Thứ Tư, 24 tháng 5, 2006


Nhật Hành

Ngày: 24 tháng 05 năm 2006

Tri chúng: Hạt Cát

Tri chúng điền khuyết: Bich Thu

Môn học: Phật Giáo Sử

Bài học: Ấn Độ và Phật giáo (tt)


Giảng Sư Chính: TT Tuệ Siêu

Giảng Sư Điền khuyết: TT Giác Đẳng

Vị Tăng hoặc Ni nói lời cầu nguyện đầu lớp học: ĐĐ Minh Hạnh

Xướng ngôn viên: TC đk, Nhu Khanh, Tinh Tan, Chanh Hanh (ĐK: Nhi Đo Mai, Mindvox, Sangkhaly (roi room dung gio), Nguon Đuc Hanh, Anitya)
http://baidocmc.blogspot.com/ & http://bandieuhanh.blogspot.com/

Người mở room: Mindvox, Hat Cat, Nhi Do Mai

Người mở nhạc và kinh tụng: Mindvox, Hat Cat (đk)

Người hoán chuyển bài cho Room: Nhu Phuc - Hat Cat (đk) Mindvox

Người post bài cho Room: Mindvox - NguonĐucHanh - TinhTan - NhiDoMai.

Người post và gửi bài riêng cho chư Tăng: Hat Cat, NguonĐucHanh, Nhu Phuc

Trực room (op): TC đk & Tinh Tan, NguonDucHanh, NhiDoMai.

Thông báo (nếu có): Xin các Ops nào có Googletalk hoan hỷ nhớ online để truyền thanh cho Chư Tăng khi Net yếu.
Lớp Phật Giáo Sử

"2500 YEARS OF BUDDHISM" - 2500 LỊCH SỬ PHẬT GIÁO

---o0o---


Chương I: India And Buddhism - Ấn Độ và Phật Giáo

Tác giả P. V. Bapat
Việt dịch Hữu Song Nguyễn Đức Tư

______________

Giảng sư: TT Giác Đẳng

I. Toát yếu: Những điểm chính

a) Phật giáo khởi nguồn từ Ấn Độ

b) Phật giáo là tôn giáo của sự từ bi.

c) Con đường trung đạo.

II. Nội dung chính

I - 1: Nhiều người ở các nước khác thường ngạc nhiên là Ấn Độ vốn là nơi sinh ra đạo Phật, song đạo Phật lại nhường chỗ cho Ấn Độ giáo - hiện đang là tôn giáo thịnh hành, ngoại trừ một số vùng như Bengal, Assam, Orissa. Điều này thật kỳ lạ vì đạo Phật với sức mạnh nhân văn to lớn của nó đã có ảnh hưởng sâu xa trên các ý tưởng tôn giáo và luân lý của thời đại lúc bấy giờ, có tác động như một chất xúc tác mạnh từng làm thay đổi cả hiện trạng xã hội thời ấy.

I - 2: Phật giáo là tôn giáo của sự từ bi, nhân đạo và bình đẳng. Trong khi kinh Vệ đà cho phép giết súc vật để dâng cúng thần linh thì đạo Phật kịch liệt bài bác những kiểu tế lễ như thế. Không những vậy, Phật giáo còn tiến hành nhiều cuộc vận động chống đối không khoan nhượng đối với phong tục này. Do tính chất phức tạp của việc tế lễ nên phải nhờ đến bàn tay của các Bà la môn (Brahmin) vốn thành thạo trong lĩnh vực này. Vì vậy mà các Bà la môn dần dần nắm giữ một địa vị đặc biệt trong cơ cấu xã hội của người Ấn Độ - Arya. Ngay đến các Sát-đế-lợi (Kshatriya) và Phệ-đà (Vaishya), là những thành phần đặc biệt (dvijas) được hưởng quyền ưu đãi các Bà la môn cũng không có được vai trò đáng kể trong việc cử hành buổi lễ. Đối với các tiện dân (Shudra) thì họ chỉ được giao các việc hèn mọn như chẻ củi, cắt cỏ cho súc vật tế lễ, và lôi đến nơi tế lễ những con vật câm lặng như trâu, bò, cừu đầm đìa nước mắt, theo sự mô tả trong các kinh sách Phật giáo như kinh Cứu la đàn đầu (Kutadanta-sutta) thuộc Trường Bộ kinh (Digha-nikaya).

I - 3: Các sa môn (sramanah) sống ẩn dật trong rừng miệt mài nghiên cứu triết học không tán thành những chuyện cúng tế phải giết hại súc vật. Do đó trong dân chúng đã hình thành những công luận chống lại sự tế lễ như thế. Chúng ta có thể tìm thấy những dấu hiệu rõ rệt về những diễn biến này trong ý kiến quần chúng qua các kinh sách Mahabharata và Bhagavata Purana. Kinh sách Shantiparva (1) đề cập dến hai mặt của sự mâu thuẫn, trong đó các tu sĩ khổ hạnh thì bênh vực cho việc dâng cúng các phẩm vật bằng bắp hay hạt, còn các vị thần thì thích các vật cúng bằng súc vật sống. Ở chương 254 của sách này có cuộc đối thoại giữa Tuladhara và Jajali, trong đó lên án việc tế lễ bằng súc vật sống, và việc ăn thịt trong các buổi lễ như thế bị quy kết là sự lợi dụng gian ý. Ở một chỗ khác trong kinh sách trên (257.6) thì việc không sát sinh (ahimsa) được xem là nguyên tắc tối cao. Kinh Bhagavata Purana (1, 8, 52) nói rằng không thể tha thứ cho việc giết hại súc vật với lý do là một phần của tế lễ. Thực vậy, những người Bà la môn về sau đã phải thay đổi lập trường và dùng những tượng làm bằng bột bắp (pista-pasu) để thay cho những con vật sống.

I - 4: Ở đây, chúng ta có thể thắc mắc rằng tại sao Đức Phật có thể thuyết giảng nguyên lý không sát sinh và lòng từ bi đối với các vật sống khi mà chính Ngài có thể đã ăn thịt và cho phép đệ tử của Ngài làm như thế. Giải thích điều này thật đơn giản, vì ở trong một xã hội mà thịt được sử dụng phổ biến làm thức ăn thường ngày, và Đức Phật cùng các đệ tử của Ngài đều phải sống bằng các thực phẩm khất thực, nếu từ khước ăn thịt thì họ có thể sẽ bị chết đói. Là một con người thực tế, Đức Phật biết tránh những điều cực đoan. Ở đây Ngài đã phải đi theo Trung Đạo (Middle Path) và chỉ đưa ra một hạn chế là nếu một tu sĩ nào nhìn thấy hoặc nghe, thậm chí nghi ngờ rằng một con vật bị giết chỉ để lấy thịt cho mình thì tu sĩ này không được nhận thứ thịt đó.

Bản Anh Ngữ.

I - 1:
People from other countries are often intrigued by the phenomenon that, originating in India, Buddhism should, except for a few remnants in Bengal, Assam or Orissa, have given place to Hinduism, which is now the dominant religion of the country. This is particularly strange in view of the fact that Buddhism, as a humanist force, profoundly affected religious and moral ideas in its time, and acted as a powerful catalytic factor in transforming existing social conditions.

I - 2: Buddhism is a religion of kindness, humanity and equality. While the religion of the Vedas allowed animal sacrifice to propitiate the gods, Buddhism set its face against such sacrifices; on the contrary, it waged a merciless campaign against this practice. The complicated nature of the sacrificial ritual required the services of Brahmins, who had specialized in that lore. The Brahmin therefore came to hold a unique position in the social structure of the Indo-Aryans. Even the Kshatriya and the Vaishya, who as dvijas (twice born) enjoyed certain privileges in common with the Brahmin, could not take as prominent a part as the Brahmin in the performance of the sacrifice. The Shudra on the other hand was assigned menial tasks such as chopping wood and cutting grass for the sacrifices, and dragging to the sacrificial ground dumb animals like cows, bullocks and rams, with tears trickling down their faces as described in the Buddhist texts such as the Kutadanta-sutta of the Digha-nikaya.

I - 3: The sramanahs who lived a life retirement in the forests and gave themselves up to philosophical speculation did not sympathize with sacrifices involving the slaughter of animals. Public opinion was thus being gradually formed against such sacrifices and clear indications of his change in public opinion can be found in the Mahabharata and the Bhagavata Purana. Shantiparva 1 refers to two sides of the controversy, in which the hermits pleaded for sacrificial offerings of corn or grain, while the gods favoured offerings of living animals. In chapter 254 of he same parva, there is a dialogue between Tuladhara and Jajali where animal sacrifice is condemned and the practice of eating meat at such sacrifices is attributed to interested rogues. In another place in the same parva (257,6), it is claimed that ahimsa is the highest principle. The Bhagavata Purana (1,8,52), says that killing of animals is not to be condoned because it forms part of a sacrifice. Indeed, the Brahmins had subsequently to modify their position and substitute for live animals images made of corn flour (pista-pasu).

I - 4: In this connection, it may legitimately be asked how the Buddha preached the principle of ahimsa and kindness of living animals, if he himself could eat meat and allow his followers to do so. The explanation is simple. In a society where meat was commonly used in daily food, he refused to eat meat, they would probably have starved to death. As a practical man, the Buddha had to avoid extremes. Here also he followed the Middle Path. He only imposed the restriction that if any monk either saw or heard or even suspected that an animal had been killed specially for him, then he was not to accept the meat.

III. Câu đố

1. Ðiều nào dưới đây có ý nghĩa gần nhất với ý niệm "trung đạo" trong Phật Pháp:


a. Áp dụng cả hai thái cực
b. Đi giữa hai thái cực
c. Không rơi vào hai thái cực
d. Tùy lúc ứng dụng một trong hai thái cực.

2. Ðiều nào dưới đây là đặc điểm quan trọng nhất khi nói về sự tồn tại của Phật giáo:

a. Lấy lợi ích của chúng sanh làm trọng
b. Lấy sự xiển dương nền đạo làm mục đích tối hậu
c. Lấy sự giải thoát cá nhân làm mục đích duy nhất
d. Tạo thành một nhân gian tịnh độ là lý tưởng trọng đại nhất.

Thứ Ba, 23 tháng 5, 2006

No. 0952 NEW (Nhị Ðộ Mai lược dịch)

Bệnh Viện Từ Tế,

Ngân Hàng Tủy lớn nhất Á Châu

BY FOONG PEK YEE, The Star, May 21, 2006

Taipei, Taiwan -- Vào tháng 9 năm 1972, Bệnh viện Đa Khoa Phật Giáo Từ Tế đã bắt đầu thành lập bệnh viện miễn phí trong một căn phố thuê mướn trên con đường Yan Ai, Hualien, Đài Loan. Ngày nay, bệnh viện này có thể được coi là Ngân Hàng Tủy Sống thuộc tổ chức Phật Giáo Từ Tế Đài Loan lớn nhất Á Châu, với tiềm lực 250,000 người sẵn sàng hiến tặng, con số này cũng được sắp xếp đứng hàng ba trên thế giới.

Nhưng những gì làm cho câu chuyện càng khó tin hơn nữa là vị sáng lập bệnh viện, Sư Bà Chứng Nghiêm, 69 tuổi, người chưa từng rời khỏi bờ biển Ðài Loan vì lý do sức khỏe. “ Bà có chứng bệnh tim và không thế di chuyển bằng đường bay,”James Wu, viên chức trực thuộc văn phòng Giáo hội Phật Giáo Từ Tế Đài Loan nói như trên.

Là bệnh viện đầu tiên tại Đài Loan cho phép những trường hợp cấp cứu không đòi hỏi tài chánh, phục vụ cho người nghèo, Wu nói, bệnh viện đã bắt đầu với 100 giường bệnh và 4 bộ phận chuyên khoa trong năm 1986, và hiện nay nó đã được tăng thêm bao gồm 926 giường và 38 bộ phận chuyên khoa

Sư Bà Chứng Nghiêm giữ gìn dữ liệu liên quan đến sự điều hành của các bệnh viện xuyên qua các cuộc điện đàm hội nghị với nhiều bác sĩ và viên chức mỗi buổi sáng. Các cuộc điện đàm hội nghị cũng được hàng trăm thành viên Từ Tế từ nhiều cơ sở từ thiện trên thế giới tham dự.

Sư bà Chứng Nghiêm xuất hiện như một người rất hùng biện, dí dỏm, uyên bác và ân cần với tất cả mọi người giống như khi bà trả lời về thuốc men cho một cá nhân khác trong cuộc hội đàm qua đường dây điện thoại gần đây tại Hua lien

Bà rất quen thuộc với nhân viên bệnh viện và đã nở nụ cười rộng lượng khi một bác sĩ giới thiệu một mẫu tin vui buổi sáng hôm đó. “ Có một mối tình lãng mạn đã nẩy nở tại Từ Tế. Một cô y tá sẽ kết hôn với con trai của một bệnh nhân ngày hôm nay.” Ông nói.

Bác sĩ giải thích rằng bệnh nhân đó, người nằm viện để điều trị tình trạng thận không hoạt động, sau khi hồi phục đã gửi lời cám ơn đến y tá phục vụ. Sau đó bệnh nhân giới thiệu cô y tá đến cho cho con trai của ông.

Tổ chức Từ Tế, với 5 triệu hội viên trên 30 quốc gia bao gồm Mã Lai, bắt đầu ra công vào năm 1966 với 30 tín đồ của sư bà Chúng Nghiêm, hầu hết 30 tín đồ ấy vốn là các bà nội trợ. Mỗi người trong số biếu tặng 50 cents một ngày từ số tiền dành dụm khi đi chợ, và họ bỏ món tiền đó vào một ống tre, và chuyện gì còn lại sau đó, thuộc về lịch sử, Wu nói.

Nhiệm vụ của tổ chức Từ Tế là cứu tế từ thiện, dược liệu, giáo dục và văn hóa, và mọi hoạt động đều được phát hình trên đài truyền hình Trạm TV Ðại Ái ( nghĩa là lòng yêu thương bao la trong tiếng Hoa), Đài Loan.

------------------------------------------------------------------------------------------

No. 0956 NEW (Hạt Cát lược dịch)

Ðường Xưa Mây Trắng –

Old Path White Clouds sẽ lên phim

www.hollywoodreporter.com , May 23, 2006.

Hollywood - May, 23, 2006 -- Dr. Bhupendra Kumar Modi, lừng danh trong giới truyền thông Ấn Ðộ, sẽ tài trợ thực hiện một thiên hùng ca về cuộc đời Ðức Phật qua một cuốn phim dựa trên quyển sách thuộc loại “ Best Selling - Sách bán chạy”, quyển Old Path White Clouds tức Ðường Xưa Mây Trắng được viết bởi Hòa Thượng Thích Nhất Hạnh. Bộ phim $120 triệu nói tiếng Anh - được thực hiện sản xuất bởi Modi dưới sự bảo trợ của dự án “Buddha Films” một công ty con thuộc công ty Mcorp Global của ông Modi- sẽ là một bộ phim tốn kém cao nhất thu hình tại Ấn Ðộ. Ðây là đợt ra quân đầu tiên đột nhập ngành làm phim ảnh của Modi. Michel Shane và Anthony Romano, giám đốc sản xuất cuốn phim “I, Robot” đã ký kết giao kèo chịu trách nhiệm sản xuất bộ phim. Công đoạn thu hình chính thức được dự trù khởi sự vào tháng 11 ở Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc và Ấn Ðộ.
Tưởng cũng nên nói thêm là Dr. Bhupendra Kumar Modi, chủ tịch Hội Maha Bodhi, chủ nhân nhiều công ty hàng đầu Ấn Dộ với tài sản lên đến 1.2 tỷ (tức 1200 triệu) Mỹ kim, chuyên về những lãnh vực thông tin, tài liệu điện toán, viễn thông, phone cầm tay, và các dịch vụ Internet v.v...
Theo một bản tin đã được đưa hồi tháng 8 năm 2005 thì bộ phim 120 triệu này vốn được Ông Modi ấp ủ từ 17 năm nay, dự án làm phim đã thành hình từ năm ngoái nhưng mãi cho đến hôm nay mới được biết phim này sẽ dựa theo quyển Ðường Xưa Mây Trắng của HT Nhất Hạnh.

Nhật Hành

Ngày: 23 tháng 05 năm 2006

Tri chúng: Nhi Độ Mai

Tri chúng điền khuyết: TLN

Môn học: Lớp Phật Pháp Phổ Thông

Bài học: NGHI THỨC VÀ NGHI LỄ

Giảng Sư Chính: SC Liễu Pháp

Giảng Sư Điền khuyết: TT Giác Đẳng


Vị Tăng hoặc Ni nói lời cầu nguyện đầu lớp học: ĐĐ Minh Hạnh

Xướng ngôn viên: TC đk, Nhu Phuc, Sangkhaly, Tieu Long Nu, Mindvox (ĐK: Tinh Tan (MC 1 only), Hat Cat, Dharma10, Anitya, Nguon Duc Hanh) http://baidocmc.blogspot.com và http://www.bandieuhanh.blogspot.com

Người mở room: Dieu Quang, Hat Cat

Người mở nhạc và kinh tụng: Dieu Quang, Hat Cat, Tinh Tan (đk)

Người hoán chuyển bài cho Room: Nhu Phuc - Hat Cat (đk)

Người post bài cho Room: Mindvox, Tinh Tan, Nguon Duc Hanh

Người post và gửi bài riêng cho chư Tăng: Nhu Phuc, Hat Cat, Nguon Duc Hanh

Trực room (op): TC đk & Nhu Phuc, Tinh Tan, Nguon Duc Hanh.

Thông báo (nếu có): Xin các Ops nào có Googletalk hoan hỷ nhớ online để truyền thanh cho Chư Tăng khi Net yếu.
Lớp Phật Pháp Phổ Thông

NGHI THỨC VÀ NGHI LỄ
______________

Giảng sư: SC Liễu Pháp

I. Toát Yếu: Những điểm chính


- Đạo Phật không có thành kiến với nghi thức và nghi lễ nếu không hại hay làm phiền đến kẻ khác.

- Hôn lễ Phật giáo không nằm trong kinh điển, nghi lễ chỉ chứng nhận cho một gia đình Phật tử theoTam Bảo, thọ ngũ giới và thập thiện để mang lại hòa thuận, yên vui.

- Nghi thức Tang lễ trong Phật giáo đơn giản, nghiêm túc và trang trọng. Hỏa táng là một tục lệ từ cổ xưa đến nay trong Đạo Phật.

II. Nội dung chính

1. TRUYỀN THỐNG, TẬP TỤC VÀ HỘI HÈ

Đạo Phật không có thành kiến với các truyền thống và tập tục nếu những điều này không hại đến phúc lợi của người khác.

Đức Phật khuyên ta không nên đơn giản tin vào điều gì chỉ vì điều đó có từ tập tục truyền thống. Tuy nhiên, ta cũng không được khuyến bảo là hãy chối bỏ ngay tất cả các truyền thống. "Bạn phải cố gắng thử nghiệm với những tập tục và thông qua bằng cách khảo sát phẩm chất của chúng. Chỉ khi chúng tỏ ra hữu lý và đem đến hạnh phúc vừa cho bạn vừa lợi lạc cho người khác, bạn mới nên chấp nhận và thực hành các truyền thống và tập tục này (Kinh Kalama). Chắc chắn đây là một lời tuyên bố phóng khoáng nhất chưa từng thấy ở bất cứ một đạo sư tôn giáo nào. Thái độ bao dung đối với mọi truyền thống và tập tục ngoại đạo này cũng không thấy nơi các tín đồ tôn giáo khác. Những tín đồ khác này thường khuyên những ai mới nhập đạo mình bỏ ngay tất cả những truyền thống, tập tục văn hóa của họ mà không cần xét xem chúng tốt hay xấu. Trong khi giảng dạy Giáo Pháp, những nhà truyền bá Đạo Phật không bao giờ khuyến cáo dân chúng bỏ mất những truyền thống của họ nếu những truyền thống này còn hợp lý. Những tập tục và truyền thống phải ở trong phạm vi nguyên tắc đạo hạnh. Nói một cách khác, ta không nên vi phạm giới luật để giữ đúng truyền thống của mình. Nếu ta cố tình tuân thủ những truyền thống riêng tư không có một giá trị đạo hạnh nào cả thì tuy vẫn có thể thực thi nhưng đó không phải được thực thi dưới danh nghĩa tôn giáo. Cho dù như vậy đi nữa những hình thức tập tục như vậy phải vô hại cho chính mình và cho tất cả các chúng sinh khác. (Vì Sao Tin Phật)

NGHI THỨC VÀ NGHI LỀ

Nghi thức và nghi lễ nằm trong phạm vi tập tục và truyền thống. Nghi thức và nghi lễ tựa như là sự trang hoàng hay trang trí để làm đẹp tôn giáo hầu lôi cuốn đại chúng. Nghi thức và nghi lễ có ích cho một số người về mặt tâm lý. Nhưng ta có thể hành đạo mà không cần nghi thức và nghi lễ nào cả. Một số nghi thức và nghi lễ được người khác coi như khía cạnh quan trọng nhất về tôn giáo của họ để cứu độ nhưng Phật Giáo lại không quan niệm như vậy. Theo Đức Phật, ta không nên bị dính mắc vào những hình thức hành trì như thế trong bước đường mở mang tinh thần hay thanh lọc tâm ý của mình. (Vì Sao Tin Phật)

2. LỄ HỘI

Đương nhiên cũng có một số người không hài lòng nếu các lễ hội chỉ cử hành các nghi thức tôn giáo không thôi. Thông thường họ thích có những loại vui chơi và các màn trình diễn hướng ngoại. Nghi thức, nghi lễ, các buổi lễ, diễn hành, và hội hè được tổ chức để đáp ứng khát vọng thỏa mãn xúc cảm qua tôn giáo. Không một ai có thể nói những hình thức thực hành như vậy là sai, nhưng người Phật Tử thuần thành phải biết tổ chức các cuộc lễ một cách có văn hóa mà không gây khó chịu hay phiền toái cho người khác. (Vì Sao Tin Phật)

3. QUAN ĐIỂM PHẬT GIÁO VÀ HÔN NHÂN

Với Phật Giáo, hôn nhân được coi là một vấn đề riêng tư, cá nhân và không phải là một bổn phận tôn giáo. Mặc dù các nhà sư Phật Giáo không chủ tọa các lễ hôn phối nhưng các nhà họ vẫn hướng dẫn các nghi thức tôn giáo để cầu phước cho các cặp vợ chồng. (Vì Sao Tin Phật)

PHẬT TỬ CÓ PHẢI TIẾN HÀNH HÔN LỄ ĐẠO PHẬT KHÔNG

Hôn lễ Phật giáo, không thấy có căn cứ rõ ràng trong ba Tạng Kinh điển. Vì vậy, Phật giáo không có cường điệu tầm quan trọng của việc tổ chức hôn lễ Phật giáo. Mọi hôn nhân công khai đều được Phật giáo thừa nhận.

Nhưng trên cơ sở gia đình Phật hóa, thì hôn lễ Phật giáo là tất yếu. Ít nhất, việc cử hành hôn lễ Phật giáo chứng tỏ nam nữ kết hôn đều là đệ tử Tam Bảo và sau kết hôn, gia đình họ cũng sẽ là gia đình Phật hóa; tức là gia đình giữ 5 giới và 10 thiện; một gia đình hòa thuận, yên vui.
Vì vậy, các Phật tử chính tín nên tổ chức hôn lễ Phật giáo và động viên bạn bè thân thuộc tổ chức hôn lễ Phật giáo. Vì hôn lễ Phật giáo không có căn cứ rõ ràng trong ba tạng Kinh điển, cho nên, hiện nay, nghi thức của nó chưa được thống nhất quy định. Nhưng nghi thức chủ yếu nên là, hai người cùng quy y Tam Bảo và tuyên thệ thương yêu tôn trọng nhau, và dưới ánh sáng hào quang của Tam Bảo, long trọng kết bạn thành vợ chồng, thương yêu nhau, tương trợ nhau. Theo quy định của luật Tỳ kheo thì người xuất gia không được làm môi giới hôn nhân, nhưng không quy định người xuất gia không được làm chứng cho hôn nhân, hay có thể làm chứng cho hôn nhân. (Phật Giáo Chính Tín)

4. LỄ NGHI TANG CHẾ PHẬT GIÁO

Đám tang thực sự theo Phật giáo là một nghi lễ tôn giáo đơn giản, nghiêm túc và trang trọng.

NGÀY TANG LỄ

Một đám tang cử hành đúng theo tinh thần đạo Phật tại các xứ Phật Giáo là một nghi lễ đơn giản, nghiêm túc và trang trọng. Nếu đại chúng Phật Tử được thân cận đúng người đã thâm hiểu Giáo Pháp và truyền thống thực sự của Phật Giáo, họ sẽ nhận được lời khuyên phải tổ chức tang lễ như thế nào. Người Phật Tử không quan tâm đặc biệt gì về chôn hay thiêu một xác chết. Trong nhiều xứ Phật Giáo, hỏa táng là một tục lệ. Thiêu được khuyến khích vì lý do vệ sinh và kinh tế. (Vì Sao Tin Phật)

Phật tử nên cử hành lễ tang thế nào ?

Trong lễ tang nên làm các "Phật sự" như : tụng kinh, niệm Phật v.v… Nhưng trong nghi thức lễ tang hiện nay ở Trung Quốc, người xuất gia chỉ tụng kinh, không đứng chủ lễ tang. Vì các nghi thức lễ tang đều do phái viên của tổ chức hội bảo trợ đảm nhiệm, Phật sự chỉ là những công việc phụ. Theo nghi lễ tang chính thức của Phật giáo thì ngoài những người phụ trách lễ tang thì chủ thể phải là một pháp sư xuất gia tụng kinh hộ niệm cho người chết. (Học Phật Quần Nghi).

III. Đố vui:

1. Vì sao các chùa Nam Tông thường dùng kinh Pāli để tụng niệm trong các nghi lễ Phật giáo ?

a. Vì tiếng Pāli có tính cách linh thiêng
b. Vì tiếng Việt không thể chuyển tải hết ý nghĩa của lời kinh
c. Vì muốn duy trì truyền thống Phật giáo nguyên thủy
d. Cả ba điều trên.

2. Các lễ hội Phật giáo có cần thiết chăng ?

a. Không, vì đó chỉ là hình thức, không liên hệ gì đến sự tu tập
b. Không, vì chúng tốn kém và vô ích
c. Có, vì đó là cách để biểu hiện đức tin, lòng tôn kính, và thu hút quần chúng đến với Đạo Phật
d. Có, vì chúng thỏa mãn cảm xúc tôn giáo của tín đồ.

3. Khi một gia đình có người thân qua đời, việc nào dưới đây là quan trọng nhất:

a. Buồn rầu thương tiếc người quá cố
b. Tổ chức đám
c. Thỉnh chư tăng về nhà tụng kinh cầu siêu
d. Tạo phước cho người chết bằng cách bố thí cúng dường.

Thứ Hai, 22 tháng 5, 2006

No. 0949 NEW (Nhị Độ Mai dịch)

Ấn Độ bắt tay vào việc

phát triển và duy trì trung tâm Phật Giáo

PIB Ấn Độ, May, 18, 2006

New Delhi, India -- Bộ du lịch đang bổ sung tài chánh trung ương nhằm tài trợ phát triển hạ tầng cơ sở cho nhiều khu vực Phật Giáo trong nước và đã chi tiêu 93. 47 triệu Rupees giữa kế hoạch thứ 8th-10th cho đến nay.

Song song đó, Bộ du lịch cũng huy động quỹ bên ngoài từ Nhật Bản cho việc phát triển hạ tầng cơ sở tại nhiều khu vực Phật Giáo quan trọng và hợp tác với các bộ phận tương đương nhằm cải thiện và phát triển đường phố, đường rầy xe lửa và hàng hải. Đây là những gì mà Ms, Ambika Soni, Bộ Trưởng Du Lich và Văn Hóa trả lời câu hỏi Shri Nikhil Kumar trong Lok Sabha hôm nay.

Bà nói thêm Bộ Văn Hóa cũng phê chuẩn ngân sách tài trợ cho công trình duy trì và phát triển nghệ thuật Phật Giáo và văn hóa trong nước. Bộ cũng bổ sung ngân sách tài trợ cho các học viện Phật Giáo và cung cấp ngân quỹ đâỳ đủ cho ba trung tâm học viện tại Leh, Sarnath và Nalanda nhằm gây ảnh hưởng giáo lý nhà Phật và triết học

Khu vực Phật tích chính trong nước được duy trì bảo quản theo chế độ mỗi ngày và chỉ sửa chữa mỗi khi có nhu cầu cần thiết đòi hỏi.

Duy trì cấu trúc và nghệ thuật điêu khắc cũng được lưu ý đến bên cạnh việc phát triển môi trường để cho đài kỹ niệm có một diện mạo thích đáng, bà nói thêm.

------------------------------------------------------------------------------------------

No. 0951 NEW (Hạt Cát lược dịch)

Hội nghị Phụ nữ

Phật Giáo Quốc Tế tổ chức ở Mã Lai

By JADE CHAN, The Star, May 20, 2006

Kuala Lumpur, Malaysia -- Một số người cho rằng phụ nữ trên một vài phương diện nào đó không có được cái sở năng sở hành như đàn ông. Không những chỉ một số nam giới có thái độ này mà cả bản thân của người phụ nữ cũng nghĩ thế.

“Tôi muốn giúp quý chị em phụ nữ hiểu rõ tiềm năng phi thường của họ”. Ni Sư Karma Lekshe Tsomo, Phụ Giảng ngành Thần Học và Nghiên Cứu Tôn Giáo thuộc Ðại Học San Diego và là chủ tịch Hiệp Hội Phụ Nữ Phật Gíao Quốc Tế "Sakyadhita - Thích Nữ" đã nói như trên.

Ðã có rất nhiều phụ nữ đáng kể trong các quốc gia Phật giáo, những người bắt đầu từ con số không và thành tựu to lớn. Một ví dụ như Ni Sư Thích Vận Phạm, người sáng lập Ðại Học Phật Giáo đầu tiên tại Ðài Loan.

Hội Nghị Phụ Nữ Phật Giáo Thế Giới lần thứ 9 là một trong những cơ cấu được tổ chức bởi Hiệp Hội Phụ Nữ Phật Giáo Quốc Tế “Sakyadhita - Thích Nữ” dành cho các học giả Phật Giáo, hành giả và các nhà hoạt động xã hội từ các nơi trên thế giới chia sẻ kinh nghiệm trên vấn đề hỗ trợ, khuyến tấn dự án cải thiện tình trạng phụ nữ Phật Giáo và cổ võ bình đẳng giới tính.

Sakyadhita có nghĩa là “Những người con gái của Ðức Phật, tạm gọi vắn tắt là Thích Nữ” - là một tổ chức Phụ Nữ Phật Giáo hàng đầu trên thế giới.

Với đề tài “Phụ Nữ Phật Giáo trong một Cộng Ðồng Ða Văn Hóa Toàn Cầu”, hội nghị sẽ diễn ra từ ngày 17 đến ngày 21 tháng Sáu, 2006 tại Trung Tâm Triển Lãm Sau Seng Lum, Mã Lai.

Chủ tịch Hội Ðồng Kế Hoạch Hội Nghị, Ni Sư Chang Heng cho biết trong cuộc họp báo hôm thứ Ba “Hội nghị tổ chức mở rộng cho công chúng, cả hai giới nam nữ, bất cứ quốc tịch và bối cảnh tôn giáo nào.

Hội nghị được tổ chức vòng quanh thế giới mỗi 2 năm một lần. Ðoàn thể Phật Giáo Mã Lai đảm trách tổ chức hội nghị kỳ này là Tu Viện Phật Giáo Maha Vihara và Hiệp Hội Phật Giáo Người Mã Lai. Các hội đoàn cùng cộng tác khác gồm có Hội Liên Hữu Phật Bảo (Buddhist Gem Fellowship), Phật Quang Sơn (Buddhist Light Inter-national Association), Giáo hội Phật Giáo Mã Lai, Tu Viện Kỳ Viên (Jetavana Monastery), Chùa Tu Thành Lâm ( Sau Seng Lum), chùa Ðàn Hương (Than Hsiang), Giáo hội Phật Giáo Kim Cang Mã Lai (Vajrayana Buddhist Council of Malaysia) và Hiệp Hội Thanh Niên Phật Tử Mã Lai (Young Buddhist Association of Malaysia). Nơi gặp gỡ sẽ là Trung Tâm Triển Lãm Tu Thành Lâm (Sau Seng Lum).

Sẽ có khoảng 45 diễn giả quốc tế và địa phương diễn thuyết trước Hội Nghị. Hầu hết diễn giả sẽ phát biểu bằng Anh Ngữ và đồng thời được thông dịch ra tiếng Quan Thoại và Ðại Hàn.


Nhật Hành

Ngày: 22 tháng 05 năm 2006

Tri chúng: Anitya

Tri chúng điền khuyết: Nhu Phuc

Môn học: Lớp Thiền Học

Bài học: Thanh Tịnh Đạo - Phần Thứ Năm: ÐỊNH - NHỮNG ĐỀ MỤC KHÁC

Giảng Sư Chính: TT Giác Đẳng

Giảng Sư Điền khuyết: TT Tuệ Siêu

Vị Tăng hoặc Ni nói lời cầu nguyện đầu lớp học: ĐĐ Minh Hạnh

Xướng ngôn viên: TC đk, Mindvox, Bich Thu, Tinh Tan, Hat Cat, Gioi Huong (tin tức). (ĐK: Sangkhaly (rời room đúng giờ), Nguon Duc Hanh, Nhi Đo Mai, Tieu Long Nu).
http://baidocmc.blogspot.com & http://bandieuhanh.blogspot.com

Người mở room: Mindvox, Hạt Cát, Dieu Quang

Người mở nhạc và kinh tụng: Mindvox, Hạt Cát (đk)

Người hoán chuyển bài cho Room: Hat Cat - Nhu Phuc (đk)

Người post bài cho Room: Mindvox, Nguon Duc Hanh

Người post và gửi bài riêng cho chư Tăng: Mindvox, Nguon Duc Hanh.

Trực room (op): TC đk & Tinh Tan, Nhi Do Mai, Bich Thu.

Thông báo (nếu có): Xin các Ops nào có Googletalk hoan hỷ nhớ online để truyền thanh cho Chư Tăng khi Net yếu.
Lớp Thiền Học

THANH TỊNH ÐẠO LUẬN TOÁT YẾU

(Trích dẫn tài liệu do TT Thích Phước Sơn biên soạn)

PHẦN THỨ HAI - ÐỊNH (tiếp theo)


--ooOoo--

CHƯƠNG V

ÐỊNH - NHỮNG ĐỀ MỤC KHÁC
______________

Giảng Sư: TT Giác Đẳng

I. Toát Yếu: Những điểm chính

Các đề mục biến xứ còn lại trong 10 đề mục biến xứ thiền quán: nước, lửa, gió, xanh, đỏ, trắng, vàng, và biến xứ hư không và các tác dụng của 10 biến xứ sắc giới.

II. Nội dung chính

1. Biến xứ nước

Người tu tập biến xứ này - cũng như trong trường hợp biến xứ đất - cần có thế ngồi thoải mái và nắm lấy tướng nước. Nếu người đã tu tập ở đời trước, thì khi cần tác ý đến nước, biến xứ nước sẽ hiện ra. Nếu đời trước chưa tu tập biến xứ này thì cần lấy một cái bát đổ đầy nước làm căn cứ để tác ý đến nước, và miệng thầm nhủ "nước, nước", cho đến khi nào Sơ tướng và Tợ tướng khởi lên rõ rệt. Khi tướng ấy xuất hiện thì hành giả đạt đến định cận hành và định an chỉ thuộc Tứ thiền hay Ngũ thiền như trên đã nói.

2. Biến xứ lửa

Người muốn tu tập biến xứ lửa cần nắm lấy tướng lửa. Nếu hành giả đời trước đã tu tập, thì có thể tác ý đến bất cứ loại lửa nào khi cần. Nếu đời trước chưa tu tập thì phải dùng một que củi đốt lên, rồi chú tâm đến ngọn lửa, miệng thầm nhủ " lửa, lửa", cho đến khi nào 2 loại định xuất hiện như trường hợp biến xứ nước.

3. Biến xứ gió

Người muốn tu tập biến xứ này cần phải nắm lấy tướng hư không, rồi an trú niệm vào gió thầm nhũ "gió, gió", cho đến khi nào Sơ tướng rồi tợ tướng xuất hiện.

4. Biến xứ xanh

Người tu tập biến xứ này cần phải nắm lấy tướng màu xanh. Nếu người đã từng tu tập từ đời trước thì có thể tác ý về màu xanh ở bất cứ vật gì. Nếu người chưa từng tu tập, thì phải dùng hoa sen xanh đặt trên một vật cố định, rồi chú tâm trên tướng ấy, thầm nhủ: "xanh, xanh", còn các việc khác như đã nói trong phần biến xứ đất.

5. Biến xứ vàng

Người muốn tu tập biến xứ này cần phải nắm lấy tướng màu vàng nơi một cái hoa, hay một tấm vải. Nếu đời trước đã tu tập thì tướng màu vàng xuất hiện dễ dàng. Nếu đời trước chưa tu tập, thì phải làm một biến xứ theo cách đã nói ở biến xứ xanh, rồi chú tâm trên tướng ấy, thầm tưởng "vàng, vàng".

6-9. Biến xứ màu đỏ; Biến xứ màu trắng; Biến xứ ánh sáng; Biến xứ hư không

Người muốn tu tập các biến xứ này cũng theo cách tương tự như đã trình bày ở các biến xứ trên.

10. Nói tổng quát về tác dụng của các biến xứ trên

Ðức Ðạo sư đã dạy về 10 biến xứ, mỗi thứ đều có thể làm nhân cho 4 thiền hay 5 thiền. Ðó là chìa khóa chủ yếu của cõi sắc giới. Trong những biến xứ này, biến xứ đất là căn bản cho những thần thông, như: "một thân biến ra nhiều thân". Biến xứ nước là căn bản cho những thần thông như độn thổ, chui ra khỏi đất. Biến xứ lửa là căn bản cho những năng lực làm ra khói, ra lửa, nhưng chỉ đốt cháy những gì mình muốn đốt. Biến xứ gió là căn bản cho những thần thông như tạo ra những trận cuồng phong. Biến xứ xanh là căn bản cho những thần thông như tạo ra những hình tướng màu đen, bóng tối. Biến xứ vàng là căn bản cho những thần thông như tạo ra những hình tướng màu vàng. Biến xứ đỏ là căn bản cho những thần thông như tạo ra những hình tướng màu đỏ. Ngoài ra, các biến xứ còn lại cũng có những tác dụng tương tự như các loại vừa kể.

Tuy vậy, không phải ai cũng có thể tu tập được các loại biến xứ này. Bởi vì, nếu một hữu tình thuộc loại sau đây thì không thể tu tập bất cứ biến xứ nào: "Bị nghiệp làm chướng ngại, bị phiền não làm chướng ngại, bị nghiệp dị thục (quả báo của nghiệp) làm chướng ngại, thiếu đức tin, thiếu dục, thiếu tuệ. Những kẻ này không thể nhập được quyết định tánh trong các thiện pháp." (Vbh. 341)

Nghiệp chướng là chỉ những người có ác nghiệp kéo theo quả báo tức thì vào lúc tái sinh. Phiền não chướng chỉ cho hạng người có tà kiến bác bỏ nhân quả. Nghiệp dị thục hay báo chướng chỉ cho hạng người có một kiết sinh không có thiện căn. Thiếu đức tin là không tin tam bảo. Thiếu dục là thiếu lòng ham muốn đối với đạo lộ vô ngại. Thiếu tuệ là thiếu chánh kiến thế gian và xuất thế gian. Tánh quyết định chỉ cho thánh đạo.

Bởi vậy, việc tu thiền phải được thực hiện bởi một thiện nam tử không bị báo chướng, không có phiền não chướng và nghiệp chướng, nuôi lớn đức tin, có dục và tuệ, siêng nghe pháp và gần gũi thiện hữu tri thức.

III. Ðố vui

1. Ý nghĩa nào dưới đây không đúng với ý nghĩa của chữ "biến xứ-kasina" ?

a. Ðối tượng phát triển tâm định
b. Ðối tượng tạo nên cảm hứng của tư duy
c. Ðối tượng có khả nång làm tâm biến mãn
d. Ðề mục thiền sắc giới.

2. Tại sao có những đối tượng có thể làm biến xứ trong lúc những đối tượng khác thì không ?

a. Bởi vì chỉ có những đối tượng mang tính "cån gốc" của sắc mới có khả nång biến mãn
b. Bởi vì những biến xứ này có đặc điểm "thuần tính"
c. Trong thế giới vật chất cũng có thứ "linh" và "không linh"
d. Câu a và b đúng.

Chủ Nhật, 21 tháng 5, 2006

No. 0948 NEW (Hạt Cát lược dịch)

Các lãnh đạo tôn giáo ở Nepal

hô hào thay đổi quốc giáo tính

Kathmandu, Friday, May 19, 2006 -- Các nhà lãnh đạo Phật Giáo, Ki Tô và Hồi giáo ở Nepal hôm thứ Sáu 19 tháng 05, 2006 đã kêu gọi Quốc Hội xúc tiến thay đổi quốc giáo tính Hồi Giáo trở thành một quốc gia tự do tôn giáo.

Một nghị quyết đã được thông qua bởi Quốc Hội hôm thứ Năm kể cả một điều khoản nói rằng Nepal sẽ không phải là một quốc gia Ấn Giáo nữa. Hơn 85% trong con số 27 triệu dân Nepal theo Ấn Giáo.

KB Rokaya, thuộc Giáo Hội Ki Tô Vùng Nepal nói “Chúng tôi hoan nghênh quyết định của chính phủ. Chúng tôi đã tranh đấu cho tự do tôn giáo tại Nepal trong một thời gian dài”.

Rokaya nói rằng chính phủ nên thành lập một giáo hội điều tiết “để tất cả mọi sinh hoạt tôn giáo có thể hoạt động một cách tự do mà không bị một sự đe dọa nào.

Hiến Pháp Nepal được soạn thảo năm 1990 đã tuyên bố quốc gia Hy Mã Lạp Sơn Nepal là một vương quốc Ấn Giáo.

Những người dân Nepal đã tổ chức các cuộc tuần hành ở một vài thành phố và thị trấn hôm thứ Sáu để cổ võ biểu quyết của Quốc Hội trong việc đột ngột tước bớt quyền hành của Quốc Vương Nepal và biến ông trở thành một nhà lãnh đạo bù nhìn.

Các viên chức nói “Ðể được ban hành, dự thảo vẫn còn cần phải được biểu quyết trên hàng loạt đạo luật, việc sẽ diễn ra trong vài ngày tới.

------------------------------------------------------------------------------------------

No. 0950 NEW (Hạt Cát lược dịch)

Thái Lan: Một ngôi chùa lâm sở

giữa trung tâm thương mại náo nhiệt

by ANCHALEE KONGRUT, Bangkok Post, May 21, 2006

Ngôi chùa lịch sử nằm trong vùng cây cỏ xanh rì mang cho ta một cảm giác an bình cho việc hành pháp giữa khung cảnh náo động của khu thương mại.

Bangkok, May 21, 2006 -- Siriwan đã viếng thăm trung tâm thương mại Siam Square tại khu Pathumwan hầu như mỗi ngày từ 20 năm nay.

Cô không đến đó để mua sắm những mặt hàng thương hiệu nổi tiếng trong các cửa tiệm sang trọng nằm dọc theo đường phố trong một trung tâm thương mại náo nhiệt, cũng không phải muốn ăn tối trong một nhà hàng lộng lạc.

Nhiệm vụ của cô thật khác biệt – hành thiền tại chùa Pathum Wanaram, ăn điểm tâm bằng món “sen quích”giữa các khu Thương Xá Siam Paragon và Thương Xá Central World. Cô muốn cầu nguyện trước khi đi làm ở Công Ty Tot.

Siriwan, 42 tuổi, thường rời nhà vào lúc 5:00AM và lái xe đến ngôi chùa trên đường Rama I để hành thiền và để bát cúng dường. Cô nói không có gì lạ thường về việc hành thiền trong một ngôi chùa được vây chung quanh bởi các trung tâm thương mại và các nhà chọc trời.

Cô nói “Người ta nên biết rằng ngôi chùa này đã có mặt ở đây hơn một thế kỷ rồi trong khi các khu thương mại chỉ mới được xây dựng vài thập niên trước. Tôi nghĩ rằng cả hai có thể cùng nhau tồn tại. Người tại Siam Square sẽ có nhiều cơ hội để cúng dường hơn. Mọi người cũng có thể tìm thấy niềm vui tâm linh tại chùa sau khi đi mua sắm.

Cô nói “Niềm vui tâm thức, miễn phí, không giống như sản phẩm gọi mời trong các cửa tiệm”.

Ngôi chùa giống như là một thế giới khác. Chùa thiết lập một khu đất rộng khoảng 9 rai trong con số tổng thể 15 rai, như là một khu vực cây xanh cho người đến để nghiên cứu giáo pháp tại Trung Tâm Giáo Pháp Sala Phrarajasaddha. Nó được bao vây chung quanh bởi những hãng xưởng khổng lồ, có cái khoảng 100 năm tuổi thọ”.

Rừng cây xanh giữa phố sẽ giúp thanh lọc không khí , cung cấp giải pháp chống ô nhiễm bằng phương pháp thiên nhiên.

Ngôi chùa được xây dựng năm 1853 trong thời gian tại vị của Ðức Vua Mongkut và phục vụ như là một trung tâm tu học Phật Pháp dành cho Hoàng gia vào triều đại Vua Chulalongkorn.

Trong những ngày xa xôi trước đó, ngôi chùa nằm giữa những cánh đồng ruộng lúa và những đầm lầy tràn ngập hoa sen. Ðức vua đã ban danh hiệu cho nó là điện Wang Sa Pathum hoặc Palace of the Lotus Pond - Ðiện Liên Hoa Trì. Pathum có nghĩa là hoa sen trong thổ ngữ địa phương.

Sư Pisanpatanatorn hoặc Chao Kun Thavorn Chittathavaro, Sư phó trụ trì chùa và giám đốc trung tâm giáo pháp, nói rằng lâm sở cũng đóng một vai trò quan trọng lịch sử Phật Giáo.

Ông nói “Ðức Bồ tát đản sinh, giác ngộ và nhập Niết Bàn trong môi trường lâm sở. Tôi có thê nói rằng lâm sở là một phần quan trọng trong Phật Giáo về việc tạo nên sự an bình và tĩnh lặng.

Có khoảng 300 người đến vãng cảnh chùa lâm sở mỗi ngày và con số này đang còn tiếp tục gia tăng bởi ảnh hưởng nhiều sinh hoạt khác của trung tâm thương mại.

Nhật Hành

Ngày: 21 tháng 05 năm 2006

Tri chúng: Diệu Quang

Tri chúng điền khuyết: SC Dieu Tinh

Môn học: Lớp Phật Học Chuyên Đề

Bài học: An lạc chân thật của cuộc đời

Giảng Sư Chính: ĐĐ Tuệ Quyền

Giảng Sư Điền khuyết: TT Giác Đẳng


Vị Tăng hoặc Ni nói lời cầu nguyện đầu lớp học: ĐĐ Minh Hanh

Xướng ngôn viên: MC Phần 1: Minh Lac, đk: Bichthu.
_______________MC Phần 2: Bản tin 1: Gioi Huong, Dieu Quang (đk) // Bản tin 2: Tri Ðat, Nhi Do Mai (đk) http://bandieuhanh.blogspot.com & http://baidocmc.blogspot.com

Người mở room: Dieu Quang, Hạt Cát

Người mở nhạc và kinh tụng: Anitya, Diệu Quang, Hạt Cát

Người hoan chuyen bài cho Room: Dieu Quang, Nhu Phuc (đk)

Người post bài cho Room: Nhu Phuc, NhiDoMai, Anitya (đk)

Người post và gửi bài riêng cho chư Tăng: TC đk, Nhu Phuc.

Trực room (op): TC đk & Nhu Phuc (clean và trực room), Tieu Long Nu (coi sau nick mới vào room), Hat Cat (trực mic giảng sư). Các ops khác bounce

Thông báo (nếu có): Cô NguonDucHanh: xin nghỉ phép hôm nay.

Nếu khủng bố vào nhiều mà Cô HC không mute kịp xin remove all mic trong admin ==> các ops unmute Quý Chư Tăng và nicks quen.
Xin các Ops nào có Googletalk hoan hỷ nhớ online để truyền thanh cho Chư Tăng khi Net yếu.