Thứ Ba, 26 tháng 9, 2006

No. 1148 NEW (Hạt Cát lược dịch)

Massachusetts: Phật Giáo phát triển

nhu cầu trú sở gia tăng

By CAMERON WOODS Staff Writer
09/25/2006

Raynham - MA -- Tòa nhà tại số 382 south đường East là một ngôi nhà thuộc loại trung bình kiểu New England.

Bất động sản này là nơi chư tăng Thái Lan tạm thời sử dụng trong thời gian chờ đợi tòa nhà tại chùa Nawamintarachutis đang trong công trình xây dựng. Một khi hoàn thành, nó sẽ là một trong hai ngôi chùa lớn nhất theo truyền thống Theravāda trong tiểu bang Massachusetts. Ngôi chùa kia nằm trong quận hạt Malden.

Chư tăng đã mua sở đất trị giá một triệu rưỡi hồi đầu năm nay và đang làm việc trên kế hoạch của ngôi chùa. Khoảng hơn mười vị tu sĩ sinh sống trong một căn nhà thuộc khu dân cư, chen chút với những sinh hoạt tôn giáo.

Ðối với những vị tu sĩ này, duy trì một nếp sống truyền thống thật không dễ chút nào trên đất nước Hoa Kỳ này, nhưng sự phát triển của cộng đồng Phật Giáo là động cơ khiến cho sự bảo tồn văn hóa cần được thự hiện. Trong một tuần lễ trung bình có khoảng 200 người tìm kiếm một nơi chốn để thực hành thiền định hoặc một bài pháp từ chư tăng..

Dân số quận hạt Bristol chỉ có khoảng 17% Á Châu, căn cứ theo tài liệu thống kê dân số của Mỹ, nhưng chưTăng nói ngôi chùa thu hút được cả du khách và sự yểm trợ của Phật tử Á Châu và cả Phật tử không phải Á Châu từ Massachusetts và Rhode Island.

Một gia đình đã làm việc cật lực để giữ gìn truyền thống văn hóa mạnh mẽ là gia đình Kijsurachais, chủ nhân nhà hàng Thái Spizy nằm trên đường 44.

Chúng tôi di chuyển đến đây từ Thái Lan cùng với bọn trẻ con, và nhà hàng của chúng tôi là một trong nhiều nơi đã mang thức ăn đến cho chư Tăng, ở Thái Lan, chư Tăng đi trì bình trong thôn xóm để thọ nhận vật thực, nhưng ở đây chúng tôi mang thực phẩm đến chùa. Sam Kijsurachai, lãnh đạo cộng đồng á Châu địa phương nói như trên.

Với sự hứng thú trong việc nhìn thấy Phật tử tăng gia giữa người tây phương, Kijsurachai nói rằng ngôi chùa nhỏ nhận được sự yểm trợ không chỉ từ cộng đồng người Thái địa phương mà còn từ một số người Hoa Kỳ ngày càng tăng gia.

"Chúng tôi tiếp đón nhiều Phật tử người Mỹ tại chùa bởi vì họ thực sự nghiêm túc trong việc nghiên cứu Phật Giáo và văn hóa của chúng tôi". Ông Kijsurachai nói như trên.

Mặc dù kế hoạch chưa ngả ngũ rõ ràng cụ thể nhưng đại diện ngôi chùa đã đến gặp viên chức kế hoạch của thành phố để thảo luận về những chi tiết thiết kế sơ khởi.

Richard Mc Arthy, viên chức kế hoạch của thành phố nói “Như tôi được biết từ chư tăng, tòa nhà sẽ trở thành một ngôi chùa có dáng dấp truyền thống như là một ngôi tháp, họ đã mang đến một kiểu mẫu cho thấy nó sẽ như thế nào và nó nhỏ hơn tôi dự trù nhưng rất thú vị".

------------------------------------------------------------------------------------------

No. 1149 NEW (Minh Châu lược dịch)

Nhà văn Laxman Mane sẽ trở thành Phật tử

Ngày 24 tháng 9, 2006

Mumbai, India -- Nhà văn du cư Laxman Mane, người đã đoạt giải Sahitya Academy Award, sẽ chính thức đổi sang đạo Phật vào tháng tới. Hành động này sẽ làm giao động hệ thống tôn giáo trên toàn lãnh thổ Maharashtra. Cách đây nửa thế kỷ, Dr Babasaheb Ambedkar, một trong những người lập ra hiến pháp Ấn Ðộ, đã kêu gọi đẳng cấp thấp nhất của Ấn giáo từ bỏ tôn giáo này để trở thành tín đồ Phật giáo. Nhà văn Mane nói "Ðây là một cố gắng nhỏ của tôi để thực hiện ước muốn của Dr Ambedkar".

Ðược hỏi tại sao lại chọn Phật giáo, ông Mane trả lời rằng các bộ lạc đã làm theo lời dạy của Ðức Phật mà không hay biết. Giờ đây họ nhận ra rằng sự tu tập của họ cũng khá gần với đạo Phật.

Có khoảng 350 triệu tín đồ Phật giáo trên toàn thế giới, phát triển nhiều ở các nước Tây phương. Theo thống kê năm 2001, Maharashtra có 5.8 triệu, cao nhất ở Ấn Ðộ, kế đến là Uttar Pradesh và Karnataka. Ông Mane dự đoán một con số đáng kể từ 42 bộ lạc của Maharashtra sẽ đi theo đường hướng này.

Ông nói "Chúng tôi sẽ tổ chức một lễ hội lớn vào ngày 16 tháng 12 tại Mumbai. Ðầu tiên sẽ có 100 đại biểu vào ngày 2 tháng 10. Thời gian 2 tháng cho phong trào cải đạo sẽ bắt đầu vào ngày 16 tháng 10 tại Chandrapur, một khu vực của các bộ lạc thuộc miền Ðông Maharashtra.

Tuy nhiên ông Mane phủ định từ "cải đạo" đối với hành động này. Ông nói "Chúng tôi (người dân của các bộ lạc) chưa từng theo Ấn giáo và những khuôn mẫu xã hội của tôn giáo này. Cho nên không có vấn đề từ bỏ một tôn giáo nào cả".


Nhật Hành

Ngày: 26 tháng 09 năm 2006

Tri chúng: Dương Tiêu

Tri chúng điền khuyết: Upekha

Môn học: Ngôn ngữ thiền môn

Bài học: 100 Từ Vựng Phật Học Với cách dùng dị biệt giữa Nam và Bắc Truyền.


Giảng Sư Chính: TT Giác Đẳng

Giảng Sư Điền khuyết: TT Tuệ Siêu

Vị Tăng hoặc Ni nói lời cầu nguyện đầu lớp học: ĐĐ Minh Hạnh

Xướng ngôn viên: TC & TC đk, Sangkhaly, Bich Thu (ĐK: Tinh Tan (MC 1 only), Hat Cat, Anitya, Nguon Duc Hanh, Upekha, Nhu Phuc, Minh Chau54)
http://www.phapluan.nethttp://bandieuhanh.blogspot.com

Người mở room: Bich Thu, Hat Cat.

Người mở nhạc và kinh tụng: Hat Cat, Bich Thu, Anitya

Người hoán chuyển bài cho Room: Tinh Tan - Nhu Phuc (đk)

Người post bài cho Room: Bich Thu, Nguon Duc Hanh, Tinh Tan, Hat Cat, Upekha.

Người post và gửi bài riêng cho chư Tăng: Hat Cat, Upekha.

Trực room (op): TC đk & Upekha, Nguon Duc Hanh.

Thông báo (nếu có):
Bài Đọc ngày thứ 3 của MC

Phần I
Lễ Tam Bảo, Phần này đọc sau khi dứt kinh tụng


Namo Buddhaya
MC1: Con ............. (................ điền khuyết) thành kính đảnh lễ Chư Tôn Ðức Tăng Ni, thân chào tất cả quí vị hiện diện. Hôm nay ngày 26 tháng 09 năm 2006 Phật lịch 2550. Ðây là chương trình Phật Học trực tiếp thực hiện trên Paltalk mỗi ngày, giờ VN nhằm 7:30 đến 10:00 tối, giờ Houston 7:30 đến 10:00 sáng, giờ NY từ 8:30 đến 11:00 sáng, giờ Cali 5:30 đến 08:00 sáng, giờ Paris 2:30 đến 5:00 chiều, giờ Sydney 11:30 tối đến 2:00 sáng.

Kính thưa quý vị hôm nay là lớp Lớp Ngôn ngữ Cửa Thiền chúng ta sẽ học bài 100 TỪ VỰNG PHẬT HỌC VỚI CÁCH DÙNG DỊ BIỆT GIỮA NAM VÀ BẮC TRUYỀN do TT Giác Đẳng giảng giải phần II nội dung chính. Chúng ta sẽ được nghe chư Tôn Ðức giảng giải các phần khác trong bài học, chương trình tiếp tục với các câu đố và kết thúc với bản tin Phật Giáo.

Mở đầu chương trình xin tất cả chúng ta trang nghiêm tam nghiệp đảnh lễ Tam Bảo.

Chúng con xin kính thỉnh Đại Đức Minh Hạnh đọc kinh Lễ Tam Bảo hôm nay. Namo Buddhaya

(Đại Đức Minh Hạnh)

Nhất tâm đảnh lễ Ðức Như Lai bậc Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Ðiều Ngự, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.

Nhất tâm đảnh lễ Chánh Pháp do Phật thiện thuyết, thiết thực hiện tiền, vượt ngoài thời gian, đến để chứng nghiệm, hiệu năng hướng thượng, trí giả thân chứng.

Nhất tâm đảnh lễ Chư Tăng đệ tử Thế Tôn bậc diệu hạnh, trực hạnh, như lý hạnh, chân chánh hạnh, gồm bốn đôi tám vị, đáng nhận lễ phẩm, tặng phẩm, tế phẩm, kính lễ, là phước điền vô thượng trong đời.

Nguyện cầu uy đức Phật Bảo
Nguyện cầu uy đức Pháp Bảo
Nguyện cầu uy đức Tăng Bảo
Xin Tam Bảo gia hộ
Ngăn ngừa mọi tai ương
Những hiện tượng bất tường
Những mộng mị xấu xa
Những nghịch duyên trở ngại
Thảy đều mau tan biến
Nguyện muôn loài chúng sanh
Người khổ xin hết khổ
Người sợ hết sợ hãi
Người sầu hết sầu bi
Biết cho với niềm tin
Biết hộ trì giới hạnh
Biết lạc trú trong thiền
Chư thiên đã vân tập
Xin tùy hỷ phước lành
Ðược cát tường như ý
Rồi phản hồi thiên xứ
Chư Toàn Giác đại lực
Chư Ðộc Giác đại lực
Thinh Văn Giác đại lực
Nguyện tổng trì uy đức
Cầu phúc lành phát sanh (lạy)
*****************************
___________________________________________________

(MC1 của phần I: ............... (.............. điền khuyết) )

Kính tri ân Sư Minh Hạnh.
Kính bạch chư tôn đức
Kính thưa đại chúng

Bài Học hôm nay:

100 Từ Vựng Phật Học Với cách dùng

dị biệt giữa Nam và Bắc Truyền

003. THINH VĂN (SAVAKA)
____________

I. Đại lược (TK Giác Đẳng biên soạn)

Hỏi: Xin cho biết đại lược về bài học.

Ðáp: Thinh văn là từ dịch từ Phạn ngữ Savaka có nghĩa là "do nghe mà chứng đắc" hay người "biết lắng nghe", hay người được khai thị bởi vị Phật toàn giác. Những ý nghĩa nầy dễ dàng được chấp nhận bởi cả hai truyền thống Nam và Bắc truyền. Thế nhưng Phật giáo Đại thừa có một cái nhìn rất khác biệt với Nam truyền với những luận cứ xa hơn. Có thể nói do những khác biệt nầy sự phân hóa giữa hai truyền thống là điều tất nhiên.


Chúng con kính cung thỉnh ............ từ bi thuyết giảng Phần I bài học hôm nay. Namo Buddhaya.

II. Nội dung chính (TK Giác Đẳng biên soạn)

Hỏi: Xin đơn cử những điểm chính của bài học hôm nay
?

Ðáp: Dưới đây là vài dị biệt giữa hai truyền thống về từ ngữ "thinh văn":

Theo Phật giáo Nguyên thủy

Theo Phật giáo Đại thừa


1. Tất cả những ai chứng đắc nhờ giáo pháp của vị Phật toàn giác đều là Thinh văn giác. Dù là nghe pháp từ Đức Phật hay học từ Phật Pháp sau khi Phật viên tịch.


1. Có những thiền sư, và những vị tổ được gọi là đắc đạo nhưng không phải là thinh văn.


2. Tu tập có nhiều khuynh hướng thì sở chứng cũng có dị biệt nhưng tất cả bậc đoạn tận phiền não đều khả kính.




2. Ai tu không hướng cầu quả vị bồ tát, hay vô thượng chánh đẳng chánh giác thì thuộc hàng "tiêu nha bại chủng". Bồ tát giới của Đại thừa cấm giao thiệp với hàng thinh văn tiểu thừa.


3. Đã chứng quả A La Hán thì "những gì nên làm đã làm".


3. Dầu đã đắc quả A La Hán vẫn có thể tu tiếp thành bồ tát và toàn giác.


4. Chư vị Thinh văn là một trong Tam Bảo: Tăng bảo do vậy mang sứ mệnh trọng đại trong sự hoằng truyền Phật Pháp. Cúng dường cho một tập thể đại chúng Tăng già có phước hơn cả cúng dường cá nhân một vị Phật toàn giác.


4. Có qui y Tăng bảo nhưng không qui y hàng thinh văn. Quan niệm về Tăng bảo ở Phật giáo Đại thừa được hiểu rất khác biệt. Ngày nay một số tông phái bao gồm cả hàng cư sĩ.


5. Đoạn tận kiết sử phiền não thì ích kỷ không còn.


5. Hàng thinh văn vẫn còn ích kỷ vì còn ngã chấp và pháp chấp.


6. Không nói về sự khởi nguyên của thế giới và chấm dứt của thế giới.


6. Sẽ có một ngày ở tương lai tất cả chúng sanh được độ tận không còn trầm luân khổ hải.

Chúng con kính cung thỉnh ............ từ bi thuyết giảng Phần II bài học hôm nay. Namo Buddhaya.

III. Người Xưa Chốn Cũ (NS Liễu Pháp biên soạn)

Hỏi: Xin cho biết tôn giả Soṇa ? Xin cho biết về Đại hội thánh chúng Tăng già trong thời Phật ?

Đáp:
Thời Đức Phật có hai vị tôn giả cùng có tên là Soṇa. Một vị là Soṇa Koḷivisa, tối thắng về tinh tấn, và vị kia là Soṇa Kuṭikaṇṇa, tối thắng về khéo nói.

Tôn giả Soṇa Kuṭikaṇṇa được Đức Phật khen là tối thắng về khéo nói. Tôn giả là con của bà Kāḷī ở làng Kuraraghar. Thuở đó Tôn giả Mahākaccāna sống ở gần đó và thường hay đến khất thực ở nhà Soṇa. Soṇa cảm mến Tôn giả và đời sống phạm hạnh nên xin phép xuất gia. Sau ba lần từ chối, lần cuối cùng Tôn giả Mahākaccāna cho phép Soṇa xuất gia. Tuy vậy, do chư Tăng ở miền Nam rất hiếm, phải 3 năm sau tôn giả Mahākaccāna mới kiếm đủ 10 vị tỷ kheo để thực hiện lễ xuất gia tỳ kheo cho Soṇa. Sau đó Soṇa xin phép thầy đến Sāvatthi đảnh lễ Đức Phật. Đêm hôm đó Soṇa được Đức Phật cho nghỉ lại trong hương thất của ngài. Soṇa đi kinh hành ngoài trời hầu như suốt đêm, gần sáng mới vào hương thất nằm nghỉ một chút. Khi bình minh đến, Đức Phật bảo thầy hãy tụng một bài pháp. Soṇa đọc thuộc lòng mười sáu bài kinh trong phẩm Aṭṭhakavagga đã học được từ Tôn giả Mahākaccāna. Khi Soṇa đọc xong, Đức Phật rất ca ngợi và cho phép được thỉnh cầu Đức Phật điều gì tôn giả ưa thích. Tôn giả xin phép Đức Phật cho phép xuất gia khi chỉ có 5 vị tỳ kheo trong đó có một vị tinh thông về Luật (thay vì mười vị như Đức Phật đã quy định trước đây). Đức Phật đã chấp nhận lời thỉnh cầu này.

Đại hội thánh chúng Tăng già trong thời Phật: Khi Đức Phật ngụ tại khu vườn trúc (Trúc lâm) trong thành Vương xá, có 1250 vị tỳ-khưu dù không hẹn trước, đến lễ bái Ngài vào ngày trăng tròn tháng Magha theo lịch Ấn Độ, tương ứng với tháng Giêng âm lịch. Các vị ấy là những đệ tử đầu tiên đã xuất gia với Ngài và đều đắc quả A-la-hán. Có sách ghi rằng trong số đó, 1000 vị là thuộc nhóm Jatila tức nhóm đạo sĩ tóc bính đã xin xuất gia theo Đức Phật sau khi được nghe Ngài giảng bài kinh Lửa Cháy (Tương Ưng 35.28); và 250 vị kia là thuộc nhóm Aggasāvaka trước kia là đệ tử của ngài Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên.

Trong dịp nầy, Ngài giảng bài kinh Ovāda-pātimokkha (Giải thoát giáo), tóm tắt căn bản của giáo pháp giải thoát và đời sống tu tập của bậc xuất gia. Lời giáo giới trên chỉ được mỗi vị Phật tuyên bố lần đầu tiên khi hội đủ 4 điều kiện (Caturansasan-nipāta):

- Ðúng vào ngày trăng tròn tháng Magha,
- Có các vị tỳ-khưu tự động đến bái kiến Ðức Phật, không hẹn trước,
- Các vị đó đều là Thánh tăng A-la-hán có lục thông, và
- Các vị đó đều xuất gia với Đức Phật như là Thiện Lai Tỳ-Khưu (Ehi-bhikkhu).

Trong thời kỳ Đức Phật Thích Ca của chúng ta, số các vị tỳ-khưu đó là 1250 vị.

Vì thế, ngày rằm tháng Giêng mỗi năm được xem như là ngày lễ kỷ niệm Đại hội Chư Thánh Tăng. Ngày nầy được cử hành bằng nhiều hình thức nghi lễ khác nhau, như lễ hội đặt bát đến chư Tăng, lễ thọ giới, lễ quy y, lễ thuyết pháp, lễ nhiễu Phật, lễ thọ đầu đà, v.v. nhằm giúp người Phật tử cư sĩ có cơ hội gieo duyên lành trong chánh pháp. Ðặc biệt là lễ thọ đầu đà (dhutanga), trong đó, các cư sĩ đến chùa, thọ bát quan trai giới, thức trọn đêm để tham thiền, nghe pháp, tham vấn, luận đạo. (lược trích từ “Thương yêu là thông cảm” của Tiến sĩ Bình Anson).

Chúng con kính cung thỉnh ............ từ bi thuyết giảng Phần III bài học hôm nay. Namo Buddhaya.

IV. Chữ và nghĩa (TT Tuệ Siêu biên soạn câu trả lời)

Hỏi: Kiết sử và phiền não khác nhau hay giống nhau ?

Ðáp:
Kiết sử (saṃyojana, saññojana), cũng dịch là triền, nghĩa là sợi dây buộc ràng; buộc ràng ở đây là tinh thần bị ràng buộc có 10 kiết sử là ái dục, ái sắc, ái vô sắc, phẫn nộ, ngã mạn, tà kiến, giới cấm thủ, hoài nghi, phóng dật và vô minh.

Phiền não (kilesa) nghĩa là sự bẩn đục, sự uế nhiễm, pháp làm cho tâm ô nhiễm phiền toái. Có 10 thứ phiền não là tham, sân, si, mạn, nghi, tà kiến, hôn trầm, phóng dật, vô tàm, vô quý.

Phiền não là tác nhân tạo ra kiết sử như phiền não tham tạo ra ba kiết sử là ái dục, ái sắc, ái vô sắc; phiền não sân tạo ra kiết sử phẫn nộ; phiền não si tạo ra kiết sử vô minh; phiền não mạn tạo ra kiết sử ngã mạn; phiền não nghi tạo ra kiết sử hoài nghi; phiền não tà kiến tạo ra hai kiết sử là tà kiến và giới cấm thủ; phiền não phóng dật tạo ra kiết sử phóng dật. Như vậy 10 kiết sử do 7 thứ trong 10 thứ phiền não tạo ra.

Theo phân tích trên thì kiết sử và phiền não tuy khác nhau về gốc ngọn, nhưng giống nhau ở tính chất bất thiện và có liên quan nhau.


Chúng con kính cung thỉnh ............ từ bi thuyết giảng Phần IV bài học hôm nay. Namo Buddhaya.

V. Học và hỏi (Sư Tuệ Minh biên soạn câu trả lời)

Hỏi: Phải chăng không kỳ thị có nghĩa là chấp nhận tất cả ?

Ðáp:
Không kỳ thị là nhìn bằng cặp mắt thiện cảm đối với một dân tộc, tông phái ...

Đó là nói về nghĩa thông thường khi không kỳ thị của một dân tộc này đối với dân tộc khác, một học thuyết này đối với một học thuyết kia. Nhưng đối với tinh thần Phật Pháp, sự không kỳ thị phải có nhân tố trí tuệ dẫn đầu. Vì có trí tuệ khi ta tiếp nhận một giáo lý nào đó thì có sự phân biệt đúng sai, nên hành hay không nên hành, có đưa đến giải thoát hay không đưa đến giải thoát.

Cho nên không kỳ thị là chấp nhận tất cả, mà chấp nhận tất cả là phải có sự chọn lựa, thanh lọc.


Chúng con kính cung thỉnh ............ từ bi thuyết giảng Phần V bài học hôm nay. Namo Buddhaya.


VI. Đố Vui (NS Liễu Pháp biên soạn)

1. Thanh văn có nghĩa là gì ?

a. “Người thích nghe pháp”.
b. “Người nhờ nghe pháp mà chứng đắc đạo quả”.
c. “Người nghe pháp nhiều, có thể đã chứng hay chưa chứng đắc đạo quả”.
d. Cả ba câu trên đều đúng.

2. Sāvakasangha hay Ariyasangha gồm có:

a. Tỷ kheo, tỷ kheo ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di.
b. Tỷ kheo, tỷ kheo ni, sa-di, sa-di-ni.
c. Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm, A-la-hán.
d. Tất cả những người đã quy y theo Phật.

3. Thứ tự nào dưới đây được ghi nhận trong Phật giáo Nam truyền ?

a. Thanh văn, Duyên giác, Bồ Tát.
b. Thanh Văn, Độc giác, Duyên Giác.
c. Thanh văn, Độc giác, Toàn giác.
d. Thanh Văn, Bồ Tát, Phật.

________________________________________

Phần II:
Hồi Hướng này đọc khi kết thúc phần đố vui và giảng sư mời Pt MC lên hoàn mãn buổi học. Giới thiệu bài học hôm sau/ Hồi Hướng (Tri Chúng lên hồi hướng)

Sadhu! Sadhu ! Lành Thay!
Con .......... thay mặt đại chúng trong room, chúng con kính tri ân Chư Tôn Đức đã mở lòng bi mẫn giảng dạy Phật pháp hữu ích cho chúng con , đã hướng dẫn, dìu dắt chúng con tiến bước trên hành trình tu tập hầu mong đem lại an lạc trong đời sống và hướng đến đạo quả giải thoát luân hồi. Nguyện hồi hướng phước báu pháp thí đến Ni Sư Diệu Tịnh được nhiều an lạc, tùy tâm mãn nguyện. Cám ơn đại chúng đã lắng tâm thanh tịnh thính pháp. Kính cám ơn quý chủ nhiệm, Ops, xướng ngôn viên đã yểm trợ cho các phần hành trong lớp học được hoàn tất mỹ mãn. Chúng con kính chúc chư Tôn Đức thân tâm thường lạc, đạo hạnh trang nghiêm, tâm bồ đề viên đắc, Phật đạo chóng viên thành, chúc quý đạo hữu luôn an lạc cát tường trong chánh pháp nhiệm màu của Đức từ phụ Thích Ca Mâu Ni.

Kính Bạch chư Tôn Đức,
Kính thưa quý đạo hữu,

Ngày mai chúng ta sẽ có Lớp Trung Bộ Kinh do TT Tuệ Siêu đảm trách phần II Nội Dung Chính và chư Tôn Ðức giảng sư trong room Diệu Pháp ở các phần khác, với sự điều hợp chương trình của các OpsMC. Để kết thúc chương trình xin chúng ta nhất tâm hồi hướng.

Nguyện công đức đã làm
Kết duyên lành giải thoát
Nguyện hồi hướng chư thiên
Hàng thiện thần hộ pháp
Nguyện các bậc hữu ân
Ðồng thừa tư công đức
Nguyện chánh pháp trường tồn
Chúng sanh cầu giải thoát
Namo Buddhaya

mở kinh tụng và nhạc, (đóng room)

Kính thưa đại chúng, chương trình sinh hoạt hôm nay đến đây đã kết thúc. Ban điều hành room Diệu Pháp xin phép được đóng room trong vài giây tới. Kính chào tạm biệt tất cả hẹn ngày mai sẽ trở lại trong giờ thường lệ. Namo Buddhaya.

Thứ Hai, 25 tháng 9, 2006

No. 1147 NEW (Minh Châu dịch)

Phản ứng mãnh liệt tại Mumbai về

đạo luật tu chính của tỉnh bang Gujarat

Ngày 21 tháng 9, 2006

Mumbai, India -- Ðạo luật tu chính về Tự Do Tôn Giáo 2006 của chính quyền tỉnh bang Gujarat đã thành một đề tài chỉ trích của những giáo phái khác.

Ðạo luật cho phép sự thay đổi giữa những giáo phái - Hồi giáo Shia đổi sang Hồi giáo Sunni, Tin Lành đổi sang Thiên Chúa giáo - nhưng phải có sự cho phép của chính quyền. Cũng theo luật này, Phật giáo và Kỳ Na giáo trở thành những hệ phái của Ấn giáo, cho nên sự cải đạo giữa 3 nhóm này cũng được cho phép. Sau đây là những phản ứng về đạo luật hà khắc này của nhà cầm quyền Narendra Modi.

Ông Abraham Mathai, tổng thư ký của All India Christian Council nói: “Ðạo luật đã đi ngược lại tinh thần tự do và trường cửu của hiến pháp quốc gia đã đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng của mỗi cá nhân’’.

Ông Asghar Ali, nhà học giả Hồi Giáo nói:

Luật ngăn cấm việc cải đạo và những tu chính là không cần thiết và vô nghĩa trong một quốc gia dân chủ.

Chính quyền Gujarat thật sự không hiểu biết chút nào khi muốn nhập chung tín đồ "Kỳ Na giáo và Phật giáo với Ấn giáo”.

Prakash Ambedkar, cháu nội của BR Ambedkar, nói rằng việc sáp nhập Phật giáo và Kỳ Na giáo vào Ấn giáo là đi ngược lại giáo lý căn bản của ba tôn giáo này. Một đạo luật như thế chỉ gây thêm chia rẽ giữa các tôn giáo trong xã hội.

Ramesh Dave, giám đốc của Anantacharya Indological Research Institute nói: Kỳ Na giáo không phải là một hệ phái của Ấn giáo. Mặc dù có những điểm tương đồng về niềm tin và nguồn gốc, Kỳ Na giáo và Ấn giáo vẫn là hai tôn giáo khác nhau.

Nitin Raut, tổng thư ký của Bodh Gaya Mahavihar Mukti Morcha nói: Phật giáo sẽ không bao giờ là hệ phái của Ấn giáo. Một Phật tử sẽ không bao giờ xem mình là tín đồ Ấn giáo và sẽ không bao giờ cầu nguyện bất cứ vị thần nào của Ấn Ðộ Giáo.

------------------------------------------------------------------------------------------

No. 1150 NEW (Hạt Cát dịch)

Pakistan hứa hẹn sẽ duy trì và

bảo tồn khu thánh tích Phật Giáo


Islamabad, Sept 23, 2006 -- Pakistan nói họ xác nhận sẽ duy trì và bảo tồn các khu vực thắng tích Phật Giáo trên đất nước họ.

Trong buổi gặp gỡ chư Tăng Tích Lan đến thăm viếng trong mấy ngày vừa qua (mà room Diệu Pháp có loan tin), Bộ Trưởng Liên Bang Văn hóa, Dr GG Jamal nói rằng chính phủ Palstan sẽ nỗ lực cung cấp những thiết bị thích đáng cho du khách tại các đền đài.

Chúng tôi sẽ cung cấp tất cả các loại thiết bị ở những nơi thiêng liêng, kể cả các tiện nghi ngủ nghỉ đến cho du khách. Tờ báo Dawn trích dẫn lời của ông Dr. GG Jamal như trên

Ông nói rằng Pakistan và Tích Lan tán thán quan hệ ngoại giao thân mật của họ trên mọi lãnh vực, và các nỗ lực phải được thực hiện để nghiên cứu thêm các công trình mới trong việc củng cố hợp tác văn hóa và khảo cổ của đôi bên.

Cả hai đã đồng ý trao đổi các pháo đoàn đại diện và các thành phần trí thức để đẩy mạnh hợp tác trong lãnh vực khảo cổ và để khuyến khích quan hệ giữa dân chúng của hai quốc gia với nhau.

Ðể kỷ niệm, Jamal đã trao tặng chư Tăng Tích Lan một tác phẩm phục chế một ngôi tháp PG và sách vở về Gandhara.


Nhật Hành

Ngày: 25 tháng 09 năm 2006

Tri chúng: Như Phúc

Tri chúng điền khuyết: Anitya

Môn học: Lớp Phật Giáo Sử

Bài học: CUỘC ĐỜI ĐỨC PHẬT - Phần II: Con đường hoằng đạo (tt)

Giảng Sư Chính: NS Liễu Pháp

Giảng Sư Điền khuyết: TT Giác Đẳng

Vị Tăng hoặc Ni nói lời cầu nguyện đầu lớp học: ĐĐ Minh Hạnh

Xướng ngôn viên: Duong Tieu, Nhu Phuc, Anitya, Hat Cat, Tinh Tan, Nguon Duc Hanh, Upekha, Bich Thu, Karuna, Gioi Huong (tin tức), Minh Chau54, Sangkhaly (rời room đúng giờ).
http://www.phapluan.net & http://bandieuhanh.blogspot.com

Người mở room: Tinh Tan, Bich Thu, Anitya, Upekha.

Người mở nhạc và kinh tụng: Tinh Tan, Bich Thu, Anitya

Người hoán chuyển bài cho Room: Hat Cat - Tinh Tan (đk)

Người post bài cho Room: Tinh Tan - Bich Thu - NguonDucHanh - Hat Cat - Upekha (Bài Học, Đố Vui, Tin Tức & Post End)

Người post và gửi bài riêng cho chư Tăng: Upekha, NguonDucHanh (đk).

Trực room (op): Upekha, Ops.

Thông báo (nếu có):
Bài Đọc ngày thứ 2 của MC

Phần I
Lễ Tam Bảo, Phần này đọc sau khi dứt kinh tụng


Namo Buddhaya
MC1: Con ............. (................ điền khuyết) thành kính đảnh lễ Chư Tôn Ðức Tăng Ni, thân chào tất cả quí vị hiện diện. Hôm nay ngày 25 tháng 09 năm 2006 Phật lịch 2550. Ðây là chương trình Phật Học trực tiếp thực hiện trên Paltalk mỗi ngày, giờ VN nhằm 7:30 đến 10:00 tối, giờ Houston 7:30 đến 10:00 sáng, giờ NY từ 8:30 đến 11:00 sáng, giờ Cali 5:30 đến 08:00 sáng, giờ Paris 2:30 đến 5:00 chiều, giờ Sydney 11:30 tối đến 2:00 sáng.

Kính thưa quý vị hôm nay là lớp Lịch Sử Phật Giáo chúng ta sẽ học bài CUỘC ĐỜI ĐỨC PHẬT - Phần II: Con đường hoằng đạo (tt) do NS Liễu Pháp giảng giải phần II nội dung chính. Chúng ta sẽ được nghe chư Tôn Ðức giảng giải các phần khác trong bài học, chương trình tiếp tục với các câu đố và kết thúc với bản tin Phật Giáo.

Mở đầu chương trình xin tất cả chúng ta trang nghiêm tam nghiệp đảnh lễ Tam Bảo.

Chúng con xin kính thỉnh Đại Đức Minh Hạnh đọc kinh Lễ Tam Bảo hôm nay. Namo Buddhaya

(Đại Đức Minh Hạnh)

Nhất tâm đảnh lễ Ðức Như Lai bậc Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Ðiều Ngự, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.

Nhất tâm đảnh lễ Chánh Pháp do Phật thiện thuyết, thiết thực hiện tiền, vượt ngoài thời gian, đến để chứng nghiệm, hiệu năng hướng thượng, trí giả thân chứng.

Nhất tâm đảnh lễ Chư Tăng đệ tử Thế Tôn bậc diệu hạnh, trực hạnh, như lý hạnh, chân chánh hạnh, gồm bốn đôi tám vị, đáng nhận lễ phẩm, tặng phẩm, tế phẩm, kính lễ, là phước điền vô thượng trong đời.

Nguyện cầu uy đức Phật Bảo
Nguyện cầu uy đức Pháp Bảo
Nguyện cầu uy đức Tăng Bảo
Xin Tam Bảo gia hộ
Ngăn ngừa mọi tai ương
Những hiện tượng bất tường
Những mộng mị xấu xa
Những nghịch duyên trở ngại
Thảy đều mau tan biến
Nguyện muôn loài chúng sanh
Người khổ xin hết khổ
Người sợ hết sợ hãi
Người sầu hết sầu bi
Biết cho với niềm tin
Biết hộ trì giới hạnh
Biết lạc trú trong thiền
Chư thiên đã vân tập
Xin tùy hỷ phước lành
Ðược cát tường như ý
Rồi phản hồi thiên xứ
Chư Toàn Giác đại lực
Chư Ðộc Giác đại lực
Thinh Văn Giác đại lực
Nguyện tổng trì uy đức
Cầu phúc lành phát sanh (lạy)
*****************************
___________________________________________________

(MC1 của phần I: ............... (.............. điền khuyết) )

Kính tri ân Sư Minh Hạnh.
Kính bạch chư tôn đức
Kính thưa đại chúng

Bài Học hôm nay:

"2500 YEARS OF BUDDHISM" - 2500 LỊCH SỬ PHẬT GIÁO

---o0o---


CUỘC ĐỜI ĐỨC PHẬT

Phần II: Con đường hoằng đạo (tt)

Tác giả P. V. Bapat
Việt dịch Hữu Song Nguyễn Đức Tư

____________

I. Đại lược (TK Giác Đẳng biên soạn)

Hỏi: Xin cho biết đại lược về bài học.

Ðáp:
Đức Phật đến, hiện diện và ra đi trong phong thái của bậc đại sĩ. Năm ngài tám mươi tuổi, ba tháng trước ngày viên tịch đã nói rõ thời điểm và địa điểm kết thúc thân ngũ uẩn. Ngài đã để lại những di giáo quan trọng khẳng định vai trò của Ngài đối với giáo pháp, đối với Tăng chúng. Lời Phật dạy cho đến giây phút cuối cùng vẫn nhất quán với nội dung kinh Chuyển Pháp Luân và 45 năm hoằng hóa. Sự viên tịch của Đức Phật mở ra một trang sử mới khi mà "hàng hậu học lấy giáo pháp là thầy".

Chúng con kính cung thỉnh ............ từ bi thuyết giảng Phần I bài học hôm nay. Namo Buddhaya.

II. Nội dung chính (2500 Lịch Sử Phật Giáo"2500 Years Of Buddhism _ "Tác giả P. V. Bapat - Việt dịch Nguyễn Đức Tư Hữu Song)

Hỏi: Xin đơn cử những điểm chính của bài học hôm nay ?

Ðáp: IIA. Di giáo.

Ngài giảng giải cho A-nan-đà nhiều chuyện liên quan đến Pháp (Law - Dharma), Giới (Discipline) và bảo với các đệ tử rằng Ngài đã giải bày cho họ tất cả những gì mà một Giáo chủ từ tâm có thể làm được và từ nay về sau, những lời Ngài dạy sẽ là người thầy để dẫn dắt họ. Cuộc thảm sát dòng họ Thích ca diễn ra sau cái chết của Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên chỉ trong một tuần. Giáo chủ khi ấy đang ở Pava. Cunda, người thợ rèn dưới phố, mời Ngài dùng một bữa cơm, bánh và sukaramaddava. Các học giả vẫn chưa thống nhất về nghĩa của từ sau cùng này. Đây có thể là một thứ thịt lợn mềm mại hoặc là một thứ thảo môc ăn được. Dù đó là gì không biết, nhưng thức ăn này rất khó tiêu và Đức Phật đã bị bệnh kiết lỵ. Tuy bị bệnh nhưng Ngài vẫn đi đến Câu-thi-na (Kushinagara). Tại đây, Ngài bảo A-nan-đà trải một tấm vải trên mặt đất giữa hai cây vô ưu. Ngài đã sinh ra giữa hai cây vô ưu và cũng muốn được viên tịch tại một nơi như thế. Ngài nằm xuống như một vị chúa sơn lâm và nói những lời răn dạy cuối cùng cho hàng nghìn tu sĩ và tín đồ thế tục đang tụ tập lại để được nhìn thấy Ngài lần cuối. Sau đây là những lời cuối cùng của Ngài:

“Các tỳ khưu, giờ đây ta không còn có gì khác nữa để nói với các vị, vạn pháp vô thường, có sinh thì có diệt. Các vị hãy tinh tiến lên để đạt tới giải thoát”.

IIB. Lễ Trà Tỳ và Xá lợi.

Di thể Đức Phật được hỏa táng theo nghi thức Chuyển Luân Thánh vương. Để giải quyết vấn đề nơi nào cũng muốn nhận di hài Đức Phật về thờ cúng, tám ngôi bảo tháp đã được dựng lên ở nhiều nơi khác nhau trên đất Ấn Độ và xá lợi Phật được chia ra làm tám phần để đem về đây an trú. Ngày nhập diệt của Đức Phật, đúng vào ngày trăng tròn của tháng năm (Vaisakha) cũng giống như ngày đản sinh và ngày đắc đạo của Ngài.

IIC. Một tóm lược giáo pháp Phật Đà.

Các bài thuyết pháp của Đức Phật có thể được chia ra làm hai phần: phần triết lý và phần luân lý. Hai phần này thường đan xen vào nhau khiến cho không thể hiểu được phần này một cách trọn vẹn nếu không biết về phần kia. Nguyên lý cơ bản của triết lý đạo Phật là thuyết Nhân quả hay Duyên khởi. Theo lý thuyết này thì sự hiện hữu liên tục của vạn pháp cũng giống như một vòng bánh xe những nguyên nhân và hậu quả. Do vô minh có hành sinh; do hành có thức sinh; do thức có danh sắc (nama-rupa) sinh; do danh sắc có lục nhập sinh; do lục nhập có xúc sinh; do xúc có ái sinh; do ái có thủ sinh; do thủ có hữu sinh; do hữu có sinh sinh; do sinh có lão, tử, bi, khổ, ưu, não sinh. Để đoạn diệt cái khổ thì phải đoạn diệt vô minh.


Chúng con kính cung thỉnh ............ từ bi thuyết giảng Phần II bài học hôm nay. Namo Buddhaya.

III. Người Xưa Chốn Cũ (NS Liễu Pháp biên soạn)

Hỏi: Xin cho biết về thợ rèn Cunda ? Xin cho biết về ngôi chùa Nigrodha ?

Đáp: Cunda
là một người thợ rèn sống gần rừng cây Sala, thôn Pava, thuộc thành Kusinara. Khi hay tin đức Thế Tôn sắp nhập Niết-bàn tại rừng Sala gần làng mình, với thiện tâm phát khởi, lòng mong ước cúng dường cho đức Thế Tôn lần cuối cùng phát sinh, ông đến đảnh lễ dưới chân đức Thế Tôn và dâng lên lời cầu thỉnh đức Phật cùng hội chúng Tăng về nhà thọ thực. Với tâm rất trong sạch, Cunda dâng lên đức Phật một vật thực đặc biệt gọi là Sùkaramadda, cùng những món ăn thượng vị khác. Có chỗ nói, đó là thịt con heo rừng không già lắm cũng không non tơ, không phải gia chủ cố ý giết nó để dâng lên đức Phật. Có chỗ nói đó là tên của một loại nấm rất ngon. Theo lời chỉ dạy của đức Phật, gia chủ chỉ cúng dường vật thực ấy đến ngài, phần còn lại đem chôn sâu xuống lòng đất, vì không ai có thể tiêu hoá được vật thực này. Thọ thực xong, Đức Phật lâm bệnh lỵ rất nặng, nhưng ngài kham nhẫn chịu đựng, dùng thiền định khắc chế cảm giác đau đớn. Sau đó, ngài nói với đại đức Ānanda, trong đời ngài có hai bữa cơm vô cùng phúc báu là vật thực cúng dường Bồ tát trước khi chứng quả chánh giác và vật thực cúng dường lần cuối trước khi Như lai viên tịch. Ngài còn bảo ngài Ānanda khuyên Cunda đừng có mặc cảm tội lỗi mà nên hoan hỷ với phước báu đó.

Nigrodhārāma là một khu vườn gần thành Kapilavatthu. Khu vườn mang tên của Nigrodha, một người thuộc dòng họ Thích Ca. Ông cúng dường khu vườn này đến Đức Phật và chư Tăng, và một ngôi tịnh xá được xây dựng ở đây để Đức Phật cư ngụ khi Ngài về thăm thành Kapilavatthu sau khi Ngài chứng đắc đạo quả. Để chứng minh khả năng siêu việt của một vị Phật với những quyến thuộc vốn rất kiêu ngạo của Ngài, Đức Phật đã hiện song thông và kể lại chyện tiền thân Vessantara. Đức Phật đã từng ghé thăm tịnh xá này nhiều lần và một số giới luật của tỳ kheo đã được quy định ở đây.

Chúng con kính cung thỉnh ............ từ bi thuyết giảng Phần III bài học hôm nay. Namo Buddhaya.

IV. Chữ và nghĩa (TT Tuệ Siêu biên soạn câu trả lời)

Hỏi: Xin cho biết ý nghĩa của Trà tỳ và Xá lợi.

Ðáp:
Trà tỳ là tên gọi của lễ hỏa táng (sarīrajhāpana), tức là lễ thiêu nhục thể; gọi một cách tôn kính khi hỏa táng một người đáng kính ngưỡng. Như lễ trà tỳ Đức Thế Tôn, là lễ hỏa táng nhục thể của Đức Phật sau khi Ngài viên tịch.

Xá lợi (sārīrikadhātu) là phần xương cốt của người chết sau khi hỏa táng, nhưng chữ Xá lợi được dùng để chỉ cho di cốt của những bậc cao quý như Đức Phật hoặc các vị A-la-hán, không xài chung cho di cốt của phàm nhân. Chữ xá lợi là tiếng đọc âm giản lược của chữ sārīrikadhātu, nếu đọc âm cho đủ chữ thì là xá lợi cốt.


Chúng con kính cung thỉnh ............ từ bi thuyết giảng Phần IV bài học hôm nay. Namo Buddhaya.

V. Học và hỏi (Sư Tuệ Minh biên soạn câu trả lời)

Hỏi: Đức Phật dạy rằng trong giáo lý nào có bát chánh đạo thời có thánh nhân. Xin hỏi có giáo pháp nào ngoài Phật Pháp mà có Bát chánh đạo chăng ?

Ðáp:
Trước khi Đức Phật xuất hiện, quan niệm trở thành bậc thánh A la hán của các đạo sĩ là hành khổ hạnh, ép xác đạt được sở hành như vậy họ tự cho là bậc thánh.

Khi Đức Phật xuất hiện, Ngài đã dung hòa giữa 2 cực đoan là khổ hạnh và lợi dưỡng, đưa ra con đường trung đạo. Đức Phật đã chỉ ra con đường trung đạo để chúng sanh biết được chân lý, nhận thức về sự khổ và cách diệt trừ khổ.

Trong giáo pháp của Đức Phật khi trở thành bậc thánh là đoạn trừ hoàn toàn phiền não, chấm dứt sanh tử luân hồi, gánh nặng đã đặt xuống, sau đời sống này không còn đời sống khác. Nếu không trở thành bậc thánh cũng là người biết nhân, biết quả, biết đủ, biết đúng thời, biết mình, biết người, biết cộng đồng. Cho nên không có một giáo lý nào khác ngoài giáo lý của Đức Phật mà có Bát chánh đạo là con đường đưa chúng sanh đến giải thoát.


Chúng con kính cung thỉnh ............ từ bi thuyết giảng Phần V bài học hôm nay. Namo Buddhaya.


VI. Đố Vui (TK Giác Đẳng soạn câu đố)

1. Theo di ngôn của Đức Phật thì ai là người thừa kế vai trò của Ngài sau khi Phật viên tịch:

a. Ngài Maha Kassapa (Đại Ca Diếp).
b. Ngài Sariputta (Xá Lợi Phất).
c. Giáo pháp.
d. Vị tăng thống đầu tiên.

2. Người đệ tử xuất gia cuối cùng của Đức Phật là:

a. Cunda.
b. Subhadda.
c. Licchavi.
d. Ajasattu.

3. Những gì được biết về sự viên tịch của Đức Phật cho thấy điểm nào dưới đây:

a. Ngài là bậc đại phúc với tuổi thọ viên mãn.
b. Ngài là bậc đại bi lưu lại gia tài giáo pháp viên mãn.
c. Ngài là bậc đại giác với cái nhìn như nhiên đối vối sự vô thường vạn pháp.
d. Cả ba câu trên đều đúng.

________________________________________

Phần II:
Hồi Hướng này đọc khi kết thúc phần đố vui và giảng sư mời Pt MC lên hoàn mãn buổi học. Giới thiệu bài học hôm sau/ Hồi Hướng (Tri Chúng lên hồi hướng)

Sadhu! Sadhu ! Lành Thay!
Con .......... thay mặt đại chúng trong room, chúng con kính tri ân Chư Tôn Đức đã mở lòng bi mẫn giảng dạy Phật pháp hữu ích cho chúng con , đã hướng dẫn, dìu dắt chúng con tiến bước trên hành trình tu tập hầu mong đem lại an lạc trong đời sống và hướng đến đạo quả giải thoát luân hồi. Nguyện hồi hướng phước báu pháp thí đến Ni Sư Diệu Tịnh được nhiều an lạc, tùy tâm mãn nguyện. Cám ơn đại chúng đã lắng tâm thanh tịnh thính pháp. Kính cám ơn quý chủ nhiệm, Ops, xướng ngôn viên đã yểm trợ cho các phần hành trong lớp học được hoàn tất mỹ mãn. Chúng con kính chúc chư Tôn Đức thân tâm thường lạc, đạo hạnh trang nghiêm, tâm bồ đề viên đắc, Phật đạo chóng viên thành, chúc quý đạo hữu luôn an lạc cát tường trong chánh pháp nhiệm màu của Đức từ phụ Thích Ca Mâu Ni.

Kính Bạch chư Tôn Đức,
Kính thưa quý đạo hữu,

Ngày mai chúng ta sẽ có Lớp Ngôn ngữ Thiền Môn do TT Giác Đẳng đảm trách phần II Nội Dung Chính và chư Tôn Ðức giảng sư trong room Diệu Pháp ở các phần khác, với sự điều hợp chương trình của các OpsMC. Để kết thúc chương trình xin chúng ta nhất tâm hồi hướng.

Nguyện công đức đã làm
Kết duyên lành giải thoát
Nguyện hồi hướng chư thiên
Hàng thiện thần hộ pháp
Nguyện các bậc hữu ân
Ðồng thừa tư công đức
Nguyện chánh pháp trường tồn
Chúng sanh cầu giải thoát
Namo Buddhaya

mở kinh tụng và nhạc, (đóng room)

Kính thưa đại chúng, chương trình sinh hoạt hôm nay đến đây đã kết thúc. Ban điều hành room Diệu Pháp xin phép được đóng room trong vài giây tới. Kính chào tạm biệt tất cả hẹn ngày mai sẽ trở lại trong giờ thường lệ. Namo Buddhaya.

Chủ Nhật, 24 tháng 9, 2006

No. 1145 NEW (Hạt Cát dịch)

Tu sĩ Phật Giáo: Phim truyền hình

"My name is Earl" giúp giải thích ý nghĩa Luật nhân quả

Venerable Ashin Sudhamma says that NBC's sitcom "My Name is Earl" helps explain law of karma.







Cuốn phim mang tên “My name is Earl” của đài truyền hình NBC được trình chiếu vào đêm thứ Năm. Câu chuyện xoay quanh về nghiệp, một ý tưởng cổ xưa mà nhiều người căn cứ vào đó để sống

Có người gọi nó là số phận. Người khác nghĩ nó là vận mạng. Phật Giáo giải thích đó là Luật Nhân Quả, Nghiệp Báo.

Sư Ashin Sudhamma ở chùa Ratanaram, Rocford tin tưởng vào nghiệp quả theo quy luật của thiên nhiên. Người xưa tin rằng tất cả mọi sinh vật có trách nhiệm đối với phong cách đời sống của họ. Sư nói “Làm lành sẽ được quả lành, làm ác sẽ nhận lãnh quả ác, Ðây là những gì mà Ðức Phật khuyên răn đệ tử Ngài. Giúp đỡ người khác và bố thí là một nhân tạo nghiệp lành , một hành động cao cả là một nghiệp quả phúc báu.

Sư cũng tin tưởng rằng "Sát sanh, trộm cắp, tà dâm, uống rượu, sử dụng các chất say .v..v ... cũng sẽ tạo nghiệp quả xấu.

Cho dù bạn gọi nó là gì đi nữa, người ta nói rằng nó vẫn hiện hữu. Karma hay nghiệp chính là trọng điểm mà bộ phim " My name is Earl sắp trình chiếu lần đầu tiên của đài truyền hình NBC nhắm vào, và theo một số người, cuốn phim xoay quanh đời sống của con người. Josua Hawking thuộc Rockfort nói "Có nhân thì có quả, nếu bạn làm lành thì phước lành sẽ đến với bạn, nếu bạn làm việc bất thiện thì quả dữ sẽ trở lại với bạn".

Tôi tin tưởng rằng trên cõi thế gian này có nhiều việc xảy ra và những việc đó là kết quả của của những việc bạn đã từng làm tương tự trong quá khứ.

Và bạn có tin chăng, Sư Sudhamma nói rằng xem bộ phim "My name khiến ông càng thấu hiểu karma rõ ràng hơn, ông nói "Biết được như thế chúng ta có thể giải tỏa vấn đề cho những tín đồ đến chùa và hỏi "Làm cách nào để giải quyết những hệ lụy trong đời sống của họ.

http://www.buddhistchannel.tv/index.php?id=62,3204,0,0,1,0

------------------------------------------------------------------------------------------

No. 1146 NEW (Hạt Cát dịch)

Ðức Phật ở đâu - Quyển sách cuối cùng

của Ngài K. Sri Dhammananda

Kuala Lumpur - Sept 23, 2006 -- Trang Web Tin Tức Phật Giáo The Buddhist Channel hôm nay đã cho đăng tải toàn bộ quyển sách sau cùng của Ngài K. Sri Dhammanada với lời dẫn nhập như sau:

The Buddhist Channel xin hoan hỷ trình bày đến đại chúng quyển sách cuối cùng được viết bởi Ngài K. Sri Dhammananda. Ðể thành toàn ý nguyện của Ngài Dhammanada, quyển sách điện tử theo dạng PDF này sẽ được cống hiến cho độc giả miễn phí. Xin yểm trợ cho ý nguyện của Ngài bằng cách truyền bá đến cho càng nhiều người càng tốt. Bạn có thể vào trang The Buddhist Channel để hạ tải.

Như một phần nỗ lực để truyền bá quyển sách này một cách rộng rãi mà ta có thể, Trang Web The Buddhist Channel cũng tiến hành làm việc với nhiều đoàn thể từ nhiều quốc gia khác nhau để phát hành các ấn bản địa phương.

Giữa những địa phương được chọn lựa ban đầu, chúng tôi sẽ dành ưu tiên cho Tích Lan 5000 ấn bản, Ấn Ðộ 5000, Tân Gia Ba 2000. chúng tôi cũng dự định sẽ cho chuyển dịch sang các ngôn ngữ khác như Thái Lan, Sinhalese, Khmer, Việt Nam Ðại Hàn, Trung Quốc và Nhật Bản.

Chúng tôi hoan nghênh mọi đóng góp bất cứ con số nào để yểm trợ nỗ lực của chúng tôi để thành toàn ý nguyện của Ngài Cố Ðại Lão K.Sri Dhammananda, xin gửi về các địa chỉ đã được đăng tải trên trang Web The Buddhist Channel.


Nhật Hành

Ngày: 24 tháng 09 năm 2006

Tri chúng:

Tri chúng điền khuyết: Upekha

Môn học: Lớp Phật Học Thường Thức

Bài học: Phật Giáo Nguyên Thủy Là Gì ?

Giảng Sư Chính: ÐÐ Tuệ Quyền

Giảng Sư Điền khuyết: TT Giác Đẳng


Vị Tăng hoặc Ni nói lời cầu nguyện đầu lớp học: ĐĐ Minh Hanh

Xướng ngôn viên: Minh Lac, Tri Dat, Hat Cat, Anitya, Gioi Huong, Upekha, Dieu Quang, Bich Thu, Nguon Duc Hanh, Tinh Tan, Duong Tieu, Nhu Phuc, Chanh Hanh, Minh Chau54, Karuna. http://www.phapluan.net & http://bandieuhanh.blogspot.com

Người mở room: Dieu Quang, NguonDucHanh (đk).

Người mở nhạc và kinh tụng: Dieu Quang, (đk: NguonDucHanh).

Người hoán chuyển bài cho Room: Hat Cat, NguonDucHanh (đk)

Người post bài cho Room: Hat Cat, NguonDucHanh (đk).

Người post và gửi bài riêng cho chư Tăng: Hat Cat, NguonDucHanh (đk).

Trực room (op): TC đk & NguonDucHanh (clean và trực room), Karuna (coi sau nick mới vào room), Upekha (trực mic giảng sư). Các ops khác bounce nếu cần thì remove all mic

Thông báo (nếu có): Dieu Quang xin nghỉ vài tuần bắt đầu từ ngày 02/9.

________________ Tinh Tan xin nghỉ thứ bảy 09/9 đến hết chủ nhật 24/9.
Bài Đọc ngày Chủ Nhật của MC

Phần I
Lễ Tam Bảo, Phần này đọc sau khi dứt kinh tụng


Namo Buddhaya
MC1: Con ............. (................ điền khuyết) thành kính đảnh lễ Chư Tôn Ðức Tăng Ni, thân chào tất cả quí vị hiện diện. Hôm nay ngày 24 tháng 09 năm 2006 Phật lịch 2550. Ðây là chương trình Phật Học trực tiếp thực hiện trên Paltalk mỗi ngày, giờ VN nhằm 7:30 đến 10:00 tối, giờ Houston 7:30 đến 10:00 sáng, giờ NY từ 8:30 đến 11:00 sáng, giờ Cali 5:30 đến 08:00 sáng, giờ Paris 2:30 đến 5:00 chiều, giờ Sydney 11:30 tối đến 2:00 sáng.

Kính thưa quý vị hôm nay là Lớp Phật Học Thường Thức chúng ta sẽ học bài Phật Giáo Nguyên Thủy Là Gì do ĐĐ Tuệ Quyền giảng giải phần II nội dung chính. Chúng ta sẽ được nghe chư Tôn Ðức giảng giải các phần khác trong bài học, chương trình tiếp tục với các câu đố và kết thúc với bản tin Phật Giáo.

Mở đầu chương trình xin tất cả chúng ta trang nghiêm tam nghiệp đảnh lễ Tam Bảo.

Chúng con xin kính thỉnh Đại Đức Minh Hạnh đọc kinh Lễ Tam Bảo hôm nay. Namo Buddhaya

(Đại Đức Minh Hạnh)

Nhất tâm đảnh lễ Ðức Như Lai bậc Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Ðiều Ngự, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.

Nhất tâm đảnh lễ Chánh Pháp do Phật thiện thuyết, thiết thực hiện tiền, vượt ngoài thời gian, đến để chứng nghiệm, hiệu năng hướng thượng, trí giả thân chứng.

Nhất tâm đảnh lễ Chư Tăng đệ tử Thế Tôn bậc diệu hạnh, trực hạnh, như lý hạnh, chân chánh hạnh, gồm bốn đôi tám vị, đáng nhận lễ phẩm, tặng phẩm, tế phẩm, kính lễ, là phước điền vô thượng trong đời.

Nguyện cầu uy đức Phật Bảo
Nguyện cầu uy đức Pháp Bảo
Nguyện cầu uy đức Tăng Bảo
Xin Tam Bảo gia hộ
Ngăn ngừa mọi tai ương
Những hiện tượng bất tường
Những mộng mị xấu xa
Những nghịch duyên trở ngại
Thảy đều mau tan biến
Nguyện muôn loài chúng sanh
Người khổ xin hết khổ
Người sợ hết sợ hãi
Người sầu hết sầu bi
Biết cho với niềm tin
Biết hộ trì giới hạnh
Biết lạc trú trong thiền
Chư thiên đã vân tập
Xin tùy hỷ phước lành
Ðược cát tường như ý
Rồi phản hồi thiên xứ
Chư Toàn Giác đại lực
Chư Ðộc Giác đại lực
Thinh Văn Giác đại lực
Nguyện tổng trì uy đức
Cầu phúc lành phát sanh (lạy)
*****************************
___________________________________________________

(MC1 của phần I: ............... (.............. điền khuyết) )

Kính tri ân Sư Minh Hạnh.
Kính bạch chư tôn đức
Kính thưa đại chúng

Bài Học hôm nay:

Phật Giáo Nguyên Thủy Là Gì ?

WHAT IS THERAVĀDA BUDDHISM ?

By John Bullitt - Dịch thuật: Lê Văn Phúc

____________

I. Đại lược (TK Giác Đẳng biên soạn)

Hỏi: Xin cho biết đại lược về bài học.

Ðáp: Cho dù người tu Phật có muốn hay không muốn thì việc học Phật ngày nay chắc hẳn phải nói đến những tông phái. Năm trăm năm sau ngày viên tịch của Đức Phật, Phật giáo đã chính thức phân hóa thành nhiều tông phái. Bộ phân nguyên thủy được liệt vào tông phái chứ không phải tự biến mất hoàn toàn. Sự tồn tại của nguồn đạo cổ kính nầy vốn dựa trên ba yếu tố: địa dư (đã được truyền ra ngoài Ấn Đố trước thời phân hóa), tinh thần bảo thủ với ưu tiên là bảo lưu những gì nguyên thủy hơn là tùy duyên chuyển đổi, sau cùng nhờ và tính nhất quán của của Tam Tạng Pāli.

Chúng con kính cung thỉnh ............ từ bi thuyết giảng Phần I bài học hôm nay. Namo Buddhaya.

MC 2 ................. / ĐK: ..................

II. Nội dung chính (What is Theravāda Buddhism by John Bullitt - Dịch thuật: Lê Văn Phúc)

Hỏi: Xin đơn cử những điểm chính của bài học hôm nay ?

Ðáp: Theravāda nghĩa là gì ?

Theravāda (đọc như là thê-ra-va-đa), Học thuyết của các Trưởng lão, là một trường phái Phật giáo tiếp nhận giáo lý kinh điển từ Tipitaka, hay là kho tàng Thánh Điển Pālī, mà theo như các học giả thường đồng ý với nhau rằng còn lưu lại được những ghi chép các giáo lý ban đầu của Đức Phật còn tồn tại với thời gian. 1 Trong nhiều thế kỷ, Theravāda đã là tôn giáo thống ngự tại lục địa Đông Nam Á (Thái lan, Myanmar hay Burma, Cambodia, Lào và Srilanka). Ngày nay số Phật tử Phật giáo Theravāda lên đến con số trên 100 triệu trên toàn thế giới. 2 Trong những thập kỷ gần đây Theravāda bắt đầu bám rễ ở Phương Tây.

Chúng con kính cung thỉnh ............ từ bi thuyết giảng Phần II bài học hôm nay. Namo Buddhaya.

MC 2A ................. / ĐK: ..................

Nhiều tông phái Phật Giáo, Một Giáo Pháp và Giới Luật

Đức Phật - Đấng Giác Ngộ - gọi tôn giáo mà ngài thành lập là Giáo Pháp - và giới luật - học thuyết và giới luật. Nhằm cung cấp một cơ cấu xã hội để hỗ trợ việc thực hành Giáo Pháp và Giới Luật (hay là nói gọn là Dhamma: Pháp) (tiếng sankrit: Dharma), và cũng nhằm giữ gìn những giáo lý này cho hậu thế, Đức Phật đã thành lập Tăng chúng gồm Tỳ kheo (nam tu sĩ) và Tỳ kheo ni (nữ tu sĩ) - Sangha : Tăng chúng) - còn tồn tại đến ngày nay để lưu truyền giáo lý của Ngài cho các thế hệ mai sau kể cả các cư sĩ cũng như các tu viện.

Khi Phật Pháp tiếp tục phát triển khắp Ấn độ sau khi Đức Phật viên tịch, nhiều cách hiểu khác nhau về giáo lý nguyên thủy phát sinh, dẫn đến sự chia rẽ trong nội bộ Tăng chúng và xuất hiện có đến 18 phái Phật giáo khác nhau. 3 Một trong những trường phái này cuối cùng đã dấy lên phong trào cải cách và tự xưng là Mahayana (Đại thừa: Cỗ xe lớn hơn). 4. Và điều đó viện dần đến một trường phái khác kém quan trọng hơn là Hinayana (Tiểu thừa). Mà chúng ta gọi là Theravāda ngày nay là sự tồn tại duy nhất của những trường phái phi-đại thừa xưa kia. 5. Để tránh ngụ ý thiếu tôn trọng không hay khi dùng hai thuật ngữ Hinayana và Mahayana, ngày nay người ta dùng từ ngữ có tính trung lập hơn để chỉ hai hệ phái chính của Phật giáo. Bởi vì Theravāda về mặt lịch sử thống ngự nam Á, nên thường được gọi là Phật giáo Nam Tông, trong khi Mahayana, truyền nhập về phương bắc từ Ấn độ vào Trung Quốc, Tây Tạng, và Triều Tiên, nên gọi là Phật giáo Bắc Tông. 6.


Chúng con kính cung thỉnh ............ từ bi thuyết giảng Phần IIA bài học hôm nay. Namo Buddhaya.

MC 2B ................. / ĐK: ..................

Pālī: ngôn ngữ của Phật giáo Nguyên Thủy:

Ngôn ngữ của các văn bản kinh điển Theravāda là tiếng Pālī (văn bản) căn cứ vào phương ngôn Trung Ấn - Aryan, có lẽ được sử dụng ở vùng Trung Ấn thời Đức Phật. 7. Đai Đức Ānanda, người em họ và người hầu cận của Đức Phật ghi nhớ các bài thuyết pháp (suttas) của Đức Phật và do đó là kho lưu trữ sống của các giáo lý này. 8. Không lâu sau khi Đức Phật viên tịch (ca. 480 trước CN), 500 các tu sĩ kỳ lão - gồm cả Ngài Ānanda - tập họp để đọc và xác định tất cả các bài thuyết pháp mà họ đã nghe trong suốt 45 năm hành đạo cuả ngài. 9. Do đó hầu hết các bài thuyết pháp đều bắt đầu với lời dẫn, Như thế tôi từng nghe (Evaṃ me sutaṃ).

Sau khi Đức Phật viên tịch, giáo lý của Ngài tiếp tục được truyền miệng trong cộng đồng tu viện, giữ theo truyền thống truyền khẩu có từ lâu trước thời Đức Phật. 10. Vào khoảng 250 trước CN, Tăng chúng đã sắp xếp hệ thống và biên soạn những giáo lý này thành ba phần: Tạng Luật - Vinaya Pitaka (giỏ giới luật - các bản văn liên quan đến tập tục và qui luật của Tăng chúng), Sutta Pitaka (giỏ các bài giảng - các bài thuyết pháp, lời khuyên dạy của Đức Phật cho các Đại đệ tử cuả ngài), và Tạng Vi Diệu Pháp - Abhidhamma Pitaka (giỏ học thuyết đặc biệt / cao hơn) - một phân tích tâm lý - triết học của Giáo Pháp). Cả ba gộp lại được gọi là Tam Tạng Thánh Điển - Tipitaka, ba cái giỏ - Tam Tạng. Vào thế kỷ thứ ba tr.CN, các vị sư Tích lan (Sri Lanka) bắt đầu thực hiện biên soạn hàng loạt các bản chú giải về Tam Tạng; những bản chú giải này được tập hợp và dịch sang tiếng Pālī bắt đầu từ thế kỷ thứ 5 trước CN. Tam Tạng cùng với ngoài Chánh Tạng (các bản chú giải, biên niên v.v) tất cả hợp thành toàn bộ kho tàng giáo lý Nguyên Thủy - Theravāda.

MC 2C ................. / ĐK: ..................

Tiếng Pālī khởi nguyên là ngôn ngữ không có hệ thống mẫu tự riêng. Mãi cho đến khoảng năm 100 tr.CN thì Thánh Điển Tam Tạng mới được cố định bằng chữ viết lần đầu tiên, do các vị Tăng sĩ luật học đã viết chữ Pālī bằng cách dùng các mẫu tự Sinhala của họ. 11. Từ đó, Thánh Điển Tam Tạng đã được chuyển ngữ sang nhiều loại chữ viết (như Devanagari, Thai, Burmese, Roman, Cyrillic, chỉ kể sơ một số). Mặc dù các bản dịch tiếng Anh tràn ngập, nhiều người nghiên cứu Phật Giáo Nguyên Thủy - Theravāda thấy rằng việc học tiếng Pālī - cho dù chỉ lỏm bỏm đôi chút - cũng làm cho sự thấu hiểu và ngoạn thưởng của họ về giáo lý của Đức Phật được sâu hơn rất nhều.

Không ai có thể minh chứng rằng Thánh Điển Tam Tạng có chứa bất cứ một từ nào thật sự thốt ra từ kim khẩu của Đức Phật trong lịch sử. Các Phật tử tu học Phật không hề cho đây là vấn đề. Không giống như kinh điển của các tôn giáo lớn trên thế giới, Tam Tạng không được coi là thánh kinh, như là sự khẳng định không sai lầm về chân lý thiêng liêng, do một đấng tiên tri khải ngộ, phải được chấp nhận bằng đức tin thuần túy. Còn giáo lý của Đức Phật nhắm tới sự được thẩm định trước tiên, được thực hành trong cuộc sống của mình cho nên người ta phải tự phát hiện xem các giáo lý ấy, thực ra, có đem lại các kết quả mong đợi không. Chính chân lý mà ngôn ngữ trong Tam Tạng Kinh Điển chỉ dạy mới là tối quan trọng, chứ không phải chính bản thân ngôn ngữ. Dù rằng các học giả sẽ tiếp tục bàn cải về nguồn gốc của những phần trong Tam Tạng Kinh Điển trong nhiều năm sắp tới (và như vậy hoàn toàn đánh mất cốt lõi của giáo lý), Tam Tạng Kinh Điển sẽ âm thầm tiếp tục phục vụ - như chúng đã từng trong bao thế kỷ - như là sự hướng đạo không thể thiếu được cho hằng triệu tín đồ trong việc mưu cầu Giác ngộ.


Chúng con kính cung thỉnh ............ từ bi thuyết giảng Phần IIBC bài học hôm nay. Namo Buddhaya.

MC 3 ................. / ĐK: ..................

III. Người Xưa Chốn Cũ (NS Liễu Pháp biên soạn)

Hỏi: Xin cho biết vài chi tiết về tôn giả Upāli ? Cuộc kết tập kinh điển đầu tiên diễn ra ở đâu và thế nào ?

Đáp:
Tôn giả Upāli sinh vào dòng Thủ Ðà La. Bởi thế, ngay từ thuở nhỏ đã không được hưởng quyền lợi về học vấn. Lúc lớn khôn cha mẹ định chọn cho Upāli một nghề sinh nhai. Nhưng trong các nghề mà người nô lệ được phép làm như lao động tay chân, cày cuốc, đánh xe, giữ ngựa, gánh phân, Upāli không đủ sức vì ốm yếu mảnh mai. Cuối cùng, Upāli được chọn đi học nghề thợ cạo râu tóc, nghề nhẹ nhàng nhất. Học chẳng bao lâu, Upāli thành thạo nghề nghiệp một cách tài tình. Nhờ có người giới thiệu, Upāli được nhận vào vương cung Kapilavatthu để hớt cạo râu tóc, trang điểm cho các vương tôn công tử. Nhờ đức tính thuần lương nhu mì, trung hậu, Upāli được vương tôn công tử tín nhiệm và cho ở lại trong cung đình. Khi Đức Phật về thăm lại thành Kapilavatthu, nhờ thấm nhuần mưa pháp, một số vương tôn công tử đã xin theo Đức Phật xuất gia. Upāli cũng theo các vương tôn công tử xuất gia cùng một ngày, nhưng Đức Phật cho Upāli thế phát trước, các vương tôn thế phát sau, để phá tâm kiêu mạn của các vương tôn và cho thấy tinh thần bình đẳng của giáo pháp, nhằm xóa bỏ mọi giai cấp trong xã hội. Trên đường giáo hóa, Upāli là người đầu tiên thuộc đẳng cấp nô lệ Thủ Ðà La được Đức Phật thu nhận tham dự giáo đoàn. Ðó cũng là một bước tiến bộ đầu tiên đã ghi vào lịch sử văn minh Ấn Ðộ. Về sau, Upāli trở thành vị Trì giới đệ nhất (vinayadharānaṃ).

MC 3A ................. / ĐK: ..................

Hội Nghị Kết Tập Kinh Điển Lần Thứ Nhất:

Sau ba tháng Thế Tôn viên tịch, những đại đệ tử của Ngài triệu tập một đại hội ở thành Rājagaha (Vương xá) để trùng tuyên và tổng kết những lời dạy của Đức Phật trong suốt 45 năm. Trưởng lão Kassapa trụ trì đại hội này. Có hai vị rất quan trọng trong đại hội này, các ngài thiên về hai lãnh vực khác nhau - hai vị này trùng tuyên lại Pháp và Luật (Dhamma và Vinaya): ngài Ānanda là vị đệ tử hầu cận Đức Phật trong suốt 25 năm, ngài có trí nhớ siêu việt, có thể đọc lại những điều Đức Phật đã thuyết giảng; và ngài Upāli đọc lại tất cả những giới luật Đức Phật đã ban hành.

Trong đại hội kết tập lần thứ nhất, toàn bộ Pháp và Luật được trùng tuyên lại. Trước khi Đức Thế Tôn viên tịch, Ngài có bảo Đại Đức Ānanda rằng nếu Tăng già muốn sửa đổi một ít giới luật nhỏ, thì các vị có thể sửa đổi. Nhưng lúc đó ngài Ānanda quá u sầu vì Thế Tôn sắp viên tịch, nên ngài không có hỏi bậc Đạo sư giới nào là giới nhỏ. Những thành viên của hội nghị không đồng ý về điều giới luật nào là giới nhỏ, cuối cùng trưởng lão Kassapa quyết định rằng không có giới luật nào Thế Tôn đưa ra phải thay đổi, và Ngài cũng không có giới thiệu thêm giới luật mới nào. Như vậy không có lý do chính đáng nào để thay đổi giới luật. Tuy nhiên trưởng lão Kassapa nhắc nhở một điều: "Nếu chúng ta thay đổi giới luật, dư luận quần chúng sẽ nói rằng đệ tử Sa Môn Gotama thay đổi giới luật trước khi Ngài hỏa táng".

Trong đại hội, giáo pháp được phân chia thành những phần khác nhau, mỗi phần được ấn định cho một vị trưởng lão và đệ tử của vị đó để ghi nhớ. Sau đó giáo pháp được truyền khẩu từ vị thầy đến đệ tử. Giáo pháp được đọc tụng hằng ngày do bởi những hội chúng thường xuyên kiểm chứng với nhau để bảo đảm rằng không có sự thiếu sót hoặc thêm bớt nào cả. Những nhà sử học công nhận rằng truyền thống khẩu truyền thì đáng tin cậy hơn một bản báo cáo do một người viết về một sự kiện xảy ra sau nhiều năm.

Chúng con kính cung thỉnh ............ từ bi thuyết giảng Phần III bài học hôm nay. Namo Buddhaya.

MC 4 ................. / ĐK: ..................

IV. Chữ và nghĩa (TT Tuệ Siêu biên soạn câu trả lời)

Hỏi: Từ ngữ thera được dùng trong kinh điển với ý nghĩa ra sao ?

Ðáp:
Từ ngữ thera dịch là vị trưởng lão, thượng tọa, vị xứng đáng được chỗ ngồi trên trước trong Tăng chúng.

Từ ngữ thera, nếu nói theo tướng, thì luật qui định một vị tỳ kheo có hạ lạp từ 10 năm trở lên, được gọi là thera.

Nếu nói theo tánh, thì kinh dạy rằng một vị đáng gọi là thera phải có 10 đức tánh: Nhiều kinh nghiệm, giới hạnh, đa văn, thuộc lòng giới bổn, rành rẽ về việc hòa giải tranh sự, có chí cầu pháp, sống tri túc, giao tế lịch sự, đắc thiền định, chứng quả giải thoát.

Chúng con kính cung thỉnh ............ từ bi thuyết giảng Phần IV bài học hôm nay. Namo Buddhaya.

MC 5 ................. / ĐK: ..................

V. Học và hỏi (Sư Tuệ Minh biên soạn câu trả lời)

Hỏi:
Tinh thần tông phái có làm tốt sự tu tập không ?

Ðáp:
Khi Đức Phật níp bàn, Ngài có nhắn nhủ rằng "Sau khi Như Lai tịch diệt, Pháp và Luật này là thầy hướng đạo cho chúng đệ tử".

Một người đang tìm hiểu hay đang trong quá trình tu tập phải học và hiểu khi đối chiếu với kinh, y cứ vào luật thì mới hành theo. Vì từ khi Đức Phật viên tịch cho đến nay có rất nhiều tông, phái xuất hiện, mà mỗi tông, phái đó đều có một chủ thuyết riêng biệt.

Không hiểu về Kinh và Luật thì không có chánh kiến để phân biệt đâu là lời Phật dạy, đâu là không phải.

Có nhiều tông phái xuất hiện ảnh hưởng nhiều trong việc tu tập về các chủ thuyết của các tông, phái đó. Cho nên điều quan trọng nhất là "Pháp môn nào thực hành mà đem lại lợi ích, đưa đến giải thoát" thì pháp môn đó nên hành theo.

Chúng con kính cung thỉnh ............ từ bi thuyết giảng Phần V bài học hôm nay. Namo Buddhaya.


VI. Đố Vui (TT Giác Đẳng soạn câu đố)

1. Theo lịch sử thì từ "đại thừa" và "tiểu thừa" bắt đầu có mặt từ lúc nào ?

a. Thời Phật tai thế.
b. Thời vua Asoka.
c. Thế kỷ I Tây lịch.
d. Thế kỷ XII Tây lịch.

2. Ngôn ngữ Magadha được chọn làm ngôn ngữ kết tập kinh điển bởi vì:

a. Văn hóa Magadha là một trong những nền văn hóa chủ lưu của văn minh Ấn hà thời bấy giờ.
b. Tiếng Magadha mang tính đại chúng hơn giáo ngữ Sanskrit.
c. Cuộc kết tập Tam tạng đầu tiên được tổ chức tại kinh đô Vương Xá (Rājagaha).
d. Cả ba điều trên.

3. Tam tạng kinh điển được gìn giữ trong cách truyền khẩu có đặc điểm nào dưới đây ?

a. Được ghi rõ mỗi bộ có bao nhiêu phẩm, bao nhiêu bài kinh, bao nhieu đoạn, bao nhiêu chữ.
b. Cách học nằm lòng, trùng tụng, đối chiếu khả tính hơn sách in.
c. Tam tạng Pāli ghi rõ những gì thời Phật và những gì hậu tác.
d. Cả ba điều trên.


________________________________________

Phần II:
Hồi Hướng này đọc khi kết thúc phần đố vui và giảng sư mời Pt MC lên hoàn mãn buổi học. Giới thiệu bài học hôm sau/ Hồi Hướng (Tri Chúng lên hồi hướng)

Sadhu! Sadhu ! Lành Thay!
Con .......... thay mặt đại chúng trong room, chúng con kính tri ân Chư Tôn Đức đã mở lòng bi mẫn giảng dạy Phật pháp hữu ích cho chúng con , đã hướng dẫn, dìu dắt chúng con tiến bước trên hành trình tu tập hầu mong đem lại an lạc trong đời sống và hướng đến đạo quả giải thoát luân hồi. Nguyện hồi hướng phước báu pháp thí đến Ni Sư Diệu Tịnh được nhiều an lạc, tùy tâm mãn nguyện. Cám ơn đại chúng đã lắng tâm thanh tịnh thính pháp. Kính cám ơn quý chủ nhiệm, Ops, xướng ngôn viên đã yểm trợ cho các phần hành trong lớp học được hoàn tất mỹ mãn. Chúng con kính chúc chư Tôn Đức thân tâm thường lạc, đạo hạnh trang nghiêm, tâm bồ đề viên đắc, Phật đạo chóng viên thành, chúc quý đạo hữu luôn an lạc cát tường trong chánh pháp nhiệm màu của Đức từ phụ Thích Ca Mâu Ni.

Kính Bạch chư Tôn Đức,
Kính thưa quý đạo hữu,

Ngày mai chúng ta sẽ có Lớp Phật Giáo Sử do NS Liễu Pháp đảm trách phần II Nội Dung Chính và chư Tôn Ðức giảng sư trong room Diệu Pháp ở các phần khác, với sự điều hợp chương trình của các OpsMC. Để kết thúc chương trình xin chúng ta nhất tâm hồi hướng.

Nguyện công đức đã làm
Kết duyên lành giải thoát
Nguyện hồi hướng chư thiên
Hàng thiện thần hộ pháp
Nguyện các bậc hữu ân
Ðồng thừa tư công đức
Nguyện chánh pháp trường tồn
Chúng sanh cầu giải thoát
Namo Buddhaya

mở kinh tụng và nhạc, (đóng room)

Kính thưa đại chúng, chương trình sinh hoạt hôm nay đến đây đã kết thúc. Ban điều hành room Diệu Pháp xin phép được đóng room trong vài giây tới. Kính chào tạm biệt tất cả hẹn ngày mai sẽ trở lại trong giờ thường lệ. Namo Buddhaya.