Chủ Nhật, 27 tháng 8, 2006

No. 1089 NEW (Upekha dịch)

Chùa cổ 500 năm tuổi ở Chiang Mai bị sập đổ

CHIANG MAI, Aug 20 (TNA) -- Khu vực gần ngôi chùa (chedi) lịch sử cổ xưa 5 thế kỷ bị sụp đổ trong khuôn viên một ngôi chùa Phật Giáo sau cơn mưa lớn trút xuống thuộc vùng cựu thủ đô phía bắc khiến nhà chức trách tỉnh lỵ phải tuyên bố là: “ khu vực nguy hiểm ”.

Mang lưới an toàn được đặt năm thước cách xa từ ngôi chùa chedi 505 năm tuổi trong vòng phạm vi vùng ngoại ô thuộc ngôi chùa lịch sử Pan On tại khu thành phố Chiang Mai

Những người thăm viếng bị cấm đoán không được đi vào khoảng đất rào kín hành lang ngôi chùa vì người ta lo ngại cơn mưa khác có thể làm sụp đổ phần khác của ngôi chùa xưa cổ tại sườn núi phía tây và gây tổn hại người qua lại và những người thăm viếng có thể đánh cắp đi những di tích khảo cổ.

Các viên chức thành phố hiện tại đang bảo vệ chung quanh cơ sở sụp đổ 24/24 với quan tâm đặc biệt vì có thể kẻ trộm sẽ lợi dụng tình hình đánh cắp hình tượng Phật được gìn giữ bên trong ngôi chùa được xây dựng trong triều đại của Hoàng Đế Meng Rai thứ 12

Viện chủ trì cho rằng việc sụp đổ là do nước mưa thấm vào các làn rạn nứt của kiến trúc.

Những cư dân sống gần ngôi chùa nói họ nghĩ rằng việc sụp đổ có thể là do kết quả của việc tái kiến thiết hai ngôi chùa chedis, điều đó gây ảnh hưởng đến sự sụp đổ của ngôi chùa. Họ nói những công nhân xây dựng đã khoan vào bên trong nền móng các tháp cho việc khám xét vào 2 ngày trước khi bị sụp đổ.

Dân địa phương nói việc khoan đục làm cho yếu hơn mặt khác nước mưa thấm dần bên trong chedi đã có sẵn nguy hại dễ dàng cho việc sập đổ.

Các viên chức thuộc Bộ Mỹ Thuật Cao Ðẳng sẽ duyệt xét công trình bị hư hại trong thời gian không lâu.

------------------------------------------------------------------------------------------


No. 1098 NEW (Hạt Cát dịch)

Một trung tâm Phật Giáo giới thiệu sự lợi lạc của

thiền quán đến cho những tâm hồn nặng trĩu

By EILEEN SCHULTE, Times Staff Writer
Published August 26, 2006

TARPON SPRINGS, Florida -- Trong một thế giới hỗn độn đầy ắp công việc, máy móc, truyền hình và điện thoại di động, các nhà khoa học Pat và Micheal Lawman phát hiện rằng họ không thể đơn giản để cho tâm trí căng thẳng của họ ngưng nghỉ khi đến lúc phải đi ngủ.

Nhưng thay vì phải dùng dược liệu, họ xoay qua hành thiền.

Thí nghiệm hiệu quả.

“Chúng tôi trở về nhà và ngủ suốt đêm lần đâu tiên trong nhiều năm”. Pat Lawman, 53 tuổi, nói về kinh nghiệm lần đầu tiên thực hành nghệ thuật cổ xưa này vào hai năm trước.

Gia đình Lawman là chủ công ty Morphogenesis, một công ty công nghệ sinh học ở Oldsmar, là hai trong số người tham dự một khóa thiền quán Phật giáo được France Roy hướng dẫn trong tuần này.

Do nhu cầu gia tăng, trung tâm Phật Giáo Parbawatiya, trụ sở tại Safety Harbor, đã giới thiệu một lớp chi nhánh tại Trung Tâm Cộng Ðồng Tarpon Springs ở số 400 S đường Walton.

Roy, 22 tuổi, một sinh viên tốt nghiệp tại Ðại Học DeVry, một chuyên viên phát triển nhu liệu tại công ty Image One ở Tampa, Florida, đã thực tập thiền quán từ hồi 16 tuổi.

Hiện anh là điều hợp viên chương trình giáo dục tại Trung Tâm Thiền Tập Parbawatiya, trung tâm được thiết lập năm 1996 do giảng viên Nick Gillespie.

Gillespie là giảng viên thường trú tại các trung tâm ở Safety Harbor, trung tâm Kancha Buddhist Center ở Sarasota và Drolma Buddhist Center ở Fort Lauderdale thuộc vùng Miami, Florida.

Trung tâm mà anh ta thành lập là trung tâm Phật giáo đầu tiên theo truyền thống New Kadampa . Phật Giáo New Kadampa, một nhánh Phật Giáo Ðại Thừa sáng lập bởi một đại sư Ấn Ðộ, Master Atisha ( 982-1054 sau Tây Lịch), truyền thống này về sau được Ðại Sư Tông Khách Ba cải tổ thành trường phái Ge lug pa, người Tây Phương đối với truyền thống này dễ dàng chấp nhận và đưa vào áp dụng trong đời sống hằng ngày để thực tập đời sống an bình hòa ái hơn” Roy nói như trên.

Ðể giúp đỡ các học viên thư giản tâm trí và buông bỏ mọi dính mắc, Roy dùng phương pháp theo dõi hơi thở để hướng dẫn hành thiền.

Anh yêu cầu học viên xả bỏ hết ganh tỵ, giận dữ, sầu bi và tất cả những vọng tưởng, hoặc những gì mà anh gọi là độc tố ngăn trở hạnh phúc.

Anh yêu cầu họ ngồi thẳng trên ghế của họ, khép hờ đôi mắt và đôi bàn tay đặt ngửa lên nhau trong lòng.

“Bắt đầu từ đỉnh đầu, từ từ di chuyển xuống thân thể và hãy để cho bất cứ những gì căng thẳng tan biến đi”, anh nói với học viên “Quét xuống cánh tay bạn và hãy tưởng tượng bạn đang có cảm giác xả bỏ một phần gánh nặng của hành lý. Cứ đơn giản mường tượng là nó đang rơi xuống, quét xuống chân bạn, hãy để bất cứ áp lực nào còn lại trong cơ thể bạn trôi ra khỏi đôi chân của bạn”.

Bashaw, 43, một nhân viên làm việc trong kỹ nghệ hàng không, đã thực hành thiền quán được một năm, nói rằng nó đã cải thiện đời sống anh. “Nó làm tâm tư tôi lắng động, nó giúp tôi điều phục áp lực xảy ra trong ngày một cách hữu hiệu hơn”.

Lớp Phật Học Chuyên Đề

LÀM QUEN VỚI TAM TẠNG KINH ĐIỂN

Phần II: Kinh điển nào cần đọc ?


http://minhhanhdp.brinkster.net/access_to_insight/BefriendingTheSuttas.htm
____________

Giảng sư: ĐĐ Tuệ Quyền

I. Đại lược

Hỏi: Xin cho biết đại lược về bài học.

Ðáp:
Kinh điển có thể giúp đỡ rất đầy đủ để nghĩ đến Pháp Phật như là vật bảo quý giá, mỗi một bài kinh cho bạn đại cương một hay hai khía cạnh. Thí dụ, Đức Phật giảng dạy Tứ Diệu Đế và Bát Chánh Đạo ; bố thí (dāna) giới (sīla), thiền theo hơi thở và quán tưởng sự chết, của đời sống hoàn hảo của những người cư sĩ hay những tăng sĩ. Không một bài kinh nào nói hết tất cả, mỗi bài kinh tùy thuộc vào khung cảnh của thời giảng bài Pháp. Bạn càng đọc nhiều kinh điển thì bạn càng thấy đây là trân bảo.

II. Nội dung chính

Hỏi: Kinh điển nào cần đọc
?

Ðáp:
Dưới đây là câu trả lời của tiến sĩ John Bullitt, một Phật tử người Hoa kỳ, chủ biên của trang Chìa Khóa Học Phật.

Kinh sách đề nghị đọc cho người bắt đầu tìm hiểu Phật Pháp.

Mới bắt đầu, tất cả các Phật tử phải học và thực hành năm giới và Năm Sự Kiện cần phải quan sát mỗi ngày. Lại nữa, chúng ta phải đặc biệt chú ý vào lời Đức Phật day con trai của Ngài là Rahula, là một bài kinh liên quan tới nhiệm vụ căn bản của chúng ta mỗi khi chúng ta làm công việc có chủ tâm trong tất cả vấn đề. Từ đó bạn có thể tiếp tục học hỏi những lời giảng dạy của Đức Phật theo từng bước một hoặc tăng dần trong giáo Pháp được bao gồm trong những đề tài: từ bi, đức hạnh, hạnh phúc, tiết chế trong dục, hành xả và Tứ Diệu Đế.

Kinh sách đọc để biết giáo lý căn bản.

Nếu bạn thích một nền tảng vững chắc về cơ bản của Phật Pháp, ba quyển kinh được mọi người biết đến cho là thiết yếu để đọc: Chuyển Pháp Luân (SN 56.11). Bài giảng về Tính chất Vô ngã (SN 22.59) và Bài giảng Lửa (SN 35.28). Cùng với đó, những kinh này - “Tam Tạng” Kinh điển – xác định những chủ đề của giáo pháp đức Phật tái xuất hiện trong vô vàn đa dạng xuyên suốt kho tàng kinh điển. Trong những kinh này, chúng ta được giới thiệu những khái niệm cơ bản như là Tứ Thánh Đế; bản chất của dukkha (khổ); Bát Chánh Đạo; “Trung Đạo”, Bánh xe Pháp; nguyên lý anatta (vô ngã) và việc phân tích “bản ngã” của con người thành năm uẩn, nguyên lý trút bỏ sự quyến rũ của những vui thú cảm quan trần tục; và nhiều cấp độ (cảnh giới) sinh linh đặc trưng cho vũ trụ học Phật giáo. Những nguyên tắc cơ bản này cung cấp một bộ khung vững chắc trên đó những giáo pháp khác trong kho tàng kinh điển được đặt vào.

Những bài kinh lý thú.

Hơn nữa, Tam tạng kinh điển này minh chứng tuyệt đẹp về kỹ năng nổi bật của Đức Phật với tư cách là một người Thầy: Ngài tổ chức tư liệu rõ ràng, hợp lý, theo cách dễ nhớ như dùng những bảng liệt kê (Tứ Thánh Đế, Bát Chánh Đạo, Ngũ uẩn v.v.); Ngài đưa người nghe vào một cuộc đối thoại tích cực, giúp họ tự bóc trần những sai lầm trong sự hiểu biết của chính mình, Ngài truyền đạt quan điểm của mình bằng những so sánh và những hình ảnh mà người nghe hiểu ngay; và có ý nghĩa nhất, từng lúc, Ngài kết nối với người nghe thật hiệu quả cho đến nỗi họ có thể tự nhận ra những kết quả siêu việt mà Ngài đoán chắc. Việc thấy được Đức Phật trên phương diện là một người Thầy với năng lực phi thường động viên chúng ta tiến sâu hơn nữa vào kho tàng kinh điển, tự tin rằng, giáo Pháp của Ngài sẽ không dẫn ta đi chệch hướng.

Vài đề nghị cụ thể.

Những bài kinh nên đọc cho người mới bắt đầu.

* Tập Tiểu Bộ Kinh - Khuddaka Nikaya cung cấp một kho tàng kinh điển quan trọng trong thể thơ. Đặc biệt trong Kinh Pháp Cú, Kinh Tập, Trưởng Lão Ni Kệ, Trưởng Lão Tăng Kệ.

* Để đọc bài hướng dẫn căn bản thiền hơi thở, xem tại Kinh Nhập Tức Xuất Tức Niệm; sự giảng dạy của Ngài cho sự hành trì an trú chánh niệm, xem tại Kinh Đại Niệm Xứ.

* Để học hỏi làm thế nào để nuôi dưỡng tình thường, xem tại Karaniya Metta Sutta.

* Trong bài kinh Devadaha Sutta Ngài Sariputta giải thích làm thế nào để giới thiệu Phật Pháp tới những người muốn tìm hiểu, những người sáng suốt, những người như bạn.

* Như thế nào để có thể quyết định con đường đạo nào nên theo đường nào không nên theo ? Kinh Kalama Sutta sẽ làm sáng tỏ vấn đề này.

* Trong kinh Giáo thọ Thi-ca-la-việt Đức Phật đưa ra bản hướng dẫn ngắn gọn rằng người cư sĩ như thế nào có được đời sống hạnh phúc và một đời sống trọn vẹn.

Khi bạn tìm thấy bài kinh thu hút được sự thích thú của bạn, hãy tìm những bài khác tương tựa như vậy. Từ đó, bạn muốn theo hướng nào cũng được, sẽ chọn lựa được những điều quí giá trên con đường tu tập.

III. Người Xưa Chốn Cũ

Hỏi:
Kālāma là xứ nào ? Asoka là ai ?

Đáp:
1. Kālāma là tên của một bộ tộc tại Kesaputta thuộc vương quốc Kosala. Bộ tộc nầy thuộc dòng Khattiya (Sát đế lỵ). Bài kinh Đức Phật giảng cho dân chúng Kālāma được các học giả gọi là "bản tuyên ngôn tự do tư tưởng sớm nhất và vĩ đại nhất của nhân loại". Một trong hai vị đạo sư mà Đức Phật đã gặp trước khi thành đạo là Alāra-Kālāma đến từ bộ tộc nầy.

2. Asoka (A Dục Vương) là vị hoàng đế thống nhất Ấn Độ đầu tiên và là người có công lớn nhất đưa Phật giáo đến nhiều vùng đất ngoài Ấn Độ. Nguyên là vua của xứ Magadha, con trai vua Bindusāra, Asoka đăng quang năm 218 sau Phật viên tịch trở thành hoàng đế của một Ấn Độ với biên cương rộng lớn nhất từ trước đến nay. Về sau trở thành một Phật tử thuần thành và bảo trợ công cuộc kết tập Tam Tạng kỳ III (vào năm thứ 7 tại vị). Vua Asoka băng hà sau 37 năm trị vì thiên hạ.

IV: Chữ và Nghĩa

Hỏi: Tại sao gọi là Tạng Kinh (sutta pitaka) ? Tại sao gọi là Tạng Luật (vinaya pitaka)? Tại sao gọi là Tạng Diệu Pháp (Abhidhamma pitaka) ?

Ðáp:
Tạng Luật (Vinaya Pitaka)

Tạng Luật được xem là cái neo vững chắc để bảo tồn con thuyền giáo hội trong những cơn phong ba bão táp của lịch sử. Phần lớn tạng Luật đề cập đến giới Luật và nghi lễ trong đời sống xuất gia của các vị tỳ khưu và tỳ khưu ni. Ngót hai mươi năm sau khi Thành Đạo, Đức Phật không có ban hành giới luật nhất định để kiểm soát và khép chư tăng vào kỹ cương. Về sau, mỗi khi có trường hợp xảy diễn, Đức Phật đặt ra những điều răn thích hợp. Tạng Luật nêu rõ đầy đủ lý do tại sao và trường hợp nào Đức Phật ban hành một giới, và mô tả rành mạch các nghi thức hành lễ sám hối (Vinaya) của chư Tăng.

Tạng Kinh (Sutta Pitaka)

Tạng Kinh đại để gồm những bài Pháp có tánh cách khuyên dạy mà trong nhiều cơ hội khác nhau, Đức Phật giảng cho các bậc xuất gia và hàng cư sĩ. Một vài bài giảng của các vị đại đệ tử như các ngài Sārīputta (Xá Lợi Phất), Moggallāna (Mục Kiền Liên) và Ānanda (A Nan Đà) cũng được ghép vào Tạng Kinh và cũng được tôn trọng như chính lời Đức Phật vì đã được Đức Phật chấp nhận.Tang Kinh giống như một quyển sách ghi lại nhiều quy tắc để coi theo mà thực hành, vì đó là các bài Pháp do Đức Phật thuyết giảng ở nhiều trường hợp khác nhau cho nhiều người có căn cơ, trình độ, và hoàn cảnh khác nhau. Ở mỗi trường hợp, Đức Phật có một lối giảng để người thính Pháp có thể lãnh hội dễ dàng.

Tạng Luận (Abhidhamma Pitaka - Vi Diệu Pháp Tạng)

Tạng Luận
thâm diệu và quan trọng nhất trong toàn thể Giáo Pháp vì đây là phần triết lý cao siêu, so với Tạng Kinh vốn giản dị hơn. Abhidhamma, Tạng Luận hay Vi Diệu Pháp, là tinh hoa của Phật Giáo. Đối với bậc thiện trí thức muốn tìm chân lý, Tạng Luận là quyển kinh chỉ đạo khẩn yếu, vừa là một tập khải luận vô giá. Ở đây có đủ thức ăn tinh thần cho các học giả muốn mở mang trí tuệ và đời sống lý tưởng của người Phật tử. Vi Diệu Pháp không phải loại sách để đọc thoáng qua cầu vui hay giải trí.

V. Học và hỏi

Hỏi: Người Phật tử cư sĩ thường trông cậy ở chư Tăng sự hướng dẫn tìm hiểu Phật Pháp, thế nhưng chư tăng thường có nhiều ý kiến khác biệt vậy thì nên thế nào ?

Ðáp:
Hàng xuất gia có khả năng giúp cho người cư sĩ nhiều về học Phật. Thế nhưng mỗi cá nhân dù tu sĩ hay cư sĩ phải tự mình nhận chịu trách nhiệm tối hậu về sự tu học của mình. Những giảng giải của tăng ni nên hiểu là "cơ hội" hoặc "duyên lành". Không nên "giao khoán" việc tu học hay bồi đắp chánh kiến cho người khác dù người đó là ai.

VI. Đố Vui

1. Vị cư sĩ nào dưới đây dịch nhiều nhất kinh sách Phật giáo ra tiếng Việt:

a. Mai Thọ Truyền.
b. Phạm Kim Khánh.
c. Chơn An.
d. Nguyễn Văn Hiểu.

2. Có nên học hỏi kinh điển với sự tập trung vào những gì mình thích không ?

a. Rất nên. Cái gì mình thích thì sẽ tạo nên nhiều nhiệt thành.
b. Không nên. Cái mình thích thường rất tầm thường.
c. Nên đọc cái mình thích và tång trưởng sở thích lành mạnh.
d. Chỉ nên đọc những gì mình không thích vì có thể bổ túc được những khuyết điểm của mình.

3. Bộ Tam Tạng nào dưới đây ra đời gần đây nhất:

a. Tam Tạng Pālī.
b. Tam Tạng chữ Hán.
c. Tam Tạng tiếng Việt.
d. Tam Tạng tiếng Anh.

Thứ Bảy, 26 tháng 8, 2006

No. 1095 NEW (Minh Châu dịch)

Kệ tụng và đạo ca Phật giáo Tây Tạng được đưa vào

thị trường âm nhạc Ấn Ðộ và Hoa Kỳ

Dharamsala (Himachal Pradesh), ngày 25 tháng 8 -- Một bộ năm đĩa CD đạo ca và kệ tụng Phật giáo đã được một nữ tu người Tây Tạng với một giọng ca tuyệt vời đưa vào thị trường Ấn Ðộ và Hoa Kỳ.

Vị nữ tu Ani Tsering Wangmo nóí rằng mục đích của Sư Cô là dùng giọng hát của mình để xiển dương đạo Phật qua hình thức âm nhạc. Lợi nhuận thu được sẽ dùng vào việc tiếp nối dự án này đồng thời cũng sẽ được dùng vào những công tác xã hội.

Theo ông Lobsang Wangyal, giám đốc chủ nhiệm của L. Wangyal Productions, bốn đĩa nhạc theo thể loại “Âm nhạc quốc tế” sẽ được đặt tên “Immeasurable Joy”, “Immeasurable Loving Kindness”, “Immeasurable Compassion” và “Gyaling”. Ðĩa nhạc thứ năm, “Immeasurable Equanimity”, là một đĩa nhạc rất gần gũi với truyền thống Dudjom Rinpoche's Thröma Nagmo. Các đĩa nhạc này sẽ được tung ra trên đất nước Ấn Ðộ và Hoa Kỳ vào cuối tháng này, và sau đó sẽ được gởi đi toàn cầu.

Tenzin Dawa, người đã cho ra đĩa nhạc khởi đầu “One day” (dù rằng trong thể nhạc pop) vào tháng giêng, đã phụ trách phần hòa âm cho các đĩa nhạc của Sư Cô Ani. Sự thành công của đĩa nhạc này đã khiến ông cho tái bản lần thứ hai. “One day” lại tái xuất với một hình bìa mới, với hình ảnh của ông trong một chiếc áo cổ truyền Tây Tạng màu đỏ.

Ông Lobsang nói rằng tất cả lợi tức thu được từ những CD của Sư Cô Ani sẽ được gửi cúng dường ba nơi: Khu vườn Ewam Magadha với 1000 pho tượng Phật, hiện đang được xây dựng tại Arlee, Montana, Hoa Kỳ, một Bệnh xá cho người Tây Tạng trên đất nước Tây Tạng, và Ni viện Yuloko Jetsun Ling tại Nepal.

Sư Cô Ani sinh trưởng tại Lhasa và xuất gia vào lúc 12 tuổi. Sau khi trốn từ Tây Tạng đến đất nước Nepal vào năm 1991, Sư Cô đã gia nhập Ni viện Yuloko Jetsun Ling.

Ngay khi hoàn mãn thời gian ba năm tĩnh tu truyền thống vào năm 1996, Sư Cô đã khởi sự và hiện đang tiếp tục làm việc cho công trình Ewam Pecha (Kinh điển). Hiện Sư Cô đang cư ngụ tại Montana, nơi mà Sư Cô đã học tiếng Anh.

Sư Cô Ani đã hoàn thành đĩa nhạc đầu tiên “Turquoise Leaf” vào năm 2000. Ðĩa nhạc này được thu âm tại Hoa Kỳ. Năm 2004, Sư Cô đã thu âm “Laughter of the Dakini”.

------------------------------------------------------------------------------------------


No. 1097 NEW (Hạt Cát dịch)

Một Tu sĩ Cam Bốt say sưa mất phẩm cách bị giải y

Nam Vang - August 27, 2006 -- Một tu sĩ Cam Bốt, người đã uống rượu say sưa trần trụi làm mất phẩm cách của một tu sĩ đã bị trục xuất khỏi tăng đoàn.

Sim Soktriya, Sư trưởng khu vực Russei Keo ngoại biên thủ đô Nam Vang nói một phụ nữ phát hiện vị tu sĩ trần trụi này nằm bất tỉnh trước cửa nhà của cô.

Sư Soktriya nói Dem Yonly, 30, đã uống thiềm tửu (tức là rượu ngâm cóc), bào chữa việc vi phạm giới cấm của tu sĩ bằng cách nói rằng ông ta uống rượu như là dược liệu để chữa trị một chứng bệnh lạ. Người dân Cam Bốt tin rằng độc chất trong con cóc có thể chữa trị chứng bệnh nào đó.

Yonly sau khi uống rượu say đã trần trụi vất vưỡng ngủ bờ ngủ bụi ở gần ngôi chùa ông ta thường trú, gây sợ hãi cho một phụ nữ khi đi ngang qua đó, phát hiện ra một tu sĩ nằm trong vườn nhà trên mình lấm lem bùn đất. Cảnh sát đã giao trả ông ta về chùa.

Sư trưởng Soktriya nói ông ta không phải chịu hình phạt với danh nghĩa tội phạm, chúng tôi chỉ yêu cầu anh ta trở về nhà. Ðây không phải là lần đầu tiên ông ta bị cảnh cáo, nhưng ông ta đã không chịu nghe lời.

Sư Soktriya nói Yonly đã thọ giới tu sĩ gần 7 năm nhưng không có biểu hiện tiến bộ nào. Biện pháp giải y cũng sẽ ngăn cấm không cho phép ông ta trở lại đời sống tu sĩ tại bất cứ ngôi chùa nào trên đât nước Cam Bốt.


Nhật Hành

Ngày: 26 tháng 08 năm 2006

Tri chúng: Giới Hương

Tri chúng điền khuyết: Nguon Duc Hanh

Môn học: Lớp Luật Nghi Cư Sĩ

Bài học: “ SÁU NẼO SUY VONG CỦA NGƯỜI CƯ SĨ ”


Giảng Sư Chính: ĐĐ Pháp Đăng

Giảng Sư Điền khuyết: TK Giác Đẳng


Vị Tăng hoặc Ni nói lời cầu nguyện đầu lớp học: ĐĐ Minh Hạnh

Xướng ngôn viên: TC, Nguon Đuc Hanh, Tinh Tan, Hat Cat, Chanh Hanh, Bich Thu, Sangkhaly, Upekha, Karuna, Anitya, Nhu Phuc, Minh Chau54
http://baidocmc.blogspot.com & http://bandieuhanh.blogspot.com

Người mở room: Hạt Cát, Tinh Tan, Upekha (đk).

Người mở nhạc và kinh tụng: Hạt Cát, Tinh Tan, Upekha (đk).

Người hoán chuyển bài cho Room: Hat Cat - Nhu Phuc (đk).

Người post bài cho Room: Tinh Tan, Nhu Phuc.

Người post và gửi bài riêng cho chư Tăng: Hat Cat, Nhu Phuc.

Trực room (op): TC đk & Nhu Phuc, Upekha, Karuna.

Thông báo (nếu có):
Lớp Luật Nghi Cư Sĩ

SÁU NẺO SUY VONG CỦA NGƯỜI CƯ SĨ

____________

Giảng sư: ĐĐ Pháp Đăng


I. Đại lược

Hỏi: Xin cho biết đại lược về bài học.

Ðáp:
Đức Phật đã thuyết điều này cho gia chủ tử Sin°gālaka nghe. Gia chủ tử Sin°gālaka là người theo hạnh lễ bái lục phương theo truyền thống của cha. Khi gặp Đức Phật, gia chủ tử này đã yêu cầu Đức Phật giảng cho nghe hình thức lễ bái lục phương theo pháp bậc thánh.

Trước hết, Đức Phật giảng về sáu cửa suy vong mà người cư sĩ phải tránh.


II. Nội dung chính

Hỏi: Những điểm quan trọng gì được nói đến trong bài học nầy
?

Ðáp:
1- Say sưa rượu chè (Surāmerayamajjapamā dat.t.hānānuyogo), người sống say sưa có sáu điều nguy là tài sản bị tiêu hao, gây ra sự tranh cãi, phát sanh nhiều bệnh tật, tự đánh mất danh dự, thân lõa lồ trâng tráo, làm suy giảm trí tuệ.

2- Rong chơi đường phố phi thời (Vikālavisikhā cariyānuyogo), người đi chơi đêm có sáu điều nguy là không giữ được mình, không giữ được vợ con, không giữ được tài sản, dễ bị tình nghi, thành nạn nhân tin đồn, chuốc lấy ưu phiền.

3- Lân la chỗ hí trường (Samajjhābhicaran.am.), người thường lui tới chỗ vui chơi có năm điều nguy là công việc bị đình trệ, thối thất sự siêng năng, lãng phí nhiều thời gian, làm tốn hao tiền bạc, bận tâm tìm nhạc hội.

4- Đam mê cờ bạc (Jūtappamādat.t.hānānuyogo), người cờ bạc có sáu điều nguy là thắng sinh ra thù oán, thua lỗ bị khổ đau, tài sản bị tổn thất, lời nói không hiệu lực, bạn bằng hữu khinh rẻ, không ai dám cưới gả.

5- Giao du ác hữu (Pāpamittānuyogo), người chơi với bạn xấu có sáu điều nguy là ảnh hưởng thói cờ bạc, ảnh hưởng thói đàng điếm, ảnh hưởng thói rượu chè, ảnh hưởng thói gian xảo, ảnh hưởng thói lường gạt, ảnh hưởng thói côn đồ.

6- Sống biếng nhác (Ālassānuyogo), người có tật lười biếng sẽ thối thác, không làm việc, viện lý do lạnh quá, nóng quá, sớm quá, trễ quá, đói quá, no quá. Do vậy, người ấy không thu hoạch được tài sản chưa có, sẽ cạn kiệt tài sản đã có. -- D. III.182.184.

III. Người Xưa Chốn Cũ

Hỏi:
Rājagaha là xứ nào ? Singala là ai ?

Đáp:
Rājagaha (Vương Xá) là kinh đô của xứ Magadha (Ma kiệt đà) là trung văn hóa quan trọng bậc nhất vùng Trung Ấn thời Đức Phật. Ngôi chùa đầu tiên của Phật giáo tức Trúc Lâm Tịnh Xá (Veluvana) do vua Bimbisara (Bình Sa Vương) dâng cúng đến Đức Phật. Núi Linh Thứu (Gijjagutta) cũng trong chu vi Vương Xá thành. Cũng chính tại kinh đô nầy cuộc kết tập Tam Tạng đầu tiên được tổ chức.

Singala (Thi Ca La) là một thanh niên bà la môn trẻ tại Vương Xá. Người cư sĩ nầy được biết nhiều qua nghi thức lễ bái sáu phương mà chính do đó được Đức Phật dạy cách lễ bái sáu phương theo tinh thần của thánh nhân.

IV: Chữ và Nghĩa

Hỏi: Tại sao gọi người cư sĩ là cận sự nam và cận sự nữ ?

Ðáp:
Cận sự nam dịch từ Upāsaka (Ưu bà tắc), cận sự nữ dịch từ chữ Upāsika (Ưu bà di) nghĩa là người thâm tín, thân cận Tam Bảo. Nói chung là nam nữ Phật tử cư sĩ thuần thành. Đây là những người thành tựu được 4 pháp tín, giới, thí, văn ( thâm tín Tam Bảo, có căn bản giới nhất là ngũ giới, biết bố thí cúng dường và có học hiểu Phật Pháp)

V. Học và hỏi

Hỏi: Đam mê cờ bạc có phạm giới không ?

Ðáp:
Chơi cờ bạc không phạm ngũ giới nhưng có thể dẫn vào con đường suy xụp đọa lạc rồi hỏng đi giới hạnh. Hầu hết những gì gọi là giới đều mang tính cách qui định căn bản. Những thiện pháp khác cần được học hiểu và hành trì bằng ý thức trong sáng, hiền thiện của mỗi cá nhân. Một người cố tình nhắm vào kẻ hở của giới luật thì không có giới luật nào ngăn nổi ác hạnh. Ngược lại một người hoan hỷ và thấm nhuần Phật Pháp thì một ý thức đơn giản cũng thay đổi được cái nhìn và cuộc sống.

VI. Đố Vui

1. Hãy đoán thử tỷ lệ nào về nguyên nhân chết người dưới đây cao nhất ?

a. Thiên tai.
b. Chiến tranh.
c. Uống rượu.
d. Tai nạn ở chổ làm.

2. Sống cẩn thận có làm đời sống an toàn, hạnh phúc hơn không ?

a. Không, chết sống do số mạng từ quá khứ.
b. Có, người cẩn thận tránh được những tai nạn.
c. Người cẩn thận có an toàn hơn nhưng không thoải mái.
d. Người sống khinh suất là mời mọc tai họa và ân hận.

3. Những điều Ðức Phật giáng cho Singala trong bài học hôm nay vẫn có giá trị đến ngày nay. Giá trị không thay đổi do bởi vì:

a. Ấn Ðộ và Hoa kỳ có hình thái xã hội giống nhau.
b. Ðời sống ngày xưa và hôm nay giống nhau.
c. Giá trị của Pháp "Không phóng túng" thời nào cũng giống nhau.
d. Ba câu trên đều sai.

Thứ Sáu, 25 tháng 8, 2006

No. 1093 NEW (Minh Châu dịch)

Một tu sĩ Phật giáo giúp dạy công nghệ thông tin (IT)

cho thanh thiếu niên nông thôn

Asian Tribune, Aug 23, 2006

Colombo, Sri Lanka -- Vị tu sĩ Phât Giáo, là giảng sư của trường đại học Sri Lanka Vidyalaya, Colombo, hiện đang giúp đỡ thanh thiếu niên nông thôn trở thành chuyên viên ngành công nghệ thông tin, và đang kêu gọi sự hỗ trợ tài chánh để cải tiến trung tâm huân nghệ.

Trung tâm IT được Rev. Dehigahahene Jinaloka thành lập, nhằm giúp các trẻ em (thanh thieu nien) thanh thiếu niên tìm được việc làm thích hợp, với sự giúp đỡ của các vị hảo tâm tại Colombo. Sư nói “Chúng tôi không có điện thoại, Internet hay bất cứ một phương tiện mới nào cả”.

Rev. Dehigahahene là một tu sĩ thường trú tại Sudarmananda Viharaya, Sư Dehigahahena nói rằng Sư đã thành lập một trung tâm huấn nghệ về vi tính để giúp đỡ các thanh thiếu niên bị thất nghiệp tại Dehigahahena - một làng quê nhỏ nằm dọc theo biên giới Matara-Hambantota.

Sư nói “Chúng tôi đã nhận được một số máy vi tính cũ và vài thiết bị hỗ trợ khác từ các thương gia trong vùng. Hiện chúng tôi đang đào tạo 60 em tại trung tâm”. Sư dùng luôn cả số lương hàng tháng của mình để huấn luyện các em bị thất nghiệp bằng những kỹ thuật mới.

Sư nói rằng Dehigahahena thiếu một trường học, một bưu điện hay bất cứ một cơ quan đại diện chính phủ nào ngoại trừ Grama Niladhari. Ngôi làng này đang cần hệ thống đường xá.

Xác suất thất nghiệp vẫn còn cao ở làng này, nhưng Sư muốn đưa những em đã được đào tạo từ trung tâm huấn nghệ đến các công ty đa quốc gia.

Những đề án đang được tiến hành để hiện đại hóa trung tâm huấn nghệ này và cải thiện ngôi chùa với cùng những những bộ phận khác. Hiện tại Sư đã dự trù xây dựng một Dagoba với tốn kém khoảng một triệu rưỡi rupee.

Sư nói “ Tôi có chương trình giúp các em này tìm được công việc thích hợp với sự giúp đỡ của các nhà hảo tâm tại Colombo. Chúng tôi không có điện thoại, Internet hay bất cứ một thiết bị tân trang nào khác”.

Sư nói thêm “Chúng tôi có vài sự trợ giúp từ những cư dân trong vùng, họ làm việc trong các đồn điền. Trà là nguồn thu hoạch chính của họ”.

Sư nói rằng cộng đồng địa phương và quốc tế có thể trợ giúp dự án của Sư bằng cách hỗ trợ về kỹ thuật, kiến thức và tài chánh.

------------------------------------------------------------------------------------------


No. 1094 NEW (Hạt Cát dịch)

Tranh luận sôi nổi nóng hổi trên Internet qua việc trụ trì

chùa Thiếu Lâm được tặng xe hơi thể thao đắt tiền

Trịnh Châu - Trung Hoa -- Món quà, một chiếc xe thể thao đắt giá do chính quyền thành phố Ðăng Phong trao tặng cho vị trụ trì chùa Thiếu Lâm để tưởng thưởng sự đóng góp cho ngành du lịch địa phương của ông đã gây ra một cuộc tranh luận nóng hổi trên Internet.

Thích Vĩnh Tân, Vị trụ trì chùa Thiếu Lâm ở thành phố Ðăng Phong thuộc trung bộ tỉnh Hà Nam, đã tiếp nhận một chiếc xe thể thao đắt giá trị giá một triệu yuan, tương đương với $ 125,000 US tám hôm trước tại một phiên họp đẩy mạnh ngành du lịch thành phố.

Ông nói “Tôi sẽ cố gắng tối đa truyền bá võ học đến với thế giới trong nỗ lực đẩy mạnh ngành du lịch địa phương. Tôi muốn kiếm một giải thưởng lớn hơn vào năm tới”,

Tiếp theo sau buổi lễ trao tặng giải thưởng, hàng chục ngàn công dân mạng lưới toàn cầu đã đưa ý kiến tranh luận lên các diễn đàn của các web site do các nhà cung cấp cổng mạng thực hiện.

Kết quả của các cuộc thăm dò cho thấy khoảng ba phần tư những người tham gia tranh luận nhìn nhận rằng trao tặng một chiếc xe thể thao đắt giá cho một tu sĩ là điều không thích hợp.

“ Tu sĩ chùa Thiếu Lâm nổi tiếng với sự khổ hạnh, tấm gương của tôn giáo cổ xưa và võ thuật, nhưng gần đây, hàng hóa xa xỉ đã chen vào đời sống của họ, cho thấy rằng đời sống tu hành đã bị vi phạm bởi ý niệm thế gian”, một netter đã viết nnhư trên.

Họ kêu gọi rằng nên cổ vũ tinh thần cho những người liên hệ đến tôn giáo hơn là tưởng thưởng vật chất.

Một vài nhà phê bình chỉ trích các nhà Sư, nói rằng chư tăng không nên thụ hưởng hàng hóa xa xỉ trong chùa “ Họ đã quên mục đích của họ là vì và họ nên tập trung vào những gì họ không nên làm. Trách nhiệm của ông là đẩy mạn tinh thần võ thuật, mặc dù ông đóng góp rất nhiều cho ngành du lịch, ông cũng không nên nhận một chiếc xe “ một netter khác nói như trên và thêm rằng “Xài một triệu đồng yuan cho một chiếc xe trong một tỉnh chưa phát triển là điều không đúng”.

Một trong những lãnh vực bi thảm trong đời sống của cư dân tỉnh Hà nam là sự hiện hữu của một “ngôi làng bệnh AIDS”, nơi trú ẩn của những người mắ phải bệnh AIDS từ kim tiêm bị bẩn khi họ bán máu cho những ngân hàng máu bất hợp pháp .

Những người ủng hộ sự kiện này thì cho rằng giải thưởng phù hợp vì lái xe và cầu nguyện không có gì trái ngược trong đời sống một tu sĩ.

“Chùa Thiếu Lâm đã thu được một lợi nhuận lớn lao trong mấy năm qua nhờ tiếng tăm của nó ngày càng tăng gia khắp thế giới. Ðó là điều thích đáng để trao tặng một chiếc xe như thế cho trụ trì”, một netter khác viết như trên.

“Trao tặng giải thưởng cho một người đã đóng góp cho du lịch địa phương là hợp lý”, một poster khác viết và thêm rằng “những ai chống đối việc này có lẽ chưa bao giờ có được một thành tựu nào.

Một netter khác nói : “không có một điều luật nào quy định rằng tu sĩ không thể lái xe” và còn thêm “ngôi chùa đã làm rất nhiều cho ngành du lịch địa phương nhờ danh tiếng của nó”.


Nhật Hành

Ngày: 25 tháng 08 năm 2006

Tri chúng: Bích Thu

Tri chúng điền khuyết: Tinh Tan

Môn học: Lớp A Tỳ Đàm

Bài học: Tam Ðề Quá Khứ“ Tam đề đạo cảnh ”

Giảng Sư Chính: TT Tuệ Siêu

Giảng Sư Điền khuyết: TT Giác Đẳng

Vị Tăng hoặc Ni nói lời cầu nguyện đầu lớp học: ĐĐ Minh Hạnh

Xướng ngôn viên: Bich Thu, Tinh Tan, Hat Cat, Chanh Hanh, Nguon Đuc Hanh, Sangkhaly, Upekha, Karuna, Anitya, Nhu Phuc, Minh Chau54. http://baidocmc.blogspot.com & http://bandieuhanh.blogspot.com

Người mở room: TC, Hat Cat, Tinh Tan.

Người mở nhạc và kinh tụng: Hat Cat, Tinh Tan.

Người hoán chuyển bài cho Room: Nhu Phuc – Hat Cat (đk)

Người post bài cho Room: Nhu Phuc, NguonĐucHanh, Tinh Tan, Bich Thu

Người post và gửi bài riêng cho chư Tăng: Hat Cat, NguonDucHanh, Nhu Phuc.

Trực room (op): Anitya, Upekha, Karuna.

Thông báo (nếu có):
Lớp A Tỳ Đàm

Tam Đề Cảnh Quá Khứ

____________

Giảng sư: TT Tuệ Siêu


I. Đại lược

Hỏi: Xin cho biết đại lược về bài học.

Ðáp:
Tam đề cảnh quá khứ: Pháp biết cảnh quá khứ (atītarammanā dhammā), pháp biết cảnh vị lai (anagatārammanā dhammā), Pháp biết cảnh hiện tại, (paccuppannārammanā dhammā)

Tên đầu đề lấy pháp đầu trong ba pháp (chiết bán), không bao gồm hết pháp chân đế (hữu dư). Tâm được định nghĩa là biết cảnh. Cảnh có thể là đã qua, đang hiện hữu hoặc chưa đến. Tất những gì đã qua đều nằm trong "cảnh quá khứ". Tương lai được xem là bất định. Đối với sự biết cảnh quá, hiện, vị lai thì tâm diệu trí hay tâm thông đều được nhắc đến vì khả năng phi thường nầy có thể nhận biết những khả năng giới hạn của người thường. Qua sư xác định về những tâm biết cảnh quá khứ, vị lai và hiện tại, A Tỳ Đàm đã nêu rõ tính chi phối của thời gian qua dòng tâm thức mà cũng cho thấy sự khác biệt giữa cách hiểu "giác quan thứ sáu" và ý thức trong Đạo Phật.


II. Nội dung chính

Hỏi: Những điểm quan trọng gì được nói đến trong bài học nầy
?

Ðáp:
Có ba điểm quan trọng được đề cập:

a. Một số tâm nhất định biết cảnh quá khứ là tâm thức vô biên và phi tưởng phi phi tưởng'. Một số tâm nhất định biết cảnh hiện tại là ngũ song thức.

Tâm thức vô biên là tâm hồi quán và phủ nhận "hư không vô biên". Trường hợp của tâm phi tưởng phi phi tuởng đối với "vô sở hữu" cũng vậy. Tại sao nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức phải biết cãnh hiện tại vì là điều bắt buộc khi các mắt, tai, mũi, lưỡi, thân tiếp xúc với năm cảnh. Không có một tâm nào "chỉ chuyên biết" cảnh vị lai.

b. Tất cả đối tượng của ngũ quan đều thuộc hiện tại, trái lại tất cả thuộc quá khứ đều thuộc cảnh pháp.

Khi nhìn ngắm một bức tranh, màu sắc và đường nét thuộc về cảnh sắc - cảnh hiện tại. Nhưng nếu nhớ nghĩ lại bức tranh đã ngắm hôm qua thì hình ảnh đó không còn là cảnh sắc mà là cảnh pháp. Nói cách khác thì cái gì mắt thấy, tai nghe, mũi ngửi, ưỡi nếm, thân cảm xúc luôn luôn là cảnh hiện tại. Nhưng khi thuộc quá khức chúng trở thành cảnh pháp vì là đối tượng của ý thức chứ không là cảnh trực tiếp của ngũ song thức.

c. Hầu hết những điều gọi là "định mệnh" được xem là "bất định" theo A Tỳ Đàm.

Có những trọng nghiệp như ngũ nghịch đại tội, hay một vị đại bồ tát được Phật thọ ký, tuổi thọ của trái đất ... còn lại thì những gì ở tương lai không hẳn đều "đã được quyết định". Rất có thể những xẩy ra trong tương lai cũng là yếu tố quyết định tương lai. Chính vị vậy người tu Phật tin vào nhân của quá khứ nhưng cũng tin vào hạnh nghiệp đang tạo tác trong hiện tại. Phật pháp không nói về "định mệnh" và các đấng tiên tri (prophet).

III. Đề Pháp và Chi Pháp

Hỏi:
Những pháp nào được liệt kê trong ba pháp của thể tài nầy ?

Đáp:
Tất cả Pháp biết cảnh Quá khứ là:

a) Tâm: 3 Tâm Thức vô biên, 3 Tâm Phi tưởng phi phi tưởng (chỉ biết cảnh Quá Khứ) và 41 Tâm Dục giới (trừ 3 ý giới và Ngũ song thức) cũng biết cảnh Quá khứ và 2 Tâm Diệu Trí. (đã diệt).

b) Sở hữu tâm: 50 Sở hữu cùng hợp với các Tâm biết cảnh Quá khứ (trừ 2 Vô lượng phần).

Tất cả Pháp biết cảnh Vị Lai là:

a) Tâm: 2 Tâm Diệu trí và 41 Tâm Dục giới (trừ Ngũ song thức và 3 ý giới).

b) Sở hữu Tâm: 50 Sở hữu (trừ Vô lượng phần).

Tất cả Pháp biết Cảnh Hiện Tại là:

a) Tâm: Ngũ song thức và 3 ý giới biết cảnh Hiện tại, còn 2 Tâm Diệu trí và 41 Tâm Dục giới còn lại cũng biết cảnh Hiện tại nhưng bất định.

b) Sở hữu tâm: 50 sở hữu (trừ vô lượng phần).

IV: Chữ và Nghĩa

Hỏi: Danh từ vị lai, tương lai và đương lai khác nhau thế nào ?

Ðáp:
Vị lai là những gì chưa tới không nhất thiết sẽ tới.

Tương lai là điều sẽ tới dù chúng ta có biết hay không biết.

Đương lai là điều đang tới nhưng chưa tới.

V. Học và hỏi

Hỏi: Túc mạng thông là diệu trí biết được quá khứ vậy diệu trí nào biết được tương lai ?

Ðáp:
Chính là thiên nhãn thông hay sanh tử thông biết được những gì sẽ xẩy ra. Quá khứ, vị lai đều có những dấu ấn hay tín hiệu cho thấy những gì đã hoặc sẽ xẩy ra. Thông thường thì những điều nầy cực kỳ vi tế như một nhà khảo cổ nhìn một cổ vật có thể lượng định chính xác thời kỳ nào vật đó được làm nên. Hoặc một bác sĩ giỏi có khả năng định bệnh nhờ nhìn vào triệu chứng. Thiên nhãn thông là khả năng thấy biết một cách tinh tế nhân quả. Trong vài trường hợp, tha tâm thông cũng giúp biết được tương lai ngắn.

VI. Đố Vui

1. Có nên biết những điều xẩy ra trong tương lai không ?

a. Không nên. Hiện tại đã là một gánh nặng.
b. Rất nên. Biết để có những chuẩn bị cần thiết.
c. Không nên. Tất cả thầy bói đều nói dối ăn tiền.
d. Có những điều nên biết và có thể biết. Trái lại có những điều không nên biết và không thể biết.

2. Tâm là biết cảnh. Có cái biết nào không thuộc về tâm ?

a. Hoàn toàn không.
b. Chắc hẳn là có. Thí dụ cái biết của máy vi tính.
c. Cả hai câu trên đều đúng.
d. Cả hai câu trên đều sai.

3. Ai dưới đây là người biết về vị lai ?

a. Một thầy xem tử vi biết năm tới là xấu vì có sao xấu.
b. Một người dựa trên dữ kiện thời tiết tiên đoán ngày mai trời mưa.
c. Một người biết là sẽ mất ngủ vì uống cà phê buổi chiều.
d. Một người nghĩ rằng sống trong khu vực có người da đen là sẽ bị trộm cướp.

Thứ Năm, 24 tháng 8, 2006


Nhật Hành

Ngày: 24 tháng 08 năm 2006

Tri chúng: Chánh Hạnh

Tri chúng điền khuyết: Nhu Khanh

Môn học: TRUNG BỘ KINH

Bài học: BÀI KINH SỐ 75 - Magandiya

Giảng Sư Chính: TT Giác Đẳng

Giảng Sư Điền khuyết: TT Tuệ Siêu

Vị Tăng hoặc Ni nói lời cầu nguyện đầu lớp học: ĐĐ Minh Hạnh

Xướng ngôn viên: TC đk, Sangkhaly, Nguon Đuc Hanh, Hat Cat, Nhu Phuc, Upekha, Karuna, Anitya, Tinh Tan, Bich Thu, Minh Chau54 (Tinh Tan xin miễn đọc tin tức trừ khi bài của TT, vì phải thâu TBK)
http://baidocmc.blogspot.com &
http://bandieuhanh.blogspot.com

Người mở room: Hat Cat, Tinh Tan

Người mở nhạc và kinh tụng: Hat Cat, Tinh Tan, Anitya (đk)

Người hoán chuyển bài cho Room: Nhu Phuc - Hạt Cát (đk)

Người post bài cho Room: NguonDucHanh, Chanh Hanh, Nhu Phuc.

Người post và gửi bài riêng cho chư Tăng: Hat Cat, Nguon Đuc Hanh, Nhu Phuc.

Trực room (op): TC đk, Nhu Phuc, Tinh Tan, NguonDucHanh, Upekha, Karuna.

Thông báo (nếu có):
TRUNG BỘ KINH - BÀI KINH SỐ 75

Kinh Magandiya

____________

Giảng sư: TT Giác Đẳng


I. Đại lược

Hỏi: Xin cho biết đại lược về bài kinh này.

Ðáp:
Đây là bài kinh số 75 của Trung Bộ Kinh, Kinh Tạng Pālī. Gọi tên kinh là Magandiya vì Đức Phật thuyết pháp cho một du sĩ có tên là Magandiya.

Du sĩ Magandiya là người theo chủ nghĩa hưởng dục. Vị nầy tuyên bố Đức Phật là người phá hoại sự sống vì Ngài sống và dạy từ bỏ dục lạc. Trong cuộc đối thoại với du sĩ nầy Đức Phật đã đưa ra lời dạy rằng: Ngài dạy sự khoái lạc của năm dục là tầm thường vì Ngài biết và chứng những an lạc vi diệu hơn. Hơn thế nữa, không có bất cứ ai trong đời nầy sống trong dục lạc, dù là một vị vua, mà không có khát ái. Du sĩ Magandiya tỉnh ngộ xin xuất gia và trở thành một bậc thánh vô lậu giải thoát.


II. Nội dung chính

Hỏi: Những điểm quan trọng gì được Đức Phật giảng qua bài kinh nầy
?

Ðáp:
Có ba điểm quan trọng được đề cập:

a. Sự từ bỏ dục lạc mà Đức Phật dạy dựa trên sự ý thức hay kinh nghiệm bản thân chứ không phải là một thứ tín lý đạo đức hay giáo điều. "Rồi Ta sau một thời gian, sau khi như chơn biết được sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của các dục vọng, sau khi đoạn tận dục ái, sau khi trừ diệt nhiệt não của các dục, Ta trú với khát ái được đoạn trừ, với nội tâm an tịnh. Rồi Ta thấy các chúng sanh khác, chưa xả ly tham ái đối với các dục đang bị các dục ái nhai nghiến, đang bị dục nhiệt não thiêu đốt, đang chạy theo các dục. Ta không ước vọng được như họ; ở đây, Ta không ham thích. Vì sao vậy ? Vì rằng, này Magandiya, có hỷ lạc này, ly dục, ly bất thiện pháp, sau khi chứng đạt Thiên lạc, được an trú, hoan hỷ trong hỷ lạc ấy. Ta không ao ước cái gì thấp kém; ở đây, Ta không ham thích."

b. Tất cả sự hưởng thụ dục lạc cho dù đến bao nhiêu cũng không loại khỏi được thèm khát. Đó là khuyết điểm lớn nhất của năm dục lạc. "Ta không thấy, cũng không nghe một vị vua hay vị đại thần của vua hưởng thụ một cách đầy đủ, một cách sung mãn năm dục trưởng dưỡng, dục ái chưa được đoạn tận, dục nhiệt não chưa được trừ diệt, đã trú, đang trú hay sẽ trú với khát ái được đoạn trừ, với nội tâm an tịnh."

c. Chúng sanh chạy theo dục lạc vì nghĩ rằng mình biết cái mình muốn thật ra thì rất nông cạn trong sự hiểu biết về dục lạc. -- " Này Magandiya, ví như người sanh ra đã mù, không thấy sắc đen hay sắc trắng, không thấy sắc xanh, không thấy sắc vàng, không thấy sắc đỏ, không thấy sắc đỏ tía, không thấy cái gì thăng bằng, không thăng bằng, không thấy các vì sao, không thấy mặt trăng, mặt trời. Người ấy nghe một người có mắt nói như sau: "Thật tốt đẹp thay tấm vải trắng, xinh đẹp, không cấu uế, thanh tịnh". Và người ấy tìm tấm vải trắng. Rồi có một người khác đánh lừa người ấy với một tấm y thô, dính dầu, đất và nói: "Này bạn, đây là tấm vải trắng, xinh đẹp, không cấu uế, thanh tịnh cho bạn". Người ấy lấy tấm y ấy, sau khi lấy, đắp trên mình. Sau khi đắp trên mình, người ấy hoan hỷ thốt lên lời nói tự mãn: "Thật tốt đẹp thay tấm vải trắng xinh đẹp, không cấu uế, thanh tịnh". Này Magandiya, Ông nghĩ thế nào ? Kẻ sanh ra đã mù kia, do biết, do thấy, lấy tấm y thô, dính dầu và đất ấy để rồi sau khi lấy người ấy đắp trên mình, sau khi đắp trên mình; người ấy hoan hỷ thốt lên lời nói tự mãn: "Thật tốt đẹp thay, tấm vải trắng xinh đẹp, không cấu uế, thanh tịnh, hay là do lòng tin người có mắt ? "


III. Người Xưa Chốn Cũ

Hỏi:
Kuru là nơi nào ? Magandiya là ai ?

Đáp:
Kuru là một lãnh địa của người Kuru nằm gần thủ đô New Delhi ngày nay. Thời Phật tại thế tiểu quốc nầy có rất ít ảnh hưởng chính trị nhưng được ghi nhận trong kinh là có rất nhiều người có duyên lành tu tập thiền quán tứ niệm xứ.

Magandiya - tên một du sĩ ngoại đạo ở Kuru. Vị nầy là cháu của Bà la môn Magandiya.


IV: Chữ và Nghĩa

Hỏi: Từ dục trưởng dưỡng và danh từ khát ái nghĩa là gì ?

Ðáp:
Dục trưởng dưỡng dịch từ Phạm ngữ kāmaguna nghĩa là nuôi dưỡng và làm lớn mạnh dục vọng. Dục trưởng dưỡng chỉ cho sắc, thinh, khí, vị, xúc.

Khát ái dịch từ Phạm ngữ pipāsā lòng khao khát đối với các dục vốn không thể thỏa mãn được thí dụ như người cùi hong mình gần lửa than tuy có thích thú nhưng không bao giờ thỏa mãn.


V. Học và hỏi

Hỏi: Trong bài kinh nầy nói về lòng dục của những người không hiểu biết về sự hạ liệt nguy hiểm của các dục. Thế thì đối với người có hiểu biết nhưng vẫn còn dục vọng thì sao ?

Ðáp:
Phiền não sanh do ngoại cảnh, do vô minh mà cũng do tập khí. Một người có hiểu biết xác thực giúp rất nhiều trong sự chuyển hóa nội tâm. Thế nhưng thường khi tri kiến không đủ sức đánh bật tất cả phiền não. Định lực cần có để đưa tâm vào cảnh giới khác hơn là sự nô lệ đối với thói quen.

VI. Đố Vui

1. Khi bạn cả quyết: cái nầy là "thiên hạ đệ nhất". Thì câu nào dưới đây là điều chắn chắn nhất:

a. Chắc chắn là không có gì trên đời hơn được thứ đó.
b. Chắc chắn là bạn không biết được thứ tốt hơn.
c. Chắc chắn bạn là người hạnh phúc nhất.
d. Chắc chắn bạn là người giỏi nhất.

2. Hai người cùng tìm thấy hạnh phúc trong đau khổ. Một người bị ngứa, càng gãi càng sung sướng. Một người lấy sự đau khổ làm đối tượng quán niệm thành tựu tuệ giác. Điều nào khiến hai người khác nhau ?

a. Một người vui nhất thời khổ về sau.
b. Một người có tôn giáo còn người kia thì vô thần.
c. Một vượt lên trên đau khổ còn người kia lún càng lúc càng sâu.
d. Câu a va c đúng.

3. Bài học nào được tìm thấy trong bài kinh nầy có khả năng giúp chúng ta thay đổi những đam mê tai hại trong cuộc sống:

a. Thân cận bậc thiện trí.
b. Tìm ra cái cao đẹp hơn để hướng tới.
c. Thấy được cái nguy hiểm trong chính những gì mình đang sống với.
d. Cả ba điều trên
.