I. Đại lược (TK Giác Đẳng biên soạn)
Hỏi: Xin cho biết đại lược về bài học.
Ðáp: Cho dù người tu Phật có muốn hay không muốn thì việc học Phật ngày nay chắc hẳn phải nói đến những tông phái. Năm trăm năm sau ngày viên tịch của Đức Phật, Phật giáo đã chính thức phân hóa thành nhiều tông phái. Bộ phân nguyên thủy được liệt vào tông phái chứ không phải tự biến mất hoàn toàn. Sự tồn tại của nguồn đạo cổ kính nầy vốn dựa trên ba yếu tố: địa dư (đã được truyền ra ngoài Ấn Đố trước thời phân hóa), tinh thần bảo thủ với ưu tiên là bảo lưu những gì nguyên thủy hơn là tùy duyên chuyển đổi, sau cùng nhờ và tính nhất quán của của Tam Tạng Pāli.
Chúng con kính cung thỉnh ............ từ bi thuyết giảng Phần I bài học hôm nay. Namo Buddhaya.
MC 2 ................. / ĐK: ..................
II. Nội dung chính (What is Theravāda Buddhism by John Bullitt - Dịch thuật: Lê Văn Phúc)
Hỏi: Xin đơn cử những điểm chính của bài học hôm nay ?
Ðáp: Theravāda nghĩa là gì ?
Theravāda (đọc như là thê-ra-va-đa), Học thuyết của các Trưởng lão, là một trường phái Phật giáo tiếp nhận giáo lý kinh điển từ Tipitaka, hay là kho tàng Thánh Điển Pālī, mà theo như các học giả thường đồng ý với nhau rằng còn lưu lại được những ghi chép các giáo lý ban đầu của Đức Phật còn tồn tại với thời gian. 1 Trong nhiều thế kỷ, Theravāda đã là tôn giáo thống ngự tại lục địa Đông Nam Á (Thái lan, Myanmar hay Burma, Cambodia, Lào và Srilanka). Ngày nay số Phật tử Phật giáo Theravāda lên đến con số trên 100 triệu trên toàn thế giới. 2 Trong những thập kỷ gần đây Theravāda bắt đầu bám rễ ở Phương Tây.
Chúng con kính cung thỉnh ............ từ bi thuyết giảng Phần II bài học hôm nay. Namo Buddhaya.
MC 2A ................. / ĐK: ..................
Nhiều tông phái Phật Giáo, Một Giáo Pháp và Giới Luật
Đức Phật - Đấng Giác Ngộ - gọi tôn giáo mà ngài thành lập là Giáo Pháp - và giới luật - học thuyết và giới luật. Nhằm cung cấp một cơ cấu xã hội để hỗ trợ việc thực hành Giáo Pháp và Giới Luật (hay là nói gọn là Dhamma: Pháp) (tiếng sankrit: Dharma), và cũng nhằm giữ gìn những giáo lý này cho hậu thế, Đức Phật đã thành lập Tăng chúng gồm Tỳ kheo (nam tu sĩ) và Tỳ kheo ni (nữ tu sĩ) - Sangha : Tăng chúng) - còn tồn tại đến ngày nay để lưu truyền giáo lý của Ngài cho các thế hệ mai sau kể cả các cư sĩ cũng như các tu viện.
Khi Phật Pháp tiếp tục phát triển khắp Ấn độ sau khi Đức Phật viên tịch, nhiều cách hiểu khác nhau về giáo lý nguyên thủy phát sinh, dẫn đến sự chia rẽ trong nội bộ Tăng chúng và xuất hiện có đến 18 phái Phật giáo khác nhau. 3 Một trong những trường phái này cuối cùng đã dấy lên phong trào cải cách và tự xưng là Mahayana (Đại thừa: Cỗ xe lớn hơn). 4. Và điều đó viện dần đến một trường phái khác kém quan trọng hơn là Hinayana (Tiểu thừa). Mà chúng ta gọi là Theravāda ngày nay là sự tồn tại duy nhất của những trường phái phi-đại thừa xưa kia. 5. Để tránh ngụ ý thiếu tôn trọng không hay khi dùng hai thuật ngữ Hinayana và Mahayana, ngày nay người ta dùng từ ngữ có tính trung lập hơn để chỉ hai hệ phái chính của Phật giáo. Bởi vì Theravāda về mặt lịch sử thống ngự nam Á, nên thường được gọi là Phật giáo Nam Tông, trong khi Mahayana, truyền nhập về phương bắc từ Ấn độ vào Trung Quốc, Tây Tạng, và Triều Tiên, nên gọi là Phật giáo Bắc Tông. 6.
Chúng con kính cung thỉnh ............ từ bi thuyết giảng Phần IIA bài học hôm nay. Namo Buddhaya.
MC 2B ................. / ĐK: ..................
Pālī: ngôn ngữ của Phật giáo Nguyên Thủy:
Ngôn ngữ của các văn bản kinh điển Theravāda là tiếng Pālī (văn bản) căn cứ vào phương ngôn Trung Ấn - Aryan, có lẽ được sử dụng ở vùng Trung Ấn thời Đức Phật. 7. Đai Đức Ānanda, người em họ và người hầu cận của Đức Phật ghi nhớ các bài thuyết pháp (suttas) của Đức Phật và do đó là kho lưu trữ sống của các giáo lý này. 8. Không lâu sau khi Đức Phật viên tịch (ca. 480 trước CN), 500 các tu sĩ kỳ lão - gồm cả Ngài Ānanda - tập họp để đọc và xác định tất cả các bài thuyết pháp mà họ đã nghe trong suốt 45 năm hành đạo cuả ngài. 9. Do đó hầu hết các bài thuyết pháp đều bắt đầu với lời dẫn, Như thế tôi từng nghe (Evaṃ me sutaṃ).
Sau khi Đức Phật viên tịch, giáo lý của Ngài tiếp tục được truyền miệng trong cộng đồng tu viện, giữ theo truyền thống truyền khẩu có từ lâu trước thời Đức Phật. 10. Vào khoảng 250 trước CN, Tăng chúng đã sắp xếp hệ thống và biên soạn những giáo lý này thành ba phần: Tạng Luật - Vinaya Pitaka (giỏ giới luật - các bản văn liên quan đến tập tục và qui luật của Tăng chúng), Sutta Pitaka (giỏ các bài giảng - các bài thuyết pháp, lời khuyên dạy của Đức Phật cho các Đại đệ tử cuả ngài), và Tạng Vi Diệu Pháp - Abhidhamma Pitaka (giỏ học thuyết đặc biệt / cao hơn) - một phân tích tâm lý - triết học của Giáo Pháp). Cả ba gộp lại được gọi là Tam Tạng Thánh Điển - Tipitaka, ba cái giỏ - Tam Tạng. Vào thế kỷ thứ ba tr.CN, các vị sư Tích lan (Sri Lanka) bắt đầu thực hiện biên soạn hàng loạt các bản chú giải về Tam Tạng; những bản chú giải này được tập hợp và dịch sang tiếng Pālī bắt đầu từ thế kỷ thứ 5 trước CN. Tam Tạng cùng với ngoài Chánh Tạng (các bản chú giải, biên niên v.v) tất cả hợp thành toàn bộ kho tàng giáo lý Nguyên Thủy - Theravāda.
MC 2C ................. / ĐK: ..................
Tiếng Pālī khởi nguyên là ngôn ngữ không có hệ thống mẫu tự riêng. Mãi cho đến khoảng năm 100 tr.CN thì Thánh Điển Tam Tạng mới được cố định bằng chữ viết lần đầu tiên, do các vị Tăng sĩ luật học đã viết chữ Pālī bằng cách dùng các mẫu tự Sinhala của họ. 11. Từ đó, Thánh Điển Tam Tạng đã được chuyển ngữ sang nhiều loại chữ viết (như Devanagari, Thai, Burmese, Roman, Cyrillic, chỉ kể sơ một số). Mặc dù các bản dịch tiếng Anh tràn ngập, nhiều người nghiên cứu Phật Giáo Nguyên Thủy - Theravāda thấy rằng việc học tiếng Pālī - cho dù chỉ lỏm bỏm đôi chút - cũng làm cho sự thấu hiểu và ngoạn thưởng của họ về giáo lý của Đức Phật được sâu hơn rất nhều.
Không ai có thể minh chứng rằng Thánh Điển Tam Tạng có chứa bất cứ một từ nào thật sự thốt ra từ kim khẩu của Đức Phật trong lịch sử. Các Phật tử tu học Phật không hề cho đây là vấn đề. Không giống như kinh điển của các tôn giáo lớn trên thế giới, Tam Tạng không được coi là thánh kinh, như là sự khẳng định không sai lầm về chân lý thiêng liêng, do một đấng tiên tri khải ngộ, phải được chấp nhận bằng đức tin thuần túy. Còn giáo lý của Đức Phật nhắm tới sự được thẩm định trước tiên, được thực hành trong cuộc sống của mình cho nên người ta phải tự phát hiện xem các giáo lý ấy, thực ra, có đem lại các kết quả mong đợi không. Chính chân lý mà ngôn ngữ trong Tam Tạng Kinh Điển chỉ dạy mới là tối quan trọng, chứ không phải chính bản thân ngôn ngữ. Dù rằng các học giả sẽ tiếp tục bàn cải về nguồn gốc của những phần trong Tam Tạng Kinh Điển trong nhiều năm sắp tới (và như vậy hoàn toàn đánh mất cốt lõi của giáo lý), Tam Tạng Kinh Điển sẽ âm thầm tiếp tục phục vụ - như chúng đã từng trong bao thế kỷ - như là sự hướng đạo không thể thiếu được cho hằng triệu tín đồ trong việc mưu cầu Giác ngộ.
Chúng con kính cung thỉnh ............ từ bi thuyết giảng Phần IIBC bài học hôm nay. Namo Buddhaya.
MC 3 ................. / ĐK: ..................
III. Người Xưa Chốn Cũ (NS Liễu Pháp biên soạn)
Hỏi: Xin cho biết vài chi tiết về tôn giả Upāli ? Cuộc kết tập kinh điển đầu tiên diễn ra ở đâu và thế nào ?
Đáp: Tôn giả Upāli sinh vào dòng Thủ Ðà La. Bởi thế, ngay từ thuở nhỏ đã không được hưởng quyền lợi về học vấn. Lúc lớn khôn cha mẹ định chọn cho Upāli một nghề sinh nhai. Nhưng trong các nghề mà người nô lệ được phép làm như lao động tay chân, cày cuốc, đánh xe, giữ ngựa, gánh phân, Upāli không đủ sức vì ốm yếu mảnh mai. Cuối cùng, Upāli được chọn đi học nghề thợ cạo râu tóc, nghề nhẹ nhàng nhất. Học chẳng bao lâu, Upāli thành thạo nghề nghiệp một cách tài tình. Nhờ có người giới thiệu, Upāli được nhận vào vương cung Kapilavatthu để hớt cạo râu tóc, trang điểm cho các vương tôn công tử. Nhờ đức tính thuần lương nhu mì, trung hậu, Upāli được vương tôn công tử tín nhiệm và cho ở lại trong cung đình. Khi Đức Phật về thăm lại thành Kapilavatthu, nhờ thấm nhuần mưa pháp, một số vương tôn công tử đã xin theo Đức Phật xuất gia. Upāli cũng theo các vương tôn công tử xuất gia cùng một ngày, nhưng Đức Phật cho Upāli thế phát trước, các vương tôn thế phát sau, để phá tâm kiêu mạn của các vương tôn và cho thấy tinh thần bình đẳng của giáo pháp, nhằm xóa bỏ mọi giai cấp trong xã hội. Trên đường giáo hóa, Upāli là người đầu tiên thuộc đẳng cấp nô lệ Thủ Ðà La được Đức Phật thu nhận tham dự giáo đoàn. Ðó cũng là một bước tiến bộ đầu tiên đã ghi vào lịch sử văn minh Ấn Ðộ. Về sau, Upāli trở thành vị Trì giới đệ nhất (vinayadharānaṃ).
MC 3A ................. / ĐK: ..................
Hội Nghị Kết Tập Kinh Điển Lần Thứ Nhất:
Sau ba tháng Thế Tôn viên tịch, những đại đệ tử của Ngài triệu tập một đại hội ở thành Rājagaha (Vương xá) để trùng tuyên và tổng kết những lời dạy của Đức Phật trong suốt 45 năm. Trưởng lão Kassapa trụ trì đại hội này. Có hai vị rất quan trọng trong đại hội này, các ngài thiên về hai lãnh vực khác nhau - hai vị này trùng tuyên lại Pháp và Luật (Dhamma và Vinaya): ngài Ānanda là vị đệ tử hầu cận Đức Phật trong suốt 25 năm, ngài có trí nhớ siêu việt, có thể đọc lại những điều Đức Phật đã thuyết giảng; và ngài Upāli đọc lại tất cả những giới luật Đức Phật đã ban hành.
Trong đại hội kết tập lần thứ nhất, toàn bộ Pháp và Luật được trùng tuyên lại. Trước khi Đức Thế Tôn viên tịch, Ngài có bảo Đại Đức Ānanda rằng nếu Tăng già muốn sửa đổi một ít giới luật nhỏ, thì các vị có thể sửa đổi. Nhưng lúc đó ngài Ānanda quá u sầu vì Thế Tôn sắp viên tịch, nên ngài không có hỏi bậc Đạo sư giới nào là giới nhỏ. Những thành viên của hội nghị không đồng ý về điều giới luật nào là giới nhỏ, cuối cùng trưởng lão Kassapa quyết định rằng không có giới luật nào Thế Tôn đưa ra phải thay đổi, và Ngài cũng không có giới thiệu thêm giới luật mới nào. Như vậy không có lý do chính đáng nào để thay đổi giới luật. Tuy nhiên trưởng lão Kassapa nhắc nhở một điều: "Nếu chúng ta thay đổi giới luật, dư luận quần chúng sẽ nói rằng đệ tử Sa Môn Gotama thay đổi giới luật trước khi Ngài hỏa táng".
Trong đại hội, giáo pháp được phân chia thành những phần khác nhau, mỗi phần được ấn định cho một vị trưởng lão và đệ tử của vị đó để ghi nhớ. Sau đó giáo pháp được truyền khẩu từ vị thầy đến đệ tử. Giáo pháp được đọc tụng hằng ngày do bởi những hội chúng thường xuyên kiểm chứng với nhau để bảo đảm rằng không có sự thiếu sót hoặc thêm bớt nào cả. Những nhà sử học công nhận rằng truyền thống khẩu truyền thì đáng tin cậy hơn một bản báo cáo do một người viết về một sự kiện xảy ra sau nhiều năm.
Chúng con kính cung thỉnh ............ từ bi thuyết giảng Phần III bài học hôm nay. Namo Buddhaya.
MC 4 ................. / ĐK: ..................
IV. Chữ và nghĩa (TT Tuệ Siêu biên soạn câu trả lời)
Hỏi: Từ ngữ thera được dùng trong kinh điển với ý nghĩa ra sao ?
Ðáp: Từ ngữ thera dịch là vị trưởng lão, thượng tọa, vị xứng đáng được chỗ ngồi trên trước trong Tăng chúng.
Từ ngữ thera, nếu nói theo tướng, thì luật qui định một vị tỳ kheo có hạ lạp từ 10 năm trở lên, được gọi là thera.
Nếu nói theo tánh, thì kinh dạy rằng một vị đáng gọi là thera phải có 10 đức tánh: Nhiều kinh nghiệm, giới hạnh, đa văn, thuộc lòng giới bổn, rành rẽ về việc hòa giải tranh sự, có chí cầu pháp, sống tri túc, giao tế lịch sự, đắc thiền định, chứng quả giải thoát.
Chúng con kính cung thỉnh ............ từ bi thuyết giảng Phần IV bài học hôm nay. Namo Buddhaya.
MC 5 ................. / ĐK: ..................
V. Học và hỏi (Sư Tuệ Minh biên soạn câu trả lời)
Hỏi: Tinh thần tông phái có làm tốt sự tu tập không ?
Ðáp: Khi Đức Phật níp bàn, Ngài có nhắn nhủ rằng "Sau khi Như Lai tịch diệt, Pháp và Luật này là thầy hướng đạo cho chúng đệ tử".
Một người đang tìm hiểu hay đang trong quá trình tu tập phải học và hiểu khi đối chiếu với kinh, y cứ vào luật thì mới hành theo. Vì từ khi Đức Phật viên tịch cho đến nay có rất nhiều tông, phái xuất hiện, mà mỗi tông, phái đó đều có một chủ thuyết riêng biệt.
Không hiểu về Kinh và Luật thì không có chánh kiến để phân biệt đâu là lời Phật dạy, đâu là không phải.
Có nhiều tông phái xuất hiện ảnh hưởng nhiều trong việc tu tập về các chủ thuyết của các tông, phái đó. Cho nên điều quan trọng nhất là "Pháp môn nào thực hành mà đem lại lợi ích, đưa đến giải thoát" thì pháp môn đó nên hành theo.
Chúng con kính cung thỉnh ............ từ bi thuyết giảng Phần V bài học hôm nay. Namo Buddhaya.
VI. Đố Vui (TT Giác Đẳng soạn câu đố)
1. Theo lịch sử thì từ "đại thừa" và "tiểu thừa" bắt đầu có mặt từ lúc nào ?
a. Thời Phật tai thế.
b. Thời vua Asoka.
c. Thế kỷ I Tây lịch.
d. Thế kỷ XII Tây lịch.
2. Ngôn ngữ Magadha được chọn làm ngôn ngữ kết tập kinh điển bởi vì:
a. Văn hóa Magadha là một trong những nền văn hóa chủ lưu của văn minh Ấn hà thời bấy giờ.
b. Tiếng Magadha mang tính đại chúng hơn giáo ngữ Sanskrit.
c. Cuộc kết tập Tam tạng đầu tiên được tổ chức tại kinh đô Vương Xá (Rājagaha).
d. Cả ba điều trên.
3. Tam tạng kinh điển được gìn giữ trong cách truyền khẩu có đặc điểm nào dưới đây ?
a. Được ghi rõ mỗi bộ có bao nhiêu phẩm, bao nhiêu bài kinh, bao nhieu đoạn, bao nhiêu chữ.
b. Cách học nằm lòng, trùng tụng, đối chiếu khả tính hơn sách in.
c. Tam tạng Pāli ghi rõ những gì thời Phật và những gì hậu tác.
d. Cả ba điều trên.
________________________________________
Phần II: Hồi Hướng này đọc khi kết thúc phần đố vui và giảng sư mời Pt MC lên hoàn mãn buổi học. Giới thiệu bài học hôm sau/ Hồi Hướng (Tri Chúng lên hồi hướng)
Sadhu! Sadhu ! Lành Thay!
Con .......... thay mặt đại chúng trong room, chúng con kính tri ân Chư Tôn Đức đã mở lòng bi mẫn giảng dạy Phật pháp hữu ích cho chúng con , đã hướng dẫn, dìu dắt chúng con tiến bước trên hành trình tu tập hầu mong đem lại an lạc trong đời sống và hướng đến đạo quả giải thoát luân hồi. Nguyện hồi hướng phước báu pháp thí đến Ni Sư Diệu Tịnh được nhiều an lạc, tùy tâm mãn nguyện. Cám ơn đại chúng đã lắng tâm thanh tịnh thính pháp. Kính cám ơn quý chủ nhiệm, Ops, xướng ngôn viên đã yểm trợ cho các phần hành trong lớp học được hoàn tất mỹ mãn. Chúng con kính chúc chư Tôn Đức thân tâm thường lạc, đạo hạnh trang nghiêm, tâm bồ đề viên đắc, Phật đạo chóng viên thành, chúc quý đạo hữu luôn an lạc cát tường trong chánh pháp nhiệm màu của Đức từ phụ Thích Ca Mâu Ni.
Kính Bạch chư Tôn Đức,
Kính thưa quý đạo hữu,
Ngày mai chúng ta sẽ có Lớp Phật Giáo Sử do NS Liễu Pháp đảm trách phần II Nội Dung Chính và chư Tôn Ðức giảng sư trong room Diệu Pháp ở các phần khác, với sự điều hợp chương trình của các Ops và MC. Để kết thúc chương trình xin chúng ta nhất tâm hồi hướng.
Nguyện công đức đã làm
Kết duyên lành giải thoát
Nguyện hồi hướng chư thiên
Hàng thiện thần hộ pháp
Nguyện các bậc hữu ân
Ðồng thừa tư công đức
Nguyện chánh pháp trường tồn
Chúng sanh cầu giải thoát
Namo Buddhaya
mở kinh tụng và nhạc, (đóng room)
Kính thưa đại chúng, chương trình sinh hoạt hôm nay đến đây đã kết thúc. Ban điều hành room Diệu Pháp xin phép được đóng room trong vài giây tới. Kính chào tạm biệt tất cả hẹn ngày mai sẽ trở lại trong giờ thường lệ. Namo Buddhaya.