Thứ Tư, 27 tháng 12, 2006
Nhật Hành
Ngày: 27 tháng 12 năm 2006
Tri chúng: Hạt Cát
Tri chúng điền khuyết: Bich Thu
Bài học: Bài kinh số 10: Niệm Xứ (Satipaṭṭhāna Sutta)
Giảng Sư Chính: ÐĐ Chánh Kiến
Giảng Sư Điền khuyết: TT Giác Đẳng
Vị Tăng hoặc Ni nói lời cầu nguyện đầu lớp học: ĐĐ Minh Hạnh
Xướng ngôn viên: TC đk, Sangkhaly, Nguon Đuc Hanh, Hat Cat, Nhu Phuc, Upekha, Karuna, Anitya, Tinh Tan, Bich Thu, Minh Chau54 (Tinh Tan xin miễn đọc tin tức trừ khi bài của TT, vì phải thâu TBK) http://www.phapluan.net & http://bandieuhanh.blogspot.com
Người mở room: Upekha, Bich Thu.
Người mở nhạc và kinh tụng: Upekha, Bich Thu.
Người hoán chuyển bài cho Room: Bich Thu - Nhu Phuc (đk).
Người post bài cho Room: Nguon Duc Hanh, Bich Thu, Upekha.
Người post và gửi bài riêng cho chư Tăng: Upekha, NguonDucHanh.
Trực room (op): TC đk, Upekha, Ops.
Thông báo (nếu có): Cô Minh Châu xin nghỉ phép 1 tháng.
________________ Cô Tinh Tấn xin nghỉ phép 24 - 31/12.
Thứ Ba, 26 tháng 12, 2006
Phần I Lễ Tam Bảo, Phần này đọc sau khi dứt kinh tụng
Namo Buddhaya
MC1: Con ............. (................ điền khuyết) thành kính đảnh lễ Chư Tôn Ðức Tăng Ni, thân chào tất cả quí vị hiện diện. Hôm nay ngày 27 tháng 12 năm 2006 Phật lịch 2550. Ðây là chương trình Phật Học trực tiếp thực hiện trên Paltalk mỗi ngày, giờ VN nhằm 8:00 đến 10:30 tối, giờ Houston 7:00 đến 9:30 sáng, giờ NY từ 8:00 đến 10:30 sáng, giờ Cali 5:00 đến 7:30 sáng, giờ Paris 2:00 đến 4:30 chiều, giờ Sydney 12:00 tối đến 2:30 sáng.
Kính thưa quý vị Lớp Trung Bộ Kinh hôm nay chúng ta sẽ học Bài kinh số 10: Niệm Xứ (Satipaṭṭhāna Sutta) do ĐĐ Chánh Kiến giảng giải phần II nội dung chính. Chúng ta sẽ được nghe chư Tôn Ðức giảng giải các phần khác trong bài học, chương trình tiếp tục với các câu đố và kết thúc với bản tin Phật Giáo.
Mở đầu chương trình xin tất cả chúng ta trang nghiêm tam nghiệp đảnh lễ Tam Bảo.
Chúng con xin kính thỉnh Đại Đức Minh Hạnh đọc kinh Lễ Tam Bảo hôm nay. Namo Buddhaya
(Đại Đức Minh Hạnh)
Nhất tâm đảnh lễ Ðức Như Lai bậc Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Ðiều Ngự, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.
Nhất tâm đảnh lễ Chánh Pháp do Phật thiện thuyết, thiết thực hiện tiền, vượt ngoài thời gian, đến để chứng nghiệm, hiệu năng hướng thượng, trí giả thân chứng.
Nhất tâm đảnh lễ Chư Tăng đệ tử Thế Tôn bậc diệu hạnh, trực hạnh, như lý hạnh, chân chánh hạnh, gồm bốn đôi tám vị, đáng nhận lễ phẩm, tặng phẩm, tế phẩm, kính lễ, là phước điền vô thượng trong đời.
Nguyện cầu uy đức Phật Bảo
Nguyện cầu uy đức Pháp Bảo
Nguyện cầu uy đức Tăng Bảo
Xin Tam Bảo gia hộ
Ngăn ngừa mọi tai ương
Những hiện tượng bất tường
Những mộng mị xấu xa
Những nghịch duyên trở ngại
Thảy đều mau tan biến
Nguyện muôn loài chúng sanh
Người khổ xin hết khổ
Người sợ hết sợ hãi
Người sầu hết sầu bi
Biết cho với niềm tin
Biết hộ trì giới hạnh
Biết lạc trú trong thiền
Chư thiên đã vân tập
Xin tùy hỷ phước lành
Ðược cát tường như ý
Rồi phản hồi thiên xứ
Chư Toàn Giác đại lực
Chư Ðộc Giác đại lực
Thinh Văn Giác đại lực
Nguyện tổng trì uy đức
Cầu phúc lành phát sanh (lạy)
*****************************
___________________________________________________
(MC1 của phần I: ............... (.............. điền khuyết) )
Kính tri ân Sư Minh Hạnh.
Kính bạch chư tôn đức
Kính thưa đại chúng
Bài Học hôm nay:
Niệm Xứ (Satipaṭṭhāna Sutta)
____________
I. Đại lược
Phật dạy bốn niệm xứ là con đường độc nhất đưa chúng sinh đến thanh tịnh, vượt khỏi sầu não, diệt trừ khổ ưu, thành tựu chính trí, chứng ngộ niết bàn.
Chúng con kính cung thỉnh ............ từ bi thuyết giảng Phần I. Đại lược bài học hôm nay. Namo Buddhaya.
II. Nội dung chính
1. Quán thân: bao gồm 14 bài tập là: niệm hơi thở; quán bốn uy nghi hay thân hành; chính niệm tỉnh giác trong mọi hoàn cảnh; quán bất tịnh; quán bốn đại; và chín pháp quán tử thi ở nghĩa địa qua các giai đoạn tan rã.
2. Quán thọ: kể như một bài tập. Thọ là các cảm giác dễ chịu, khó chịu, trung tính về thân, tâm.
3. Quán tâm: một bài tập: Tuệ tri tâm có hay không tham, sân, si, tán loạn, quảng đại; thâu nhiếp hay tán loạn; hữu hạn hay vô thượng; có định không định, có giải thoát không giải thoát.
4. Quán pháp: gồm năm phân đoạn: 1- Năm triền cái; 2- Năm uẩn; 3- Sáu nội xứ; 4- Bảy giác chi; 5- Bốn thánh đế.
Vậy kinh này giảng tất cả 21 bài tập thiền quán. Mỗi bài tập lại gồm hai phần, phần luyện tập căn bản được giải thoát trước, và phần bổ túc dạy làm thế nào hướng sự tu tập ấy đến việc đào sâu tuệ giác. Phần này không thay đổi trong cả 21 bài tập, đó là đoạn "… Vị ấy sống quán tính sinh khởi trên thân, quán tính diệt tận trên thân, … an trú chính niệm, hy vọng hướng đến chính trí …, sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì ở trên đời".
Cuối cùng, Phật nêu lên kết quả việc quán Bốn niệm xứ để khuyến khích tu hành: đó là chứng quả A la hán hoặc Bất hoàn.
[Trích Toát yếu Kinh Trung Bộ - NS Thích Nữ Trí Hải]Chúng con kính cung thỉnh ............ từ bi thuyết giảng Phần II. Nội dung chính bài học hôm nay. Namo Buddhaya.
Hỏi: ...
Đáp: ...
Chúng con kính cung thỉnh ............ từ bi thuyết giảng Phần III. Người Xưa Chốn Cũ bài học hôm nay. Namo Buddhaya.
IV. Chữ và nghĩa (TT Tuệ Siêu biên soạn)Hỏi: Chữ Xứ trong Niệm Xứ có khác với chữ Xứ ở trong Thập nhị xứ không ?
Đáp: Chữ Xứ trong Niệm xứ (Paṭṭhāna). Còn chữ Xứ trong Thập nhị xứ (Āyatana).
Chữ Paṭṭhāna (Xứ) có nghĩa là vị trí hay là đối tượng, đề mục để tu hành; gọi là niệm xứ, tức là những đề mục để chánh niệm tĩnh giác như là thân niệm xứ, thọ niệm xứ, tâm niệm xứ, pháp niệm xứ.
Chữ Āyatana (Xứ hay nhập) nghĩa là căn cứ, cơ quan, chỗ phát sinh ra tâm và tâm sở. Mười hai xứ: nhãn xứ và sắc xứ là chỗ làm cho sanh ra tâm nhãn thức; Nhĩ xứ và thinh xứ là chỗ làm cho sanh ra nhĩ thức; tỷ xứ và khí xứ là nơi sanh ra tỷ thức; thiệt xứ và vị xứ là nơi sanh ra thiệt thức; thân xứ và xúc xứ là nơi sanh ra thân thức; tỷ xứ và pháp xứ là nơi sanh ra ý giới và ý thức giới.
Như vậy trong chữ hán việt, cả hai trường hợp đều xài chữ Xứ nhưng trong tiếng Pāli thì hai từ Xứ trong "Niệm xứ" và Xứ trong "Thập nhị xứ" hoàn toàn khác nhau.
Chúng con kính cung thỉnh ............ từ bi thuyết giảng Phần IV. Chữ và nghĩa bài học hôm nay. Namo Buddhaya.
V. Học và hỏi (Sư Tuệ Minh biên soạn câu trả lời)
Hỏi: Trong kinh "Niệm xứ" Đức Phật dạy Tứ niệm xứ là con đường duy nhất để đưa đến đoạn tận khổ đau. Thế tại sao vẫn có những trường hợp một người vừa nghe Đức Phật thuyết Pháp xong thì được chứng bốn quả Thánh, chấm dứt mọi phiền não luân hồi ?
Ðáp: Một người khi nghe Đức Phật thuyết giảng đắc quả vị A la hán phải hội đủ nhiều yếu tố như tròn đầy Pháp Ba la mật, nhân duyên chính muồi ...
Tứ niệm xứ (Satipaṭṭhāna) là phương pháp tu tập dựa trên chánh niệm và tỉnh giác với đề mục. Như một người nghe Đức Phật giảng Pháp, khi đó thu thúc thân khẩu ý thanh tịnh, định tĩnh lắng nghe từng lời dạy và dùng trí tuệ quán xét để hiểu những lời Đức Phật nói. Trong lúc nghe giảng như vậy họ đã thành tựu Giới Định Tuệ nên khi chấm dứt một bài Pháp thì họ trở thành bậc vô học, chấm dứt mọi phiền não luân hồi.
Chúng con kính cung thỉnh ............ từ bi thuyết giảng Phần V. Học và hỏi bài học hôm nay. Namo Buddhaya.
VI. Đố Vui (TT Tuệ Siêu biên soạn)
1. Ðề mục niệm 32 thể trược thuộc về loại thiền nào dưới đây ?
a. Thân quán niệm xứ.
b. Pháp quán niệm xứ.
c. Tâm quán niệm xứ.
d. Thọ quán niệm xứ.
2. Chánh niệm ghi nhận tham ái đang sanh, điều đó thuộc về niệm xứ nào ?
a. Tâm quán niệm xứ.
b. Thọ quán niệm xứ.
c. Pháp quán niệm xứ.
d. Câu a và c đúng.
3. Chánh niệm quán sát đối với phiền não là để ngăn trừ vậy thì chánh niệm đối với thiện pháp đang sanh có phải là để ngăn trừ thiện pháp không ?
a. Phải, khi chánh niệm có mặt thì các đối tượng được ghi nhận liền biến mất.
b. Phải, vì hành giả tu tập cần duy trì chánh niệm chứ không cần duy trì thiện pháp khác.
c. Không phải, vì chánh niệm là thiện pháp nên chánh niệm sanh thường xuyên thì thiện pháp càng tăng trưởng.
d. Không phải, vì pháp thiện là cảnh trợ cho tâm thiện (chánh niệm sanh khởi).
________________________________________
Phần II: Hồi Hướng này đọc khi kết thúc phần đố vui và giảng sư mời Pt MC lên hoàn mãn buổi học. Giới thiệu bài học hôm sau/ Hồi Hướng (Tri Chúng lên hồi hướng).
Sadhu! Sadhu ! Lành Thay!
Con .......... thay mặt đại chúng trong room, chúng con kính tri ân Chư Tôn Đức đã mở lòng bi mẫn giảng dạy Phật pháp hữu ích cho chúng con , đã hướng dẫn, dìu dắt chúng con tiến bước trên hành trình tu tập hầu mong đem lại an lạc trong đời sống và hướng đến đạo quả giải thoát luân hồi. Nguyện hồi hướng phước báu pháp thí đến Ni Sư Diệu Tịnh được nhiều an lạc, tùy tâm mãn nguyện. Cám ơn đại chúng đã lắng tâm thanh tịnh thính pháp. Kính cám ơn quý chủ nhiệm, Ops, xướng ngôn viên đã yểm trợ cho các phần hành trong lớp học được hoàn tất mỹ mãn. Chúng con kính chúc chư Tôn Đức thân tâm thường lạc, đạo hạnh trang nghiêm, tâm bồ đề viên đắc, Phật đạo chóng viên thành, chúc quý đạo hữu luôn an lạc cát tường trong chánh pháp nhiệm màu của Đức từ phụ Thích Ca Mâu Ni.
Kính Bạch chư Tôn Đức,
Kính thưa quý đạo hữu,
Ngày mai chúng ta sẽ có Lớp Thiền Học do ÐÐ Lá Bối đảm trách phần II Nội Dung Chính và Chư Tôn Đức giảng sư sẽ giảng giải các phần khác trong bài học, với sự điều hợp chương trình của các Ops và MC. Để kết thúc chương trình xin chúng ta nhất tâm hồi hướng.
Nguyện công đức đã làm
Kết duyên lành giải thoát
Nguyện hồi hướng chư thiên
Hàng thiện thần hộ pháp
Nguyện các bậc hữu ân
Ðồng thừa tư công đức
Nguyện chánh pháp trường tồn
Chúng sanh cầu giải thoát
Namo Buddhaya
mở kinh tụng và nhạc, (đóng room)
Kính thưa đại chúng, chương trình sinh hoạt hôm nay đến đây đã kết thúc. Ban điều hành room Diệu Pháp xin phép được đóng room trong vài giây tới. Kính chào tạm biệt tất cả hẹn ngày mai sẽ trở lại trong giờ thường lệ. Namo Buddhaya.
Nhật Hành
Ngày: 26 tháng 12 năm 2006
Tri chúng: Karuna
Tri chúng điền khuyết: Duong Tieu
Môn học: Lớp Ngôn Ngữ Thiền Môn
Bài học: 100 Từ Vựng Phật Học Với cách dùng dị biệt giữa Nam và Bắc Truyền
Giảng Sư Chính: TT Giác Đẳng
Giảng Sư Điền khuyết: TT Tuệ Siêu
Vị Tăng hoặc Ni nói lời cầu nguyện đầu lớp học: ĐĐ Minh Hạnh
Xướng ngôn viên: TC & TC đk, Sangkhaly, Bich Thu (ĐK: Tinh Tan (MC 1 only), Hat Cat, Anitya, Nguon Duc Hanh, Upekha, Nhu Phuc, Minh Chau54) http://www.phapluan.net và http://bandieuhanh.blogspot.com
Người mở room: Bich Thu, Hat Cat.
Người mở nhạc và kinh tụng: Hat Cat, Bich Thu, Anitya
Người hoán chuyển bài cho Room: Bich Thu - Nhu Phuc (đk)
Người post bài cho Room: Bich Thu, Nguon Duc Hanh, Hat Cat, Upekha.
Người post và gửi bài riêng cho chư Tăng: Hat Cat, Upekha.
Trực room (op): TC đk & Upekha, Nguon Duc Hanh.
Thông báo (nếu có): Cô Minh Châu xin nghỉ phép 15/12 - 15/1/07.
________________ Cô Tinh Tấn xin nghỉ phép 24 - 31/12.
Phần I Lễ Tam Bảo, Phần này đọc sau khi dứt kinh tụng
Namo Buddhaya
MC1: Con ............. (................ điền khuyết) thành kính đảnh lễ Chư Tôn Ðức Tăng Ni, thân chào tất cả quí vị hiện diện. Hôm nay ngày 26 tháng 12 năm 2006 Phật lịch 2550. Ðây là chương trình Phật Học trực tiếp thực hiện trên Paltalk mỗi ngày, giờ VN nhằm 8:00 đến 10:30 tối, giờ Houston 7:00 đến 9:30 sáng, giờ NY từ 8:00 đến 10:30 sáng, giờ Cali 5:00 đến 7:30 sáng, giờ Paris 2:00 đến 4:30 chiều, giờ Sydney 12:00 tối đến 2:30 sáng.
Kính thưa quý vị Lớp Ngôn Ngữ Thiền Môn hôm nay chúng ta sẽ học bài 100 Từ Vựng Phật Học Với cách dùng dị biệt giữa Nam và Bắc Truyền do TT Giác Đẳng giảng giải phần II nội dung chính. Chúng ta sẽ được nghe chư Tôn Ðức giảng giải các phần khác trong bài học, chương trình tiếp tục với các câu đố và kết thúc với bản tin Phật Giáo.
Mở đầu chương trình xin tất cả chúng ta trang nghiêm tam nghiệp đảnh lễ Tam Bảo.
Chúng con xin kính thỉnh Đại Đức Minh Hạnh đọc kinh Lễ Tam Bảo hôm nay. Namo Buddhaya
(Đại Đức Minh Hạnh)
Nhất tâm đảnh lễ Ðức Như Lai bậc Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Ðiều Ngự, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.
Nhất tâm đảnh lễ Chánh Pháp do Phật thiện thuyết, thiết thực hiện tiền, vượt ngoài thời gian, đến để chứng nghiệm, hiệu năng hướng thượng, trí giả thân chứng.
Nhất tâm đảnh lễ Chư Tăng đệ tử Thế Tôn bậc diệu hạnh, trực hạnh, như lý hạnh, chân chánh hạnh, gồm bốn đôi tám vị, đáng nhận lễ phẩm, tặng phẩm, tế phẩm, kính lễ, là phước điền vô thượng trong đời.
Nguyện cầu uy đức Phật Bảo
Nguyện cầu uy đức Pháp Bảo
Nguyện cầu uy đức Tăng Bảo
Xin Tam Bảo gia hộ
Ngăn ngừa mọi tai ương
Những hiện tượng bất tường
Những mộng mị xấu xa
Những nghịch duyên trở ngại
Thảy đều mau tan biến
Nguyện muôn loài chúng sanh
Người khổ xin hết khổ
Người sợ hết sợ hãi
Người sầu hết sầu bi
Biết cho với niềm tin
Biết hộ trì giới hạnh
Biết lạc trú trong thiền
Chư thiên đã vân tập
Xin tùy hỷ phước lành
Ðược cát tường như ý
Rồi phản hồi thiên xứ
Chư Toàn Giác đại lực
Chư Ðộc Giác đại lực
Thinh Văn Giác đại lực
Nguyện tổng trì uy đức
Cầu phúc lành phát sanh (lạy)
*****************************
___________________________________________________
(MC1 của phần I: ............... (.............. điền khuyết) )
Kính tri ân Sư Minh Hạnh.
Kính bạch chư tôn đức
Kính thưa đại chúng
Bài Học hôm nay:
dị biệt giữa Nam và Bắc Truyền
010. GIỚI
I. Đại lược (TT Giác Đẳng biên soạn)
Giới luật là quan niệm phổ cập trong hầu hết các tông phái Phật giáo. Dù vậy sự hành trì và tinh thần vẫn có những khác biệt hết sức quan trọng giữa Nguyên Thủy và Đại Thừa. Căn bản mà nói thì Tạng Luật giữa hai truyền thống hầu hết là tương đồng nhưng sự áp dụng, đặc biệt là Phật giáo Đại Thừa có thêm bồ tát giới, tạo nên sự khác biệt sâu sắc giữa hai truyền thống. Phật giáo Đại Thừa cũng xem Luật Tông thuộc về Tiểu thừa vì vậy tạo nên một tương phản quan trọng khác.
Chúng con kính cung thỉnh ............ từ bi thuyết giảng Phần I. Đại lược bài học hôm nay. Namo Buddhaya.
II. Nội dung chính
1. Giới luật phải là những điều luật được ban hành bởi Đức Phật gồm có ngũ giới, bát quan trai giới, thất xoa ma na giới, sa di giới, sa di ni giới, tỳ kheo giới và tỳ kheo ni giới.
2. Cốt tuỷ của giới là " chủ tâm từ bỏ" có nghĩa là không phải vì hoàn cảnh hay tự nhiên không làm gọi là giới
3. Gọi là giới có nghĩa là điều qui định rõ ràng thế nào là phạm giới, thế nào là đầy đủ yếu tố phạm tội như gọi là phạm giới sát sanh phải có đủ 5 yếu tố: vật có thức tánh, biết vật có thức tánh, có ý giết, ra sức giết, vật đã chết vì hành động sát hại.
4. Những biện pháp răn phạt chỉ có thể áp dụng trong tăng chúng theo nguyên tắc giới hoà đồng tu chứ không áp dụng cho người tại gia cư sĩ
5. Giới là một trong Tam Học ( giới định huệ), là nền tảng cho sự tồn tại của Phật giáo
Đối với những quan niệm trên Phật Giáo Đại thừa có những sai biệt:
1. Giới luật có thể ban hành bởi các vị tổ không nhất thiết là Đức Phật.
2. Có sự phân biệt giữa giới tướng và giới tánh trong sự thành tựu giới.
3. Những học giới có thể mang hình thái như lý tưởng tu tập (vị tha, hiếu thuận...) là những điều không thể qui định bằng "chi phần của giới".
4. Bồ Tát Giới được hành trì bởi cả hai giới xuất gia và tại gia (điều nầy bất khả thi theo PGNT.
5. Luật Tông được liệt vào hàng Tiểu Thừa.
Bài đọc thêm về giới theo Đại Thừa của HT Trí Quang
Bồ tát giới Phạn võng phải được gọi là Đại thừa giới. Đại thừa giới là bản nguyên của chúng sinh, là Phật tánh đầy phẩm chất Phật. Đại thừa giới xác nhận thân là thân chúng sinh, tâm là tâm chúng sinh, nhưng thân ấy tâm ấy đều nhập cả vào giới pháp Phật tánh: đều đem ra mà thọ và trì Đại thừa giới. Đại thừa giới căn cứ quan điểm hiếu thuận: hiếu thuận với tất cả chính là giữ giới. Đại thừa giới lại xác định là cái Phật đi, cái Phật làm, nên thọ giới ấy là nhập vào cương vị của Phật.
Căn bản của Đại thừa giới là gì ? Một là tự tín mình sẽ là Phật, như Phật là Phật đã thành. Hai là tôn thờ vị thầy gọi là pháp sư đại thừa (để được dạy cho Đại thừa giới, truyền cho giới ấy, hướng dẫn, khuyến tiến và giám hộ sự giữ giới ấy).
Đại thừa giới đã tạo ra bao nhiêu tập tục tốt đẹp: hiếu thuận, phóng sinh, nuôi bịnh, chữa bịnh ...
Chúng con kính cung thỉnh ............ từ bi thuyết giảng Phần II. Nội dung chính bài học hôm nay. Namo Buddhaya.
Hỏi: Xin cho biết chi tiết về rừng Parileyyaka ?
Đáp: Trong lúc Đức Phật ngự tại Kosambi, một vụ tranh luận xảy ra giữa hai nhóm tỳ khưu - một nhóm giỏi về Kinh và một nhóm giỏi về Luật - vì có một vị phạm nhằm một giới nhỏ có liên quan đến cách thức sử dụng phòng vệ sinh. Những người ủng hộ cũng chia làm hai phe. Đức Phật bổn thân đứng ra giàn xếp cũng không xong. Hai bên đều tỏ ra có tánh gây gỗ, và niềm bất hòa ngấm ngầm tiếp diễn. Đức Phật suy nghĩ:
"Trong tình trạng hiện tại, đám đông người này cố tâm muốn lấn áp nhau, khiến cho những ngày an cư kiết hạ của ta trở nên bất ổn. Hơn nữa chúng Tăng ở đây không để ý đến lời dạy của ta. Hay là ta rời khỏi đám đông để ẩn dật trong rừng sâu".
Liền đó, không cho chư Tăng biết, Ngài một mình ra đi, đến khu rừng Parileyyaka, và nhập Hạ dưới gốc một cây sala (long thọ) tươi đẹp.
Theo tích chuyện được kể lại, trong thời gian này có một con voi và một con khỉ theo hầu cận và lo lắng mọi nhu cầu cho Đức Phật.
[Trích Đức Phật và Phật Pháp - Ngài Narada (Phạm Kim Khánh dịch)]
IV. Chữ và nghĩa (TT Tuệ Siêu biên soạn câu trả lời)Hỏi: Giới và luật giống nhau hay khác nhau ?
Đáp: Danh từ Sīla (Giới) là ám chỉ những học giới (Sikkhāpada) là những điều mà Đức Phật đã chế định thành luật không được vi phạm. như ngũ giới của cư sĩ, 227 giới của vị xuất gia v.v... Chữ Luật (Vinaya) là những điều mà thuộc về những nguyên tắc sinh hoạt gồm cả giới và những cách thức để làm theo cho được tốt đẹp, có nề nếp. Chữ Vinaya chỉ cho một bộ phận trong Tam tạng (Tạng luật – Vinaya piṭaka), giới thì nằm trong tạng luật ấy.
Chúng con kính cung thỉnh ............ từ bi thuyết giảng Phần IV. Chữ và nghĩa bài học hôm nay. Namo Buddhaya.
V. Học và hỏi (Sư Tuệ Minh biên soạn câu trả lời)
Hỏi: Có phải cái gì là thiện nghiệp đều phù hợp với giới luật chăng ?
Ðáp: Thiện nghiệp là kết quả của rèn luyện thân khẩu ý trong sạch, thanh tịnh.
Khi hành thiện cũng tùy theo mục đích hợp hay không hợp với tinh thần Phật Pháp. Nếu làm các công đức vì mục đích mong cầu giải thoát thì hành động thiện nghiệp đó y cứ theo lời Phật dạy. Còn làm thiện vì tư lợi thì thiện nghiệp đó đã xa vời với tinh thần Phật Pháp.
Chúng con kính cung thỉnh ............ từ bi thuyết giảng Phần V. Học và hỏi bài học hôm nay. Namo Buddhaya.
VI. Đố Vui (... biên soạn)
...
________________________________________
Phần II: Hồi Hướng này đọc khi kết thúc phần đố vui và giảng sư mời Pt MC lên hoàn mãn buổi học. Giới thiệu bài học hôm sau/ Hồi Hướng (Tri Chúng lên hồi hướng).
Sadhu! Sadhu ! Lành Thay!
Con .......... thay mặt đại chúng trong room, chúng con kính tri ân Chư Tôn Đức đã mở lòng bi mẫn giảng dạy Phật pháp hữu ích cho chúng con , đã hướng dẫn, dìu dắt chúng con tiến bước trên hành trình tu tập hầu mong đem lại an lạc trong đời sống và hướng đến đạo quả giải thoát luân hồi. Nguyện hồi hướng phước báu pháp thí đến Ni Sư Diệu Tịnh được nhiều an lạc, tùy tâm mãn nguyện. Cám ơn đại chúng đã lắng tâm thanh tịnh thính pháp. Kính cám ơn quý chủ nhiệm, Ops, xướng ngôn viên đã yểm trợ cho các phần hành trong lớp học được hoàn tất mỹ mãn. Chúng con kính chúc chư Tôn Đức thân tâm thường lạc, đạo hạnh trang nghiêm, tâm bồ đề viên đắc, Phật đạo chóng viên thành, chúc quý đạo hữu luôn an lạc cát tường trong chánh pháp nhiệm màu của Đức từ phụ Thích Ca Mâu Ni.
Kính Bạch chư Tôn Đức,
Kính thưa quý đạo hữu,
Ngày mai chúng ta sẽ có Lớp Trung Bộ Kinh do ÐÐ Lá Bối đảm trách phần II Nội Dung Chính và Chư Tôn Đức giảng sư sẽ giảng giải các phần khác trong bài học, với sự điều hợp chương trình của các Ops và MC. Để kết thúc chương trình xin chúng ta nhất tâm hồi hướng.
Nguyện công đức đã làm
Kết duyên lành giải thoát
Nguyện hồi hướng chư thiên
Hàng thiện thần hộ pháp
Nguyện các bậc hữu ân
Ðồng thừa tư công đức
Nguyện chánh pháp trường tồn
Chúng sanh cầu giải thoát
Namo Buddhaya
mở kinh tụng và nhạc, (đóng room)
Kính thưa đại chúng, chương trình sinh hoạt hôm nay đến đây đã kết thúc. Ban điều hành room Diệu Pháp xin phép được đóng room trong vài giây tới. Kính chào tạm biệt tất cả hẹn ngày mai sẽ trở lại trong giờ thường lệ. Namo Buddhaya.
Thứ Hai, 25 tháng 12, 2006
Bảo Tháp Phật Giáo Ngài Huyền Trang
đề cập được khám phá tại Orissa
New Delhi, ngày 19 tháng 12 -- Bảo Tháp Phật Giáo đã được đề cập bởi một du tăng Trung quốc Ngài Huyền Trang trong tài liệu của Ngài, được khám phá trong thời gian khai quật ở Orissa.
Học viện Orissan ở Maritime và các Vịện Nghiên Cứu Đông Nam Á, Bhubaneswar đã hướng dẫn cuộc khai quật tại Langudi, Tarapur, Deuli, và Kayama và tường trình sự khám phá của ngôi bảo tháp Phật giáo đã được đề cập bởi Ngài Huyền Trang, Bộ trưởng bộ Du Lịch và Văn Hóa, Ambika Soni tường trình Thượng viện (Raiya Sabha) trong một bài hồi đáp.
Cuộc khai quật cũng mang ra ánh sáng vài câu khắc ngắn tại Brahmi, Shankh lipi, proto-Oriya và các nguyên bản Oriya và các di vật khác đánh dấu lại từ thế kỷ thứ 2 trước Công Nguyên đến thế kỷ thứ 7 và 8 sau Công Nguyên, Bà nói.
Viện nghiên cứu Khảo cổ Ấn độ (ASI) đã tuyên bố Đồi Langudi và các di vật khảo cổ được xem như các di tích lịch sử quan trọng của quốc gia.
Bộ Du lịch Liên Bang đã phê chuẩn 740.67 lakh (1,648,497 dollars) trong năm 2004-05 cho sự phát triển mạng Phật giáo tại Orissa để nâng cấp các cơ sở tại Langudi và các danh thắng Phật giáo khác.
------------------------------------------------------------------------------------------
No. 1301 NEW (Hạt Cát dịch)
Danh tăng người Mỹ đầu tiên đại diện Phật Giáo Hoa
Kỳ trong Hội Nghị Thượng Ðỉnh Phật Giáo Thế Giới
Seattle, WA (USA) -- Trưởng Lão Sayadaw Gyi U Vimalaramsi, vị danh tăng Phật Giáo Nguyên Thủy người Mỹ, được biết đến với tôn danh Venerable Bhante Vimalaramsi, đã chính thức được công nhận là Ðệ Nhất Ðại Biểu của Phật Giáo Hoa Kỳ đối với Hội Nghị Thượng Ðỉnh Phật Giáo Thế Giới.Trong vai trò mới, Ngài sẽ đại diện cho Hoa Kỳ tại Hội Nghị Thượng Ðỉnh được tổ chức tại Kobe, Nhật Bản vào mùa Xuân năm 2007. Mục đích của hội nghị thượng đỉnh là mang tất cả những truyền thống Phật Giáo khác nhau trên thế giới cùng ngồi lại với nhau, thống nhất để thành lập một cơ chế liên hiệp cùng làm việc hướng đến sự quân bình, khoan dung và hòa bình thế giới cho nhân loại . Hội Nghị được nhóm họp mỗi hai năm một lần.
Ngài Vimalaramsi đang bắt đầu chương trình liên kết trong chuyến du hành một vòng Mỹ Quốc kể cả một chặng dừng ba tuần ở Seattle vào tháng Giêng 2007. Ngài sẽ lưu trú tại Tu Viện Atammayatarama Buddhist Monastery ở Woodinville, tiểu bang Washington.
Vị thế Ðại Biểu Hoa Kỳ trong Hội Nghị Thượng Ðỉnh Phật Giáo Thế Giới của Ngài Vimalaramsi là một biểu hiện thế giá cho Phật Giáo trên đất nước này. Cho đến nay, chưa có một tu sĩ người Mỹ bản xứ nào được ngồi trong một hội nghị ở ghế đại diện Phật Giáo Hoa Kỳ như thế.
Hội Nghị trao đổi và thảo luận một điểm tương lai chung cho các truyền thống Phật giáo khác nhau. Có các đại biểu từ hơn 50 quốc gia khác nhau sẽ tham dự Hội Nghị Thượng Ðỉnh này. Ðể được xác chứng là một thành viên, một tu sĩ đại diện cho quốc gia họ phải được đề cử do những thành viên khác. Ðối với sự đại diện của quốc gia này trong nghị hội, một tu sĩ gốc Hoa Kỳ với một môi trường ảnh hưởng rộng rãi là điều cần thiết. Ngài Vimalaramsi là vị tu sĩ Hoa Kỳ đầu tiên dành được sự chú ý của lãnh đạo Phật Giáo thế giới.
Hôm 07 đến 14 tháng 11 vừa qua, Ngài Vimalaramsi đã bay sang Kobe, Nhật Bản để hoàn tất thủ tục đề cử cho vai trò Ðại Biểu Phật Giáo Hoa Kỳ trong Hội Nghị Thượng Ðỉnh Phật Giáo Thế Giới.
Ngài đã du hành qua một phần lớn Miền Nam Nhật Bản và thảo luận về tình trạng Phật Giáo thế giới với các vị lãnh đạo khác. Ðề cử Ngài vào cương vị đại biểu này là Sư Nandisena, vị Ðại Biểu Mexico. Một trong số thành viên khác ủng hộ sự đề cử này là sư phụ Ngài, cố thiền sư Silananda, người luôn khuyến khích Ngài trong nhiều năm, cố trưởng lão K. Sri Dhammananda, Bhante Buddharakkhita, Ðại Biểu Uganda là pháp lữ cũng là những người đã ủng hộ Ngài. Với cương vị Ðại Biểu Hoa Kỳ, Bhante Vimalaramsitu từ nay sẽ tham gia vào nhiệm vụ cứu xét lại những bộ kinh Phật giáo xuất hiện sớm nhất để thẩm định xem có còn phù hợp cho tới ngày nay không.
Nhật Hành
Ngày: 25 tháng 12 năm 2006
Tri chúng: Bích Thu
Tri chúng điền khuyết: Nhu Phuc
Môn học: Lớp Phật Giáo Sử
Bài học: A Dục Vương và sự phát triển của Phật Giáo _ II - SỰ TIẾN TRIỂN CỦA PHẬT GIÁO (Tiếp Theo).
Giảng Sư Chính: ÐÐ Hữu Minh
Giảng Sư Điền khuyết: TT Tuệ Siêu
Vị Tăng hoặc Ni nói lời cầu nguyện đầu lớp học: ĐĐ Minh Hạnh
Xướng ngôn viên: Nhu Phuc, Anitya, Hat Cat, Tinh Tan, Nguon Duc Hanh, Upekha, Bich Thu, Karuna, Gioi Huong (tin tức), Minh Chau54, Duong Tieu, Sangkhaly (rời room đúng giờ). http://www.phapluan.net & http://bandieuhanh.blogspot.com
Người mở room: Bich Thu, Hat Cat.
Người mở nhạc và kinh tụng: Hat Cat, Bich Thu.
Người hoán chuyển bài cho Room: Hat Cat - Nhu Phuc (đk).
Người post bài cho Room: Bich Thu - NguonDucHanh - Upekha (Bài Học, Đố Vui, Tin Tức & Post End).
Người post và gửi bài riêng cho chư Tăng: Upekha, NguonDucHanh (đk).
Trực room (op): Upekha, Ops.
Thông báo (nếu có): Cô Minh Châu xin nghỉ phép 15/12 - 15/1/07.
________________ Cô Anitya xin nghỉ phép 20 - 25/12.
________________ Cô Tinh Tấn xin nghỉ phép 24 - 31/12.
Bài Đọc ngày thứ 2 của MC
Phần I Lễ Tam Bảo, Phần này đọc sau khi dứt kinh tụng
Namo Buddhaya
MC1: Con ............. (................ điền khuyết) thành kính đảnh lễ Chư Tôn Ðức Tăng Ni, thân chào tất cả quí vị hiện diện. Hôm nay Thứ hai, ngày 25 tháng 12 năm 2006 Phật lịch 2550. Ðây là chương trình Phật Học trực tiếp thực hiện trên Paltalk mỗi ngày, giờ VN nhằm 8:00 đến 10:30 tối, giờ Houston 7:00 đến 9:30 sáng, giờ NY từ 8:00 đến 10:30 sáng, giờ Cali 5:00 đến 7:30 sáng, giờ Paris 2:00 đến 4:30 chiều, giờ Sydney 12:00 tối đến 2:30 sáng.
Kính thưa quý vị, lớp Lịch Sử Phật Giáo hôm nay chúng ta sẽ học bài A - Dục Vương và sự phát triển của Phật Giáo _ II - SỰ TIẾN TRIỂN CỦA PHẬT GIÁO (tt) do ÐÐ Siêu Minh giảng giải phần II nội dung chính. Chúng ta sẽ được nghe chư Tôn Ðức giảng giải các phần khác trong bài học, chương trình tiếp tục với các câu đố và kết thúc với bản tin Phật Giáo.
Mở đầu chương trình xin tất cả chúng ta trang nghiêm tam nghiệp đảnh lễ Tam Bảo.
Chúng con xin kính thỉnh Đại Đức Minh Hạnh đọc kinh Lễ Tam Bảo hôm nay. Namo Buddhaya
(Đại Đức Minh Hạnh)
Nhất tâm đảnh lễ Ðức Như Lai bậc Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Ðiều Ngự, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.
Nhất tâm đảnh lễ Chánh Pháp do Phật thiện thuyết, thiết thực hiện tiền, vượt ngoài thời gian, đến để chứng nghiệm, hiệu năng hướng thượng, trí giả thân chứng.
Nhất tâm đảnh lễ Chư Tăng đệ tử Thế Tôn bậc diệu hạnh, trực hạnh, như lý hạnh, chân chánh hạnh, gồm bốn đôi tám vị, đáng nhận lễ phẩm, tặng phẩm, tế phẩm, kính lễ, là phước điền vô thượng trong đời.
Nguyện cầu uy đức Phật Bảo
Nguyện cầu uy đức Pháp Bảo
Nguyện cầu uy đức Tăng Bảo
Xin Tam Bảo gia hộ
Ngăn ngừa mọi tai ương
Những hiện tượng bất tường
Những mộng mị xấu xa
Những nghịch duyên trở ngại
Thảy đều mau tan biến
Nguyện muôn loài chúng sanh
Người khổ xin hết khổ
Người sợ hết sợ hãi
Người sầu hết sầu bi
Biết cho với niềm tin
Biết hộ trì giới hạnh
Biết lạc trú trong thiền
Chư thiên đã vân tập
Xin tùy hỷ phước lành
Ðược cát tường như ý
Rồi phản hồi thiên xứ
Chư Toàn Giác đại lực
Chư Ðộc Giác đại lực
Thinh Văn Giác đại lực
Nguyện tổng trì uy đức
Cầu phúc lành phát sanh (lạy)
*****************************
___________________________________________________
(MC1 của phần I: ............... (.............. điền khuyết) )
Kính tri ân Sư Minh Hạnh.
Kính bạch chư tôn đức
Kính thưa đại chúng
Bài Học hôm nay:
---o0o---
A - Dục Vương và sự phát triển của Phật Giáo
II - SỰ TIẾN TRIỂN CỦA PHẬT GIÁO (tt)
Ảnh Hưởng Từ Công Cuộc
Hoằng Pháp Của Vua A Dục
B. TẠI CÁC NƯỚC PHÍA BẮC: TRUNG Á VÀ TRUNG HOA
Tác giả P. V. Bapat
Việt dịch Hữu Song Nguyễn Đức Tư
____________
I. Đại lược
Mặc dù không biết chính xác thời điểm đạo Phật được đưa vào Trung Á, nhưng gần như chắc chắn rằng các bộ lạc du mục Sakas và Kishanas, cũng như các thương nhân Ấn Độ đã đưa nền văn hóa Ấn Độ cùng với đạo Phật đến nhiều bang khác nhau của miền Đông Turkestan ít nhất một thế kỷ trước kỷ nguyên Thiên Chúa. Ngày nay, người ta có bằng chứng xác thực cho thấy rằng những khu kiều dân nho nhỏ người Ấn Độ đã được lập ra phía Nam của vùng này, từ Khotan đến tận Labnor, trước kỷ nguyên Thiên Chúa. Một thổ ngữ Ấn Độ tương tự thổ ngữ của miền Tây Bắc Ấn Độ, đã là ngôn ngữ chính thức trong một số bang tại đây. Các thực dân người Ấn là những người đầu tiên dưa Phật giáo đến miền này.
Chúng con kính cung thỉnh ............ từ bi thuyết giảng Phần I. Đại lược bài học hôm nay. Namo Buddhaya.
II. Nội dung chính A. Truyền thuyết lâu đời của xứ Khotan nói rằng một người con trai của A-dục tên là Kustana đã lập ra vương quốc này 234 năm sau ngày Đức Phật nhập diệt, nghĩa là khoảng năm 240 trước Công nguyên, và người cháu trai (gọi bằng ông) của ông này là Vijayasambhava đã đưa Phật giáo vào Khotan. Một học giả Phật giáo tên Arya Vairocana từ Ấn Độ đến đây và đã trở thành thầy dạy của nhà vua. Tu viện đầu tiên ở Khotan được xây vào năm 211 trước Công nguyên. Truyền thuyết còn nói thêm rằng một triều vua Ấn Độ đã cai trị Khotan suốt 56 đời trong đó Phật giáo luôn luôn là tôn giáo hàng đầu của miền này. Trong thời kỳ cực thịnh của mình, Phật giáo đã có tại Khotan gần bốn nghìn cơ sở gồm các tu viện, đến chùa. Các đoàn hành hương Trung Hoa đến đây như Pháp Hiển (Fa-hien), Tống Vân (Song Yun) và Huyền Trang (Yuan Chwang) chứng minh cho sự phồn thịnh của Phật giáo ở Khotan cho đến khoảng thế kỷ thứ 8 sau Công nguyên. Khotan là điểm phát tán đạo Phật đến các bang ở phía Nam như Niya, Calmadana (Cherchen), Kroraina (Loulan) và cả Cokkula (Kashgar).
B. Có bốn bang quan trọng tại miền Bắc của Turkestan thuộc Trung Hoa đó là Bharuka (Aksu), Kucha, Agnidesa (Karashahr) và Kao-chang (Turfan). Kucha là bang mạnh nhất trong bốn bang này và có vai trò chủ yếu trong việc truyền bá đạo Phật đến các bang miền Bắc cũng như đến Trung Hoa. Kucha có lẽ đã tiếp nhận đạo Phật trong thế kỳ thứ nhất sau Công nguyên. Biên niên sử Trung Hoa về thế kỷ thứ 3 nói rõ rằng có gần một nghìn đền chùa và bảo tháp ở Kucha trong thời kỳ này. Các tu sĩ Phật giáo ở Kucha đã từng đi đến Trung Hoa trong thời kỳ này và đã tham gia tích cực trong việc dịch thuật các văn bản Phật giáo. Các phát hiện của ngành khảo cổ cho thấy rằng Phật giáo đã là tôn giáo thịnh hành ở miền Bắc cho đến khoảng thế kỷ thứ 8. Sau sự suy tàn của các bang này, Phật giáo còn được bảo trợ cho đến thế kỷ thứ 11 bởi Uigur Turks, triều đại này đặt kinh đô tại vùng Turfan.
Chúng con kính cung thỉnh ............ từ bi thuyết giảng Phần II. Nội dung chính bài học hôm nay. Namo Buddhaya.
Hỏi: Xin cho biết về Tôn giả KIỀU TRẦN NHƯ (Kaundinya - Kondañña) ?
Đáp: (Vị đệ tử xuất gia và chứng quả A la hán đầu tiên của đức Phật, là thành viên đầu tiên của giáo đoàn, có pháp lạp cao nhất).
Tên của tôn giả, gọi cho đầy đủ là A Nhã Kiều Trần Như (Ajnata Kaundinya - Anna Kondanna). Tôn giả vốn là một đạo sĩ Bà la môn trẻ tuổi và cực kì thông minh ở thành Ca Tì La Vệ vào lúc thái tử Tất Tạt Đa (Siddhartha - Siddhattha) đản sinh. Thuở ấy, vua Tịnh Phạn đã mời sa môn Kiều Trần Như và đông đảo các vị sa môn học rộng tài cao khác vào triều dự lễ đặt tên cho thái tử. Trong buổi lễ này, sau khi quan sát tướng mạo đặc biệt của thái tử, Kiều Trần Như quả quyết rằng, sau này thái tử sẽ hoàn toàn thoát tục và đắc quả đại chánh giác. Bởi vậy, về sau, khi nghe tin thái tử Tất Đạt Đa từ bỏ hoàng cung vào rừng xuất gia học đạo, ông đã dẫn theo bốn đạo sĩ thân thiết (con của các vị đạo sĩ khác) tên là Bạt Đề (Bhardrika - Bhaddiya), Bà Sư Ba (Vaspa -Vappa), Ma Ha Nam (Mahanama) và A Thuyết Thị (Asvajit - Assaji), cùng đi tìm thái tử để tu học. Khi đức Cồ Đàm (Gautama - Gotama - tức thái tử Tất Đạt Đa) tìm đến đạo tràng của đạo sư Uất Đầu Lam Phất (Udraka Ramaputra - Uddaka Ramaputta), ở vùng phụ cận phía Nam kinh thành Vương Xá, của vương quốc Ma Kiệt Đà để xin học đạo, Ngài đã gặp sa môn Kiều Trần Như nơi đây (1). Hai vị sa môn đần dần kính mến nhau về thông minh tài trí và đức hạnh thanh cao, mà trở thành tri kỉ của nhau.
Vườn Lộc Uyển là nơi sa môn Kiều Trần Như cùng vơí bốn bạn hữu đã trở thành năm vị đệ tử tì kheo đầu tiên của đức Phật. Họ cũng là năm thành viên đầu tiên của giáo đoàn đức Phật. Riêng tôn giả Kiều Trần Như lại còn là vị đệ tử đã chứng thánh quả A la hán đầu tiên của Phật, và trở thành vị đệ tử lớn nhất của Ngài lúc bấy giờ. Từ đây, ngôi Tam Bảo đã được xuất hiện ở thế gian, với đức Thích Ca Cồ Đàm (Sakya Gotama) là Phật Bảo, giáo pháp do Ngài vừa giảng dạy là Pháp Bảo, và năm vị tì kheo nhóm Kiều Trần Như là Tăng Bảo.
Vườn Lộc Uyển lúc đó được coi là đạo tràng hành hóa đầu tiên của đức Phật, và Ngài đã mặc nhiên giao trách nhiệm trông coi đạo tràng cho tôn giả Kiều Trần Như.
Cuộc đời về sau này của tôn giả Kiều Trần Như, không thấy có tài liệu nào nói tới; chỉ biết là tôn giả đã nhập niết bàn trước Phật rất lâu. (2)
Tôn giả đã được Phật công nhận là vị đệ tử lớn có pháp lạp cao nhất của Ngài.
Chúng con kính cung thỉnh ............ từ bi thuyết giảng Phần III. Người Xưa Chốn Cũ bài học hôm nay. Namo Buddhaya.
IV. Chữ và nghĩa (TT Tuệ Siêu biên soạn câu trả lời)
Hỏi: Chữ "Tạng" trong "Tam Tạng" nghĩa là gì ?
Ðáp: Chữ Tạng (Piṭaka) có nghĩa là cái giỏ để đựng; là một loại giỏ đan bằng tre nứa có kích cỡ lớn giống như cái bội tre. Gọi là Tam Tạng (Tipiṭaka) tức là ba cái giỏ đựng kinh điển; gốc tích có danh từ này là trong kỳ kết tập kinh điển lần thứ ba, lời dạy của Đức Phật đã được ghi trên bối diệp (lá bối hay lá buông) số lượng những chiếc lá kẻ chữ rất nhiều do đó sau khi kết tập xong người ta chuyên chở kinh điển bằng những chiếc lá ấy từ điểm hội nghị kết tập về thành vua phải chuyên chở bằng bạch tượng, và đựng trong chiếc giỏ trên lưng bạch tượng. Mỗi giỏ gồm có Tạng Luật, Tạng Kinh và Tạng Vi Diệu Pháp. Từ sự tích này nên mới có danh từ Tam Tạng.
Chúng con kính cung thỉnh ............ từ bi thuyết giảng Phần IV. Chữ và nghĩa bài học hôm nay. Namo Buddhaya.
V. Học và hỏi (Sư Tuệ Minh biên soạn câu trả lời)
Hỏi: Có thật sự hiện nay là thời "mạt pháp" chăng ?
Ðáp: Do nhu cầu vật chất nên con người phải chạy theo và không còn thiết tha trong tu tập. Hoặc giả thích làm thiện hơn thực hành Pháp. Tuy nhiên Phật Giáo trong thời buổi hiện tại vẫn đang thịnh hành vì còn có người yêu Pháp, mến Pháp và hành Pháp. Tóm lại khi nào Giáo Pháp còn truyền bá, Tăng già còn hiện hữu thì khi đó Phật Pháp còn tồn tại.
Chúng con kính cung thỉnh ............ từ bi thuyết giảng Phần V. Học và hỏi bài học hôm nay. Namo Buddhaya.
VI. Đố Vui (... biên soạn)
...
Phần II: Hồi Hướng này đọc khi kết thúc phần đố vui và giảng sư mời Pt MC lên hoàn mãn buổi học. Giới thiệu bài học hôm sau/ Hồi Hướng (Tri Chúng lên hồi hướng)
Sadhu! Sadhu ! Lành Thay!
Con .......... thay mặt đại chúng trong room, chúng con kính tri ân Chư Tôn Đức đã mở lòng bi mẫn giảng dạy Phật pháp hữu ích cho chúng con, đã hướng dẫn, dìu dắt chúng con tiến bước trên hành trình tu tập hầu mong đem lại an lạc trong đời sống và hướng đến đạo quả giải thoát luân hồi. Nguyện hồi hướng phước báu pháp thí đến Ni Sư Diệu Tịnh được nhiều an lạc, tùy tâm mãn nguyện. Cám ơn đại chúng đã lắng tâm thanh tịnh thính pháp. Kính cám ơn quý chủ nhiệm, Ops, xướng ngôn viên đã yểm trợ cho các phần hành trong lớp học được hoàn tất mỹ mãn. Chúng con kính chúc chư Tôn Đức thân tâm thường lạc, đạo hạnh trang nghiêm, tâm bồ đề viên đắc, Phật đạo chóng viên thành, chúc quý đạo hữu luôn an lạc cát tường trong chánh pháp nhiệm màu của Đức từ phụ Thích Ca Mâu Ni.
Kính Bạch chư Tôn Đức,
Kính thưa quý đạo hữu,
Ngày mai chúng ta sẽ có Lớp Ngôn Ngữ Thiền Môn do Ni Sư Liễu Pháp đảm trách phần II Nội Dung Chính và Chư Tôn Đức giảng sư sẽ giảng giải các phần khác trong bài học, với sự điều hợp chương trình của các Ops và MC. Để kết thúc chương trình xin chúng ta nhất tâm hồi hướng.
Nguyện công đức đã làm
Kết duyên lành giải thoát
Nguyện hồi hướng chư thiên
Hàng thiện thần hộ pháp
Nguyện các bậc hữu ân
Ðồng thừa tư công đức
Nguyện chánh pháp trường tồn
Chúng sanh cầu giải thoát
Namo Buddhaya
mở kinh tụng và nhạc, (đóng room)
Kính thưa đại chúng, chương trình sinh hoạt hôm nay đến đây đã kết thúc. Ban điều hành room Diệu Pháp xin phép được đóng room trong vài giây tới. Kính chào tạm biệt tất cả hẹn ngày mai sẽ trở lại trong giờ thường lệ. Namo Buddhaya.
Chủ Nhật, 24 tháng 12, 2006
Hòa Thượng trụ trì Tu viện
Phật Giáo Luân Đôn đã viên tịch
Lankaweb, ngày 15 tháng 12, 2006
London, United Kingdom -- Trưởng Lão Hòa Thượng Tiến Sĩ Medagama Vajiragnana, vị trụ trì của Tu viện Phật Giáo Luân Đôn và Trưởng Hội Tăng già Nayaka của Anh Quốc đã viên tịch vào ngày 15 tháng 12, 2006 lúc 9 giờ 15 sáng (giờ Luân Đôn) tại Bệnh viện Hammersmith, Luân Đôn, hưởng thọ 78 tuổi (1928-2006).
Cố Trưởng Lão Hòa Thượng Tiến Sĩ Medagama Vajiragnana sinh tại Sri Lanka vào năm 1928. Ngài xuất gia Sa di tại một chùa làng của Hippola vào ngày 23 tháng Ba, 1943 với tuổi 14 và thọ đại giới tại Tu viện Malwatuvihara tại Kandy vào ngày 11 tháng Năm, 1949 lúc 20 tuổi. Khởi đầu Ngài thọ giáo tại tu viện Hippola, trước khi được chuyển đến Pratiraja Pirivena tại Agalawatte cho hai năm học kế tiếp, và sau đó 9 năm tại Vidyodaya Pirivena ở Colombo. Vào năm 1955, Ngài nhận bằng Pandit từ Hội Nghiên cứu đông phương. Rồi Ngài học hai năm Đại học Sư phạm Pirivena tại Ratmalana, sau đó Ngài được mời làm hiệu trưởng tại Parama Dhamma Cetiya Pirivena ở Ratmalana.
Vào năm 1961, Ngài tiếp tục học tại Ấn Độ và nhận chứng chỉ hai năm tại Đại Học Sanskrit ở Benares, và bằng Thạc sĩ về Sanskrit tại Đại Học Jadavpur ở Calcutta. Ngài trở về Sri Lanka để tiếp tục dạy học tại trường Đại học Sư phạm Pirivena tại Ratmalana vừa kể trên.
Vào năm 1966, Ngài đến Âu Châu lần đầu tiên, khi Hội Anagarika Dharmapala Trust cung thỉnh Ngài làm Phó trụ trì của Tu viện Phật giáo Luân Đôn, một Học viện Phật giáo lâu đời nhất ở miền Tây. Mặc dầu có những sự khác biệt về văn hóa và ngôn ngữ, Trưởng Lão Hòa Thượng Tiến Sĩ Vajiragnana đã thiết lập một chương trình các lớp Phật giáo và ngôn ngữ Pali đã thu hút nhiều người Anh bản xứ không phải là Phật tử. Vào năm 1974 Ngài trở thành Giám đốc Hội Phật Giáo Anh Quốc. Năm 1980 Ngài được mời trở về Sri Lanka để làm Hiệu trưởng trường Đại học Sư Phạm Pirivena tại Ratmalana nói trên. Rồi đến năm 1984 Ngài trở lại Anh quốc giữ chức Trụ trì Tu viện Phật giáo London. Một trong những trách nhiệm đầu tiên của Ngài là phục hồi và phát triển chương trình dạy học. Vào năm 1986, Ngài được mời để khởi sự dạy một lớp Phật giáo tại Đại học Birkbeck, một chi nhánh ngoài thành của Đại Học London.
Trong 20 năm Ngài đã đại diện cho đức tin Phật giáo trong lễ kỷ niệm khối Cộng Đồng hàng năm tại Westminster Abbey. Ngài cũng được cung thỉnh để đại diện cộng đồng trong các buổi lễ hoàng gia, như lễ nữ hoàng H.M Golden Jubilee và lễ thượng thọ 100 năm của Hoàng Thái Hậu là thân mẫu của Nữ Hoàng Elizabeth.
Cố Trưởng Lão Hòa Thượng Tiến Sĩ Vajiragnana được cung thỉnh thuyết pháp liên tục, không những chỉ cho Anh quốc mà còn cho những nước khác trên thế giới. Năm 1987 Ngài được mời tham dự Hội nghị chuyên đề Đức tin vào hòa bình tại La Mã được tổ chức tại Nhà Thờ Thiên Chúa Giáo. Vào năm 1999, Ngài có phương tiện thành lập Hội Rahula, một hội cứu tế nhằm mục đích giúp đỡ trẻ em xứng đáng nhận học bổng, không thành vấn đề về văn hóa và tôn giáo. Ngày nay hội này đang giúp đỡ hàng trăm trẻ em tại Sri Lanka, Nepal, và Kenya. Ngài là tác giả của nhiều quyển sách, các kinh sách nhỏ, và các bài báo liên quan đến tất cả khía cạnh về đức tin Phật giáo.
Trong bản danh dự đầu năm mới của năm 2006, Trưởng Lão Hòa Thượng Tiến Sĩ M.Vajiragnana được chỉ định làm O.B.E. cho sự phục vụ của Ngài về những tương quan niềm tin tôn giáo. Đây là sự công nhận của nhiều năm phục vụ mà Ngài đã cống hiến để phát triển sự thông hiểu giữa các tín đồ và tất cả các đức tin, và truyền bá lòng khoan dung và hòa hợp giữa tất cả những cộng đồng.
Lễ Trà Tỳ được tổ chức tại Luân Đôn.
------------------------------------------------------------------------------------------
No. 1299 NEW (Hạt Cát dịch)
Thái Lan: Phật tử tản cư
đòi chính phủ cung cấp nhà mới
Dân chúng đã đòi hỏi chính quyền phải đáp ứng cho yêu cầu của họ trong vòng 15 ngày nếu không thì họ sẽ xuống đường biểu tình ở Bangkok.
Các cư dân đã rời bỏ nhà ra đi tạm trú tại ngôi chùa nói rằng họ không bằng lòng tiếp tục sống tại chùa nữa vì chi phí sinh hoạt tăng cao. Tuy nhiên, họ lấy làm sợ hãi khi phải về nhà.
Trưởng làng Charan Kliangsriphrom nói họ chỉ trở về nhà khi nào nền an ninh được tái lập trong vùng.
Phật tử từ ba ngôi làng Yala tại Than To và Bannang Sata rời bỏ nhà cửa họ và đến tạm cư ở ngôi chùa gần đó hồi tháng rồi khi bạo động leo thang.
Thong Chai lamhira, một dân làng, nói họ sẽ biểu tình tại Bangkok nếu như họ không nhận được hồi đáp nào từ chính quyền trong vòng 15 ngày. Anh nói thêm "Phật tử trong ba tỉnh này đã bị bỏ lơ quá lâu".
Các cơ quan chính quyền khuyến khích dân chúng nên rời chùa. Tỉnh trưởng Yala Theera Mintarasak cho biết rằng đã có 54 người trở về nhà. Chính quyền tỉnh đã cung cấp cho dân làng nhu yếu phẩm trong đời sống hằng ngày.
Nhân viên an ninh đã được gửi tới các ngôi làng và sẽ được tăng cường ở những vùng nhạy cảm trong dịp đầu Năm Mới sắp tới.
Nhật Hành
Ngày: 24 tháng 12 năm 2006
Tri chúng: Upekha
Tri chúng điền khuyết: Dieu Quang
Môn học: Lớp Phật Học Thường Thức
Bài học: Ngụ Ngôn Chìm Nổi
Giảng Sư Chính: ĐĐ Tuệ Quyền
Giảng Sư Điền khuyết: TT Giác Đẳng
Vị Tăng hoặc Ni nói lời cầu nguyện đầu lớp học: ĐĐ Minh Hanh
Xướng ngôn viên: Minh Lac, Tri Dat, Hat Cat, Anitya, Gioi Huong, Upekha, Dieu Quang, Bich Thu, Nguon Duc Hanh, Tinh Tan, Duong Tieu, Nhu Phuc, Chanh Hanh, Minh Chau54, Karuna. http://www.phapluan.net & http://bandieuhanh.blogspot.com
Người mở room: Dieu Quang, NguonDucHanh (đk).
Người mở nhạc và kinh tụng: Dieu Quang, (đk: NguonDucHanh, Anitya, Tinh Tan, Bich Thu, Upekha).
Người hoán chuyển bài cho Room: Hat Cat, NguonDucHanh (đk)
Người post bài cho Room: Hat Cat, Tinh Tan (đk).
Người post và gửi bài riêng cho chư Tăng: Hat Cat, NguonDucHanh (đk).
Trực room (op): TC đk & Các ops.
Thông báo (nếu có): Cô Minh Châu xin nghỉ phép 15/12 - 15/1/07.
________________ Cô Anitya xin nghỉ phép 20 - 25/12.