Thứ Hai, 24 tháng 4, 2006

No. 0893 NEW (ÐÐ Nguyên Tạng biên dịch)

NHÀ KHOA HỌC

ALBERT EINSTEIN VÀ ĐẠO PHẬT

Ông Albert Einstein, sinh ngày 14 tháng 03 năm 1879 tại thành phố Ulm, Đức quốc, trong một gia đình làm nghề thủ công và tiểu thương. Bố là một người giỏi về hóa học và mẹ là người có khiếu về âm nhạc. Năm 1894, gia đình ông di cư sang sống tại Ý. Ông được bố gởi đi học ở Thụy Sĩ và đã tốt nghiệp tiến sĩ triết học tại Đại học Zurich. Sau khi ra trường, ông được mời dạy toán và vật lý tại một trường bách khoa ở Thụy Sĩ, ngoài việc dạy học, ông dành hết thời gian còn lại để nghiên cứu vật lý học và ông còn làm việc tại văn phòng thẩm tra cấp bằng sáng chế ở Berne, Thụy Sĩ. Năm 1905, ông gởi đăng bài "Lý thuyết tương đối hẹp" dài 5 trang trên tờ Physics. Bài báo nhanh chóng được chú ý và nó là tiếng nổ lớn của ngành khoa học về không gian và thời gian, ông đã phá vỡ các khái niệm tuyệt đối về không gian và thời gian của nhà vật lý học và toán học vĩ đại, Issaac Newton (1642-1727). Lập tức tên tuổi của ông được nhiều người biết tới và được xem là một khoa học gia nổi tiếng nhất vào thời điểm ấy.

Năm 1911, Ông là giáo sư vật lý ở Prague. Năm 1913, ông được mời làm giám đốc Học Viện Vật Lý Hoàng Đế Wilhelm tại Berlin. Đến năm 1921, ông được trao giải thưởng Nobel về Vật lý học qua đề án nghiên cứu "Lý Thuyết Tương đối" (The Theory of Relativity). Trong thế chiến thứ nhất (1914-1918), ông từng bị tống giam vì tội "chống chiến tranh và ủng hộ hòa bình". Sau khi Adolf Hitler (1889-1945) trở thành quốc trưởng của Đức, ông ra sức chống lại chủ nghĩa phát xít và rời bỏ nước Đức sang sống tại Hoa Kỳ.

Từ năm 1933 đến năm 1945, ông là giáo sư toán và lý tại Viện Cao học Princeton ở bang New Jersey. Phát xuất từ lòng căm thù chủ nghĩa phát xít mà ông đã giúp cho Tổng thống Mỹ Franklin Roosevelt (1882-1945) chế tạo bom nguyên tử và cuối cùng bị xem là "cha đẻ" của thứ vũ khí giết người này. Đây cũng là lý do mà về sau năm 1950, ông thành lập Viện Kiểm Soát Nguyên tử Quốc tế tại Hoa Kỳ.

Ba thập niên cuối đời mình, ông dành thời gian để nghiên cứu về "Lý thuyết thống nhất giữa lực hấp dẫn và hiện tượng điện quang" (The Theory of unify gravitation and eletro-magnetism).

Mặc dù bận rộn nghiên cứu và giảng dạy khoa học, nhưng ông Einstein vẫn dành thời gian nhất định để nghiên cứu triết học và tôn giáo, đặc biệt trong đó có Đạo Phật. Theo tài liệu "The World As I See It" (Trần thế khi tôi nhìn thấy nó, nhà xb Philosophical Library, New York, 1949) và quyển "Ideas and Opinions" (Những Ý Kiến và Những Quan Điểm, nhà xb Crown, NY, 1945) là hai tuyển tập những bài báo, bài tham luận về tôn giáo và khoa học mà ông Einstein viết từ đầu những năm ba mươi. Đáng chú ý trong tập này là các bài như "Religion and Science" (Tôn giáo và Khoa học), viết từ 1930; bài "Science, Philosophy & Religion, A Sumposium" (Khoa học, Triết học và Tôn giáo, một buổi hội thảo) viết năm 1941; bài "Religion and Science: Irreconcilable?" (Tôn giáo và Khoa học: không thể hòa giải được sao?) viết vào năm 1948.

Cũng theo các tài liệu trên cho thấy, ông đã nghiên cứu Đạo Phật qua các sách báo của các học giả Phật học của người Âu Mỹ viết, đáng kể là triết gia người Đức Schopenhauer Arthur (1788-1860), tiến sĩ người Đức Paul Carus (1852-1919), viện sĩ hàn lâm người Nga Vasily Vasaliyey (1818-1900)... là những nhà Phật học nổi danh ở phương Tây. Nhờ nghiên cứu như vậy mà A. Einstein đã nhìn thấy Đạo Phật như là một triết lý phương Đông cực kỳ sống động và triết lý ấy đã đi vào cuộc đời bằng chân lý thực chứng của mình, ngỏ hầu cắt ngang sự chậm tiến, lạc hậu, mê tín, cuồng tín và kém văn minh của thời đại. Đạo Phật đã đem lại cho con người một cái nhìn mới, một lối sống mới, một sự hài hòa mới, sống với nhau như ánh sáng trong không gian, chan hòa với nhau như nước với sữa. Chính vì thấy rõ cái độc đáo đó mà ông Einstein đã phát biểu về Đạo Phật như sau : "Tôn giáo của tương lai sẽ là một tôn giáo toàn cầu, vượt lên trên mọi thần linh, giáo điều và thần học. Tôn giáo ấy phải bao quát cả phương diện tự nhiên lẫn siêu nhiên, đặt trên căn bản của ý thức đạo lý, phát xuất từ kinh nghiệm tổng thể gồm mọi lĩnh vực trên trong cái nhất thể đầy đủ ý nghĩa. Phật giáo sẽ đáp ứng được các điều kiện đó" (The religion of the future will be a cosmic religion. It would transcend a person God and avoid dogmas and theology. Covering both the natural and the spiritual, it should be based on a religious sence, arising from the experience of all things, natural and spiritual, as a meaningful unity. Buddhism answers this description). Đồng thời, một lần khác ông cũng khẳng định rằng: "Nếu có một tôn giáo nào đương đầu với các nhu cầu của khoa học hiện đại thì đó là Phật giáo. Phật giáo không cần xét lại quan điểm của mình để cập nhật hóa với những khám phá mới của khoa học. Phật giáo không cần phải từ bỏ quan điểm của mình để xu hướng theo khoa học, vì Phật giáo bao hàm cả khoa học cũng như vượt qua khoa học" (If there is any religion that would cope with modern scientific needs, it would be Buddhism. Buddhism requires no revision to keep it up to date with recent scientific finding. Buddhism need no surrender its view to science, becauseit embrances science as well as goes beyond science). (Cả hai câu trên được trích từ Collected famous quotes from Albert Einstein. http://rescomp,stanford,edu/~ cheshire/ Einstein quotes.htm).

Dù những lý thuyết khoa học của ông rất phức tạp và khó hiểu, nhưng tấm lòng nhân đạo và mến chuộng hòa bình của ông đã khiến cho mọi người cảm thấy gần gũi với ông. Ông đã cống hiến tất cả trí tuệ và sức lực của mình đối với sự phát triển khoa học của nhân loại. Ông làm việc không biết mệt mỏi cho đến ngày qua đời. Ông mất vào lúc 1giờ 25 phút rạng sáng ngày 19 tháng 04 năm 1955 tại Princeton, Hoa Kỳ, hưởng thọ 76 tuổi. Ngày nay, đối với mọi tín đồ Phật Giáo trên khắp năm châu đều thành kính khi nhắc đến tên tuổi của ông, người đã từng góp phần khẳng định lại giá trị vĩnh cửu đối với Giáo lý của Đạo Phật.

Chủ Nhật, 23 tháng 4, 2006


Nhật Hành

Ngày: 23 tháng 04 năm 2006

Tri chúng: SC Diệu Tịnh

Tri chúng điền khuyết: Dieu Quang

Môn học: Lớp Phật Học Chuyên Đề

Bài học: Có phải “Tất cả” đều có hay không có ?

Giảng Sư Chính: ĐĐ Tuệ Quyền

Giảng Sư Điền khuyết: TT Giác Đẳng


Vị Tăng hoặc Ni nói lời cầu nguyện đầu lớp học: ĐĐ Minh Hanh

Xướng ngôn viên: TC đk, Minh Lạc, Giới Hương, Sangkhaly, Tri Đat (ĐK: Hat Cat, Nguon Đuc Hanh, Nhi Do Mai, Tieu Long Nu) http://bandieuhanh.blogspot.com & http://baidocmc.blogspot.com

Người mở room: Dieu Quang, Hạt Cát

Người mở nhạc và kinh tụng: Diệu Quang, Hạt Cát

Người hoan chuyen bài cho Room: Dieu Quang, Nhu Phuc (đk)

Người post bài cho Room: DieuQuang, Nguon Duc Hanh, NhiDoMai (đk)

Người post và gửi bài riêng cho chư Tăng: DieuQuang, HatCat, NguonDucHanh.

Trực room (op): TC dk & NguonDucHanh, Tieu Long Nu.

Thông báo (nếu có):
Lớp Phật Học Chuyên Đề

Có phải “Tất cả” đều có hay không có ?
______________

Giảng sư: ĐĐ Tuệ Quyền

I. Toát yếu: Những điểm chính

Đức Thế Tôn thuyết cho Bà La Môn Jānussoni về :

- “ Tất cả” tức là ngũ uẩn “đều có” và “không có” là hai cực đoan cần phải bỏ, và Đức Phật thuyết về con đường Trung đạo.

- Do vô minh duyên hành, hành duyên thức, thức duyên danh sắc, danh sắc duyên sáu xứ, sáu xứ duyên xúc, xúc duyên thọ, thọ duyên ái, ái duyên thủ, thủ duyên hữu, hữu nên có sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não khởi lên.

Do đoạn trừ tham ái nên đoạn diệt vô minh và toàn bộ vòng nhân duyên được chấm dứt, giải thoát.

II. Nội dung chính

Bà-la-môn Jānussoni hỏi Đức Thế Tôn:

Thưa Tôn giả Gotama, có phải tất cả đều có ?

- Này Bà-la-môn, tất cả đều có, ấy là một cực đoan.

- Thưa Tôn giả Gotama, có phải tất cả đều không có ?

- Này Bà-la-môn tất cả đều không có, ấy là cực đoan thứ hai. Này Bà-la-môn, từ bỏ hai cực đoan ấy, Như Lai thuyết pháp theo trung đạo.

Do duyên vô minh nên có hành. Do duyên hành nên có thức... (như trên)... Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này.

Do sự ly tham, đoạn diệt vô minh ấy một cách hoàn toàn nên hành diệt. Do hành diệt nên thức diệt ... Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn này.

(Kinh Tương Ưng Bộ - Tập II Thiên Nhân Duyên – Chương I Tương Ưng Nhân Duyên – Phẩm V - Gia Chủ)

III. Câu đố

1. "Quan điểm nào dưới đây là câu trả lời của Ðức Phật cho vấn đề "Hữu, Vô" ?

a. Cuộc đời là huyễn hóa
b. Cuộc sống là một dòng sinh diệt liên tục.
Có ý thức thì có hiện hữu.
d. Tâm ma là giả, tâm Phật là chân.

2. Một tỳ kheo ni thời Ðức Phật nhìn giọt nước tan theo giòng suối tuệ giác bừng khởi. Vị ấy giác ngộ bởi vì:

a. Nước là một đề mục thiền định.
b. Thấy được sự thay đổi huyễn hóa của cuộc sống.
c. Rửa chân thấy được thân bất tịnh.
d. Ba câu trên đều sai.

3. Có 3 thí dụ: cây chuối không có lõi, hoa nở rồi tàn, khúc xương khô chó gặm. 3 thí dụ đó có thể dùng để nói 3 pháp theo thứ tự tương xứng dưới đây:

a. Vô thường, khổ não, vô ngã
b. Khổ não, vô ngã, vô thường
c. Vô thường, vô ngã, khổ não
d. Vô ngã., vô thường, khổ não.

Thứ Bảy, 22 tháng 4, 2006

No. 0890 NEW (Hạt Cát dịch)

Nghệ thuật Chép Kinh – Shakyo

trong Phật Giáo Nhật Bản

Chép Kinh là một sinh hoạt cổ xưa của Phật Giáo.

Có nhiều lý do để thực hành việc chép kinh. Một số người chỉ nghĩ đơn giản là để luyện tập thư pháp, một số khác nhắm vào việc phát triển khả năng tập trung, còn một số khác thì coi đó như một phương pháp hành thiền- làm tĩnh lặng tâm trí và mang lại trạng thái nội an sau những khi chìm nổi trong một ngày.

Ở một cấp độ sâu xa hơn, sự thực hành shakyo được nhìn nhận rất quan trọng như là một công đức - thực hành shakyo là tích lũy công đức cho mình hay hồi hướng cho một ai đó hoặc tạo phước thay thế cho người nào đó.

Phương pháp thực hành .

Chép Kinh – dù thực hiện với bất cứ mục đích nào, hoặc để tập trung, hành thiền hoặc tạo phước v.v… đều luôn luôn cần một sự thực hành trang trọng.

Kinh chép ra theo truyền thống được viết bằng bút lông và mực trên giấy tốt. Cũng có thể dùng bút thường nhưng nên dùng loại tốt. (Nên nhớ đây là một sự thực hành đặc biệt và trang trọng, không phải viết một danh sách đi mua sắm mà là tham gia một nghi lễ mang tính cách tôn giáo).

Ở Nhật, người ta có thể chấp nhận chép kinh từ bản Nhật Văn với dạng tự kanji, tuy nhiên, được ưa chuộng hơn là bản dạng tự bonji tức là Phạn văn – Sankrist

Có nhiều phương pháp thực hiện việc Chép Kinh. Dưới đây là một thí dụ:

- Chọn một bài kinh để chép (Bát Nhã Tâm Kinh là bài kinh ngắn nhất, rất thích hợp cho những người mới thực tập)

Bạn bắt đầu thanh lọc thân thể bằng cách rửa tay, súc miệng v.v.. Sau đó thì thực hành một kỹ thuật thiền đơn giản như là theo dõi hơi thở trong vài phút để quân bình tâm ý và cảm xúc .

Khi bạn cảm thấy đã sẵn sàng, hãy chấp tay xá lễ bài Kinh. Ðọc đề tựa bài kinh 3 lần.

Xua đuổi tất cả mọi tư tưởng trong tâm trí, vứt bỏ hết mọi vướng mắc và tập trung vào hiện tại. Lấy giấy, bút một cách trang trọng, và với chánh niệm, bắt đầu đồ theo bản kinh mẫu.

Người ta nói bạn nên Chép từ trái tim, có nghĩa là làm với tất cả tấm lòng chí thành và điềm tĩnh.

Chú tâm vào những gì bạn đang làm, hãy thong thả, rằng bạn nên để cho mỗi nét bút tự nó cũng tập trung như hành thiền.

Khi bạn đã chấm dứt bản kinh, một lần nữa chấp tay xá lễ Bản Kinh. Niệm đề tựa bài kinh 3 lần.

Nếu bạn thực hiện chép kinh với mục đích tạo phước, bây giờ bạn có thể hồi hướng phước đến mục đích mà bạn chọn lựa

Nếu bạn thực hiện chép kinh cho một người khác, bạn có thể cầu nguyện hướng tặng bản sao chép cho người ấy.

Nói theo cách khác, nếu bạn thực hiện việc chép kinh như là một sự chúc lành cho căn hộ mới thuê, bạn có thể đóng khung bản kinh sao chép và treo nó lên trên tường nhà mới của bạn.

Bản kinh mà bạn đã sao chép nên được đối đãi một cách trang trọng.

Nếu, vì bất cứ lý do nào, ở một vài điểm không thoải mái, bạn muốn hủy bỏ bản kinh thì việc này nên được thực hiện với vài nghi thức. Có lẽ bạn nên đốt vài nén hương, hồi hướng phước lành mà bạn đã tạo và sau đó thì cẩn thận đốt đi tờ giấy đã chép kinh và đổ đi tro tàn một cách nghiêm cẩn. Nếu như trong những bản thực tập có quá nhiều sai sót thì cũng nên hủy bỏ với sự nghiêm cẩn tốt hơn là chỉ đơn giản vo tròn rồi vất vào trong thùng rác.
No. 0891 NEW (Thông Thanh Khánh)

PHÚ QUÍ, HÒN ĐẢO CỦA

NHỮNG DI SẢN PHẬT GiÁO

Nằm ở vùng biển đông mênh mông sóng nước – đảo phú quí như con cá thu khổng lồ đang trồi lên mặt nước chở trên mình một bức tranh thiên nhiên với vốn di sản cổ xưa quí giá. Hòn đảo được hình thành là dấu tích của hỏa diệm sơn đã tắt qua nhiều lớp phun thạch của miệng hỏa sơn – chùy tạo thành núi cao nhô lên khỏi mặt biển với sự bồi tụ của lượng cát biển hàng năm tạo thành một loại đất màu nâu, vàng hay xám đen khiến ta liên tưởng đến nét rêu phong cổ xưa của những ngôi tháp cổ sừng sững giữa trời xanh biếc. Từ xưa hòn đảo này đã có nhiều tên gọi khác nhau đối với cộng đồng người Chăm đây là khu Kulau Koh Klong còn đối với cư dân Quảng Nam – Đà Nẵng thường gọi là Thuận Tịnh, cù lao Khoai Xứ hay cù lao Thu, tên gọi Phú Quí chỉ xuất hiện vào thời Thiệu Trị thứ 4 (1844) vì nơi đây có tầm quan trọng lớn đối với việc quan hệ buôn bán và khả năng quân sự.

Nền văn hóa hình thành khá sớm được đánh dấu bằng những di chỉ cổ xưa mà nhân dân nơi đây tìm thấy như rìu, chum vò lớn, đồ trang sức bằng đá với kỷ thuật chế tác khá tinh xảo. Căn cứ những di chỉ trên ta có thể đoán được chủ nhân của nền văn hóa Phú Quí thuộc văn hóa Sa Huỳnh tồn tại cách nay từ 3000 – 4000 năm. Nói thế để thấy con người đã khám phá ra hòn đảo này từ rất sớm, có thể nói tộc người Chăm từ Quảng Nam – Đà Nẵng trở lại thường gọi là thị tộc Dừa hay từ Phú Yên trở vào (thị tộc này có tên gọi là Cau), có phải vì là nơi giao lưu hành hóa – văn hóa từ khu vực Đông Nam Á hay không mà dư âm Phật giáo còn ảnh hưởng khá sâu sắc ở hòn đảo này. Từ tính cách đến tín ngưỡng, từ việc tế lễ đến sinh hoạt cộng đồng, đều mang âm hưởng tư tưởng Phật với bản sắc của ngư dân vùng biển. Tuy khiêm tốn về diện tích nhưng đảo Phú Quí đã có trên 6 ngôi chùa được xây dựng có nhiều ngôi chùa lâu năm như Thạch Lâm, Linh Quang….

Tiêu biểu cho 6 ngôi chùa trên Phú Quí, đó là cùa Linh Quang Tự: xét về thời gian chùa được xây dựng năm 1747 đời vua Lê Cảnh Hưng thứ 8 do các nhà sư theo các thương buôn từ đất liền ra tạo lập. Ban đầu chỉ là mái tranh vách nứa nhưng do sự đóng góp bảo trì của nhiều phật tử, ngôi chùa ngày một xây dựng trang hoàng và tôn nghiêm hơn. Theo cách đánh giá của nhiều nhà sử học, đây là chùa cổ nhất của tỉnh Bình Thuận, ngoài những nét cấu trúc hài hòa, chùa còn lưu giữ nhiều di vật cổ có giá trị nghệ thuật dân gian rất lớn. Nhiều pho tượng cổ với thể loại và chất liệu khá phong phú như đá, đất nung, gỗ, cùng nhiều nét chạm khắc sắc xảo, tài hoa những nghệ nhân đất đảo đã để lại cho đời sau vốn giá trị nghệ thuật lớn lao. Các pho tượng được thờ ở chùa Linh Quang phần lớn có niên đại vào thế kỷ XVII, XVIII, XIX, đặc biệt những bức tượng được xem có niên đại sớm hơn như tượng Quan Thế Âm Bồ Tát, Phật Nhiên Đăng… Xét về đặc điểm nhân chủng, tượng phật được lưu giữ tại chùa Linh Quang hầu như mang âm hưởng của tính cách tượng phật tìm thấy ở đại hữu, đồng dương thuộc nguồn gốc Phật giáo Đại Thừa Chămpa. Với khuôn mặt bầu tròn, môi dày mũi tẹt, đôi lông mày gần giao nhau cùng với sự phóng khoáng mô típ tạc trong thế đứng hay ngồi đưa tay về thiên hướng cảm thụ nghệ thuật hơn là để dùng trong việc tôn thờ đã cho ta thấy ảnh hưởng trong tâm thức tạc tượng Chămpa thật sự đang hiện diện trong vùng đảo xa khơi. Điều này là một trong những gợi hướng mở cho chúng ta hiểu thêm về đời sống tín ngưỡng – tôn giáo của người dân đất đảo và sự giao thoa tuyệt vời của hai nguồn văn hóa Chămpa – Đại Việt mà ngôi chùa Linh Quang là một biểu tượng cần được tìm hiểu. Một điều làm cho chúng ta chú ý hơn là sự xuất hiện của tượng Phật Nhiên Đăng được tôn thờ ở đây như là biểu hiện rõ hơn về cuộc sống ngư dân biển. Ngược lại đối với ngư dân khu vực ven biển miền Trung thường thấy rất ít khi xuất hiện quan niệm thờ hay tạc tượng Đức Phật Nhiên Đăng có lẽ đây là nét biểu hiện rõ nhất về Phật giáo Chămpa còn lại. Đến Phú Quí, đến Tâm Thanh nhìn lên trên đồi cao, Linh Quang Tự đứng sừng sững oai nghiêm với cổng Tam Quan, với tầm vóc nguy nga cho ta thấy sự sùng tín đạo Phật của người dân hun đúc tự bao đời. Hiểu được tầm vóc quan trọng đó nên vừa qua bộ văn hóa – thông tin đã công nhận chùa Linh Quang là di sản văn hóa quốc gia và trước đó nhiều thế kỷ vào thời Nguyễn các vua Nguyễn đã phong tặng gồm 10 sắc phong cho ngôi chùa này. Cuốn Thiền phả, loại văn tự cổ của chùa cũng đã ghi chép khá tỉ mỉ về sự hình thành của chùa cũng như sự truyền bá và thịnh hành Phật giáo trên đảo.

Có được như ngày hôm nay Phú Quí đã trải qua những biến suy rồi hưng thịnh, nhiều thế hệ với những công sức to lớn đã góp nên một Phú Quý như hiện nay, bản sắc văn hóa được bảo tồn, đời sống kinh tế ngày càng thêm ổn định. Tuổi trẻ Phú Quý với tinh thần Phật sự đang được củng cố và bồi đắp là niềm tin chắc chắn là sự bảo trì vốn văn hóa đặc sắc của quê hương mình góp chung vào nền văn hóa đa màu của dân tộc Việt Nam.

www.quangduc.com


Nhật Hành

Ngày: 22 tháng 04 năm 2006

Tri chúng: Giới Hương

Tri chúng điền khuyết: NguonDucHanh

Môn học: Luật Nghi Cư Sĩ

Bài học: “ Bốn pháp đem lại lợi ích tương lai ”


Giảng Sư Chính: ĐĐ Pháp Đăng

Giảng Sư Điền khuyết: TT Giác Đẳng

Vị Tăng hoặc Ni nói lời cầu nguyện đầu lớp học: ĐĐ Minh Hạnh

Xướng ngôn viên: TC đk, SC Dieu Tinh, Nhi Do Mai, Hat Cat, Chanh Hanh, Khanh Van ( ĐK: Nhu Phuc, Sangkhaly, TieuLongNu )
http://baidocmc.blogspot.com & http://bandieuhanh.blogspot.com

Người mở room: Hạt Cát, Nhi Do Mai (đk)

Người mở nhạc và kinh tụng: Hạt Cát, Nhi Do Mai (đk)

Người hoán chuyển bài cho Room: Hat Cat - Nhu Phuc (đk)

Người post bài cho Room: Tinh Tan, NguonĐucHanh

Người post và gửi bài riêng cho chư Tăng: Hat Cat, NguonDucHanh , Nhu Phuc

Trực room (op): TC đk & Nhu Phuc, Nhi Do Mai, Tieu Long Nu.

Thông báo (nếu có):
Lớp Luật Nghi Cư Sĩ

“ Bốn pháp đem lại lợi ích tương lai ”

Trích “Cư Sĩ Giới Pháp” của TK. Giác Giới
______________

Giảng sư: ĐĐ Pháp Đăng

I. Toát yếu: Những điểm chính

Ðức Phật thuyết cho Dīghajānu bốn pháp đem lại lợi ích cho tương lai:

1. Ðầy đủ niềm tin
2. Ðầy đủ giới hạnh
3. Đầy đủ bố thí
4. Đầy đủ trí tuệ

II. Nội dung chính

Bốn pháp lợi ích tương lai này cũng được Đức Phật thuyết cho thiện nam tử Dīghajānu, ở thị trấn Kakkarapatta xứ Vajjī.

1- Đầy đủ niềm tin (Saddhāsampadā), là thành tựu chánh tín; có đức tin đối với tam bảo, nhất là tin tưởng sự giác ngộ của Đức Như Lai.

2- Đầy đủ giới hạnh (Sīlasampadā), là thành tựu giới đức; từ bỏ sát sanh, từ bỏ trộm cắp, từ bỏ tà dâm, từ bỏ nói dối, từ bỏ uống rượu và chất say.

3- Đầy đủ bố thí (Cāgasampadā), là sống với tâm không bị cấu uế bởi xan tham, không bỏn xẻn, bố thí rộng rãi, thích chia sẻ khi được yêu cầu.

4- Đầy đủ trí tuệ (Paññāsampadā), là có trí tuệ, thành tựu trạch pháp, thấy rõ sự sanh diệt của các pháp, để thể nhập chánh kiến. [A.IV. 284]

III. Câu đố

1. Trong ba hạng người có niềm tin dưới đây, hạng người nào sẽ đạt được lợi ích nhiều hơn ?

a. Người có niềm tin giữ giới
b. Người có niềm tin bố thí
c. Người có niềm tin trí tuệ
d. Ba hạng người này có lợi ích bằng nhau.

2. Hạng người có trí nào dưới đây, khi thân cận sẽ giúp ta được tiến hóa nhiều ?

a. Người có trí và giàu niềm tin
b. Người có trí và trang nghiêm giới hạnh
c. Người có trí và rộng rãi hào phóng
d. Người có trí và thường hay khiển trách

3. Người có niềm tin sẽ có đặc điểm gì biểu hiện để nhìn biết là người có niềm tin ?

a. Thích bố thí
b. Thích gặp bậc giới hạnh
c. Thích nghe chánh pháp
d. Một trong ba điều trên.

Thứ Sáu, 21 tháng 4, 2006

No. 0882 NEW (Hạt Cát dịch)

Phật tử trẻ già Nhật Bản hưởng ứng phong

trào sao chép Tâm Kinh giãn xả tâm thức

Kamakura, Japan (ANTARA News/Kyodo) -- Từ “Sha” trong tiếng Nhật có nghĩa là sao chép, “Kyo” có nghĩa là Kinh Ðiển, tạm dịch vắn tắt là “Chép Kinh”. Một phong trào “ Shakyo - Chép Kinh” để tìm an tĩnh nội tâm và lánh xa những điều trống vắng tẻ nhạt của xã hội hiện đại đang nở rộ một cách âm thầm trong giới Phật tử Nhật Bản.

Kim Cốc Tự - Chùa Hasedera tại kinh đô cổ xưa của Thị Trấn Liêm Thương - Kamakura - thuộc quận Thần Nại Xuyên Kanagawa, đã tiếp nhận trên 50 du khách trong ngày thường đến đó để thực tập shakyo.

Họ làm việc trong im lặng, không gian tĩnh mịch của điện Biện Thiên chỉ còn nghe tiếng mài mực và tiếng bút cọ quét lên trên giấy.

Chỉ cần tốn khoảng 1000 đồng Yen, bất cứ ai cũng có thể đến tham dự sinh hoạt với loại hình nghệ thuật này. Người tham gia sẽ được cung cấp một bản Bát Nhã Tâm Kinh bằng Hán Ngữ được dịch từ Phạn Ngữ với 260 từ vựng được in nhạt màu để người ta đồ lên trên đó. Phải mất khoảng thời gian từ một đến hai giờ để hoàn tất bài Tâm Kinh.

Thực tập Shakyo sẽ cho hành giả một cảm giác an bình thanh thản, một thời điểm để chú tâm và giãn xả từ những áp lực của đời sống hằng ngày.

Một phụ nữ 30 tham dự lần đầu tiên nói “Trí óc tôi trở nên bình lặng khi tôi chăm chú đồ theo từng chữ một”. Một thanh niên 20, người mới bắt đầu thực tập shakyo kể từ khi bà mẹ giới thiệu cho cậu nói rằng “Tôi có thời gian để chú tâm vào chính mình.

Trong một vài năm qua, ngày càng nhiều phụ nữ tham gia vào phong trào này.

Một tu sĩ tại chùa Hasedera nói ngôi chùa là nơi cống hiến cho du khách sự an bình tâm thức và ngiều người đã đến để hàn gắn vết thương. Ông hy vọng shakyo sẽ phục vụ như một cơ hội dành cho du khách kinh nghiệm Phật Pháp. Gần một triệu ấn bản sách và CD liên hệ đến shakyo đã được bán ra theo tin đã đưa.

Nhưng Hide Yuki Yokoyama, quản trị biên tập viên thuộc bộ phận xuất bản của công ty Shogakukan Inc. nói rằng phương thức shakyo mới nhất đang nở rộ hiện nay khác với những gì trong quá khứ.

Anh giải thích rằng những người đang thực hiện shakyo không chỉ theo đuổi mục đích an bình mà còn dùng nó để giữ cho đầu óc được linh hoạt. Công ty Shogakukan đã phát hành một quyển sách nói về sự liên hệ giữa việc chép Tâm Kinh và hoạt động của não bộ hồi tháng Ba.

Một loạt 160 bài thử nghiệm trong một công trình nghiên cứu hợp tác giữa nhà xuất bản Gakken Co. và Ðại Học Tohoku về tình trạng tâm thần của người cao niên cho thấy rằng shakyo là phương pháp hữu hiệu nhất để hoạt hóa não bộ. Phó Chủ Nhiệm Eiji Furukawa nói ông dự trù rằng với sự gia tăng cư dân cao tuổi ở Nhật Bản, shakyo sẽ tiếp tục vai trò như một phương pháp tránh né hay ngăn chận sự mất trí nhớ nơi người già.

Lứa tuổi trung niên và lão niên, những người trước kia không hứng thú với việc Chép Kinh gần đây đã bắt đầu thấy có dấu hiệu mua sắm sách vở trên “Shakyo”
No. 0888 NEW (ÐÐ Uyên Minh)

TRƯỞNG LÃO

SHWEHINTHA SAYADAW

Ngài sinh ngày 14 tháng 12 năm 1893 tại Henzada, Miến Ðiện. Thọ giới Sa Di năm 14 tuổi (1907) với hòa thượng Mi Kyaung Ye, ngài được đặt pháp danh là Shin Paduma. Năm 1909 ngài tái thọ Sa Di giới rồi về học ở Moulmein và được ngài U Vayama Sayadaw đổi cho pháp danh mới là Ashin Buddhaghosa.

Năm 1911, ngài lại được trưởng lão Htan Tabin Sayadaw đổi cho pháp danh mới là Shin Pandita. Năm 1913 ngài thọ Ðại Giới với tôn giả Minkyaung Sayadaw tại giới đàn ở Thanedaw Gyi rồi vài tháng sau tái thọ Ðại Giới tại Silavitaw Dhami với ngài U Sila Sayadaw.

Sở dĩ có những thay đổi gần như lập dị như vậy trong đời tu là do ngài có một quan niệm rất nghiêm ngặt về giới luật. Ngài Shwehintha đã lần lượt theo học ở các học viện nổi tiếng nhất ở Moulmein, Rangoon và Mandalay với các bậc trưởng lão thời danh. Cuối cùng ngài về sống ở học viện Shwehintha hơn mười năm như là một trong những tăng sinh đầu tiên và sau đó trở thành giảng sư của trường.

Năm được 14 hạ tỳ kheo, ngài về Sagaing Hills để tu thiền và cũng để điều dưỡng sức khỏe. Năm 1928 ngài xây dựng trung tâm Shwehintha nằm về phía đông của Sagaing Hills. Nhờ khí hậu ở Sagaing dễ chịu, sức khỏe của ngài Shwehintha cũng khá hơn. Ngài đi khất thực mỗi bữa và tuần nào cũng đi bộ tới Mahagandayone Gyaung để chủ trì các buổi sinh hoạt Phật sự Chủ Nhật.

Năm 1935 các học trò của ngài Shwehintha đã mua 12 mẫu đất ở phía Nam Shwehintha Gyaung để xây dựng thiền viện. Năm 1940 ngài đã cùng 25 vị tỳ kheo nữa về nhập hạ trong mùa an cư đầu tiên tại đây. Ngài Shwehintha Sayadaw rất giỏi thi văn nói chung. Từ trẻ đến khi lớn tuổi, ngài đã có một số lượng lớn các tác phẩm thi ca và truyện ngắn in thành sách hoặc đăng tải trên các báo chí. Nhưng ngài chỉ xem đó là những gì phụ thuộc bên cạnh hàng chục công trình Phật học (trên ba mươi cuốn) đã ấn hành.

Với những đóng góp to lớn cho Phật giáo, cộng thêm một đạo hạnh nổi tiếng nghiêm cẩn, năm 1960 ngài Shwehintha Sayadaw được chính phủ và giáo hội trao tặng tước hiệu Aggamahapandita và vào năm 1979 tước hiệu Abhidhaja Bhaddantaguru (Ðệ Nhất Tôn Sư Tăng Già) và ngồi ghế Pháp Chủ (Supreme Chief) của Phật Giáo Miến Ðiện cho đến lúc qua đời vào năm 1993, hưởng thọ tròn thế kỷ.

Nhật Hành

Ngày: 21 tháng 04 năm 2006

Tri chúng: Tinh Tấn

Tri chúng điền khuyết: Bich Thu

Môn học: A Tỳ Đàm

Bài học: Đầu đề tam _ Tam đề bị thủ (upādinattika)

Giảng Sư Chính: TT Tuệ Siêu

Giảng Sư Điền khuyết: TT Giác Đẳng


Vị Tăng hoặc Ni nói lời cầu nguyện đầu lớp học: ĐĐ Minh Hạnh

Xướng ngôn viên: Dẫn Nhập hay MC1: SC Dieu Tinh, Tieu Long Nu, Hat Cat.
Tin Tức: TC dk, Nguon Đuc Hanh, Nhi Do Mai, Sangkhaly (ĐK: Mindvox, Anitya)
http://baidocmc.blogspot.com & http://bandieuhanh.blogspot.com

Người mở room: Hat Cat, Dieu Quang, Nhi Đo Mai

Người mở nhạc và kinh tụng: Dieu Quang, Hat Cat, Nhi Đo Mai, Anitya

Người hoán chuyển bài cho Room: Hat Cat – Nhu Phuc (đk)

Người post bài cho Room: Mindvox, Nhu Phuc, NguonĐucHanh (đk)

Người post và gửi bài riêng cho chư Tăng: Hat Cat, NguonDucHanh , Nhu Phuc

Trực room (op): TC đk & Nhu Phuc, NguonDucHanh, TieuLongNu.

Thông báo (nếu có):