần đố vui và giảng sư mời Pt MC lên hoàn mãn buổi học. Giới thiệu bài học hôm sau/ Hồi Hướng (Tri Chúng lên hồi hướng)

Sadhu! Sadhu ! Lành Thay!
Con .......... thay mặt đại chúng trong room, chúng con kính tri ân Chư Tôn Đức đã mở lòng bi mẫn giảng dạy Phật pháp hữu ích cho chúng con, đã hướng dẫn, dìu dắt chúng con tiến bước trên hành trình tu tập hầu mong đem lại an lạc trong đời sống và hướng đến đạo quả giải thoát luân hồi. Cám ơn đại chúng đã lắng tâm thanh tịnh thính pháp. Kính cám ơn quý chủ nhiệm, Ops, xướng ngôn viên đã yểm trợ cho các phần hành trong lớp học được hoàn tất mỹ mãn. Chúng con kính chúc chư Tôn Đức thân tâm thường lạc, đạo hạnh trang nghiêm, tâm bồ đề viên đắc, Phật đạo chóng viên thành, chúc quý đạo hữu luôn an lạc cát tường trong chánh pháp nhiệm màu của Đức từ phụ Thích Ca Mâu Ni.

Kính Bạch chư Tôn Đức,
Kính thưa quý đạo hữu,

Ngày mai chúng ta sẽ có Bài Kinh Trường Bộ: 21. Kinh Ðế-thích sở vấn (Sakka-panha sutta) do TT Tuệ Siêu thuyết giảng. Để kết thúc chương trình xin chúng ta nhất tâm hồi hướng.

Nguyện công đức đã làm
Kết duyên lành giải thoát
Nguyện hồi hướng chư thiên
Hàng thiện thần hộ pháp
Nguyện các bậc hữu ân
Ðồng thừa tư công đức
Nguyện chánh pháp trường tồn
Chúng sanh cầu giải thoát
Namo Buddhaya

mở kinh tụng và nhạc, (đóng room)

Kính thưa đại chúng, chương trình sinh hoạt hôm nay đến đây đã kết thúc. Ban điều hành room Diệu Pháp xin phép được đóng room trong vài giây tới. Kính chào tạm biệt tất cả, xin hẹn gặp lại quý vị ngày mai trong giờ thường lệ. Namo Buddhaya.

Thứ Ba, 24 tháng 7, 2007

No. 1487 NEW (Minh Châu dịch)

Anh Quốc: phản ứng của hội đồng thành phố

về tên gọi của một tiệm ăn

Ngày 22 tháng 7, 2007

Anh Quốc -- Một thương gia Phật tử muốn đặt tên cho tiệm ăn của ông là Fat Buddha, đã khiến các
vị lãnh đạo hội đồng bất bình - họ cho rằng điều này sẽ làm cho giới Phật tử phẫn nộ.

Tiệm ăn trị giá 1,3 triệu Anh Kim của ông Eddie Fung sẽ khai trương tại Durham vào tháng tới, tạo công ăn việc làm cho 60 người. Nhưng chủ nhân đã kinh ngạc khi bà Tracey Ingle, trưởng ban dịch vụ văn hóa của hội đồng thành phố, đã yêu cầu ông đổi tên khác vì tên gọi này có tính cách ‘trêu chọc’.

Ông Fung, 39 tuổi, phát biểu ‘Tôi không thể ngờ được rằng bà này lại bỏ thời gian và công sức để chú tâm vào một cái tên vốn không công kích bất cứ một ai như là Fat Buddha.

Không một người Phật tử nào sẽ bị xúc phạm bởi tên gọi này. Fat Buddha là biểu tượng cho sức khỏe và hạnh phúc. Đây là điều quá đáng của sự làm việc thiên về chính trị’.

Một phát ngôn viên của Hội Phật Giáo cho biết ‘ Phật tử xem Fat Buddha như là sự may mắn. Nếu cho rằng đây là một sự xúc phạm tức là hiểu sai đức tin của họ.

Người Phật tử không thấy bị xúc phạm bởi bất cứ điều gì xảy đến vì như thế là không vâng lời Phật dạy’.

Ông Fung cho biết công ty Utopian Leisure của ông đã không bị than phiền về việc dùng tên Fat Buddha cho tiệm ăn đầu tiên của ông, được mở tại Belfast đầu năm nay.

‘Tính từ chung ‘Fat’ tự nó không là một từ có tính cách xúc phạm khi được dùng một cách tổng quát ... tên gọi này hàm ý một sự dâng tặng của người Đông phương vì nó liên kết với một tôn giáo xuất phát từ các quốc gia Á Châu ...

T
uy vậy, nó không phải để dùng riêng cho các tiệm ăn chay cũng như không riêng ám chỉ các hệ thống tín ngưỡng Phật giáo. Tên gọi này là một sự ‘trêu chọc’. Ủy viên Hội đồng thành phố Durham biện luận cho lập trường của bà, bà nói tiếp ‘Văn phòng chúng tôi cảm thấy tên gọi này không phù hợp trong một thành phố được thành lập trên căn bản tôn trọng tín ngưỡng. Cả hội đồng chúng tôi thực thi một chính sách nghiêm cẩn trong việc tạo cơ hội bình đẳng không kỳ thị và có tính cách đa dạng.

Bà Ingle nói thêm ‘Tôi giữ vững ý kiến trong bức thư yêu cầu chủ nhân đổi tên tiệm ăn của họ. Đây là lập trường của chúng tôi.

Chúng tôi đã tìm đủ mọi biện pháp hợp lý và tôi đã liên lạc với giám đốc công ty để trình bày mối quan tâm của tôi.

Tiệm ăn nằm tại một địa điểm dễ được chú ý và chắc chắn sẽ gây ảnh hưởng đến thanh danh của thành phố. Tôi đã bày tỏ quan điểm với tư cách là trưởng ban dịch vụ văn hóa đối với vấn đề văn hóa của thành phố’.

Hiện nay có 350 triệu Phật tử trên toàn cầu, trong đó có hơn 150,000 người tại Anh Quốc.

-----------------------------------------------------------------------------

No. 1488 NEW (Nhã Uyên dịch)

Nam Hàn: Những cuộc hành hương định kỳ

đến Chùa Linh Thông, Khai Thành, Bắc Hàn

Yonhap News, July 15, 2007

Hán Thành, South Korea -- Nam Triều Tiên đã được phép tổ chức những cuộc hành hương định kỳ mỗi tháng đến ngôi chùa Phật Giáo ở Thành phố Kaesong – Khai Thành, một tỉnh gần biên giới của Bắc Triều Tiên, viên chức chính phủ đã tuyên bố như trên hôm chủ nhật 15 tháng 07, 2007 vừa qua.

Cuộc tham quan đầu tiên đến chùa Ryongthong – Linh Thông Tự được hệ phái Phật Giáo Thiên Thai tổ chức vào ngày 26/6, với khoảng 500 người được phép hành hương mỗi tháng, Ủy ban Thống nhất đã cho biết.

Chi phí cho cuộc hành hương đến ngôi chùa được xây dựng vào thế kỷ 11 này là 170.000 won mỗi người (khoảng US$185), và chính quyền Bắc Triều Tiên nhận khoảng $50 cho mỗi lần chi trả.

Thiên Thai, là hệ phái Phật giáo lớn thứ hai của Nam Triều Tiên đã tổ chức được 3 cuộc hành hương thí điểm vào tháng trước và đã được sự ủng hộ nồng nhiệt khắp nơi.

Linh Thông tự, được xem như là nơi khai sinh ra hệ phái Thiên Thai Triều Tiên, đã bị tàn phá vào thế kỷ thứ 16 nhưng vừa mới được khôi phục sửa chữa lại vào năm 2005 với kinh phí từ những tổ chức Phật Giáo Nam Triều Tiên.

Ủy Ban nói rằng số lần hành hương được giới hạn một tháng một lần để khỏi bị trùng hợp với chương trình của công ty Hyundai Asan cũng tổ chức những cuộc hành hương đến Khai Thành. Kế hoạch của Hyundai là muốn có một sự đổi mới vì Bình Nhưỡng muốn Công Ty Du lịch Lotte tổ chức những cuộc hành hương đến Kaesong.

Khai Thành, cách Hán Thành khoảng một giờ lái xe, không chỉ là một nơi phía Bắc của vùng phi quân sự chia cắt hai miền Nam Bắc Triều Tiên, mà còn là kinh đô của Vương Triều Koryo – Cao Ly (Từ năm 918-1392 sau Công nguyên).

Một khu công nghiệp ở vùng ngoại ô của thành phố Bắc Triều Tiên này đã được hình thành hiện tại đã tạo ra được hơn 13.000 công ăn việc làm cho người Bắc Triều tiên.


Nhật Hành

Ngày: 24 tháng 07 năm 2007

Giảng Sư: ĐĐ Tuệ Quyền

Giảng Sư Điền khuyết: ...

Tri chúng: PT Nguồn Đức Hạnh


Môn học: Kinh Trung Bộ

Bài học: 33. Đại kinh "Người Chăn Bò"
(Mahāgopālaka sutta)

Vị Tăng hoặc Ni nói lời cầu nguyện đầu lớp học: ĐĐ Minh Hạnh

Xướng ngôn viên: Gioi Huong, Tinh Tan, Bich Thu, Dieu Nghiem (tin tức), Vo Bat Phi, Sangkhaly và các Ops khác.
http://www.phapluan.net &
http://bandieuhanh.blogspot.com

Người mở room: Anitya / Nguon Duc Hanh.

Người mở nhạc và kinh tụng: Anitya / Nguon Duc Hanh.

Người hoán chuyển bài cho Room: Bich Thu / TN Nhu Nguyen (đk).

Người post bài cho Room: Mi Yoen / Bich Thu (các Ops đk).

Người gửi bài riêng cho chư Tăng: Bich Thu, Tinh Tan
.

Trực room (op): Các Ops.

Thông báo (nếu có): Chị Upekha bận xin nghỉ phép.