Thứ Sáu, 24 tháng 3, 2006

Lớp Luật Nghi Cư Sĩ

“Năm pháp tánh của cư sĩ”

Trích “Cư Sĩ Giới Pháp” của TK. Giác Giới
______________

Giảng sư: ĐĐ Pháp Đăng

I. Toát yếu: Những điểm chính

a. Năm tính hạnh khiến người cư sĩ trở thành một bậc cao quý

b. Có niềm tin, có giới hạnh, không tin bói toán đoán điềm, không tìm đối tượng đáng cúng dường ngoài Tam Bảo, phụng sự Tam Bảo trước hết.

c. Người cư sĩ cần nỗ lực hành tập năm pháp tánh này.

II. Nội dung bài học

Ðức Thế Tôn dạy :

"Này các tỳ kheo, một cận sự (Upāsaka) thành tựu năm pháp này sẽ là cư sĩ châu báu, cư sĩ hồng liên hoa, cư sĩ bạch liên hoa. Thế nào là năm ? Ðó là có niềm tin (saddho hoti), có giới hạnh (sīlavā hoti), không tin bói toán đoán điềm (Akotuhalaman°galiko hoti), không tìm đối tượng đáng cúng dường ngoài tam bảo (na ito bahiddhā dakkhineyyam. gavesati), phụng sự tam bảo trước hết (idha ca pubbakāram. karoti). [A.III.206]

Năm pháp tánh này là tánh hạnh ưu việt của người cư sĩ, thành người cư sĩ cao quí, người cư sĩ thanh lương trong sáng.

1- Có niềm tin. Tức là có sự tin tưởng đối với Phật, Pháp, Tăng, không hoài nghi; có niềm tin vững chắc nơi tam bảo.

2- Có giới hạnh. Tức là an trú trong ngũ giới hay bát quan trai giới, thọ trì giới một cách nghiêm túc.

3- Không tin bói toán, đoán điềm. Tức là người cư sĩ chơn chánh chỉ tin vào luật nhân quả nghiệp báo, không tin vào sự may rủi do sao hạn chiếu mệnh, hay điềm báo tốt xấu.

4- Không tìm đối tượng đáng cúng dường ngoài tam bảo. Tức là người cư sĩ đệ tử Phật dù có bố thí đến các ngoại đạo, chỉ vì lòng bi mẫn giúp đỡ họ, chứ không đặt họ ở địa vị bậc đáng cúng dường ngang hàng với tam bảo.

5- Phụng sự tam bảo trước hết. Tức là luôn luôn ưu tiên cho tam bảo từ việc nhỏ đến việc lớn, phục vụ tam bảo trước rồi mới thực hiện cho ngoại đạo sau nếu cần làm.

III. Từ Vựng

1. Chánh tín (Saddhā) là niềm tin chơn chánh: tin nơi Đức Phật, Giáo Pháp, Tăng Chúng, tin nhân quả nghiệp báo, không mê tín dị đoan, bói toán v.v... niềm tin có trí tuệ.

2. Tà tín (Assaddhā) là niềm tin sai lầm, không tin nơi Tam bảo, không có đức tin nơi nhân quả nghiệp báo, tin vào sự bói toán, hên xui may rủi. Đó là niềm tin không có trí tuệ, không chân chánh.

IV. Câu đố

1- Người cư sĩ chân chánh không tin vào bói toán đoán điềm, bởi lý do nào ?

a. Bởi niềm tin ấy không dẫn đến trí tuệ tiến hóa
b. Bởi sự bói toán đoán điềm là chuyện không có thật.
c. Bởi niềm tin ấy làm cho tâm thụ động tiêu cực.
d. Bởi người phật tử chỉ tin những gì phát huy tinh tấn và trí tuệ.

2- Người Phật tử khi bố thí đến các ngoại đạo, nên có thái độ tâm lý như thế nào mới hợp lẽ :

a. Nghĩ rằng “Người này cũng cần được giúp đỡ”.
b. Nghĩ rằng “Người này cũng là đối tượng để ta diệt lòng bỏn xẻn”
c. Nghĩ rằng “Người này cũng là người tu hành đáng để cúng dường”.
d. Tư tưởng a và b hợp lẽ.

3- Niềm tin của người phật tử, là như thế nào ?

a. Có lòng tin nơi Phật, Pháp, Tăng.
b. Có lòng tin về nhân quả nghiệp báo
c. Gồm cả hai điều trên
d. Chỉ một trong hai.

No. 0829 NEW (Hạt Cát dịch)

Ngôi chùa lớn nhât Âu Châu

với những dự án tiếp theo

by Julia Jironkina, The Buddhist Channel, March 24, 2006

Elista, Kalmykia (Russia) -- Các công trình đang được tiến hành tại ngôi chùa mới xây ở Elista, thành phố thủ đô của nước Cộng Hòa Phật Giáo Nga Sô Kalmykia. Không bao lâu nữa nơi này sẽ sẵn sàng phòng ốc cho quan khách và là trú xứ của Ðức Ðạt Lai Lạt Ma trong suốt thời gian Ngài đến thăm viếng nước Cộng Hòa Phật Giáo thuộc miền nam Nga Sô.

Những nỗ lực quan trọng là đúc chạm 17 pho tượng của các đại luận sư học giả thuộc truyền thống học thuật Nalanda chung quanh ngôi chùa vàng Elista xây dựng trong 8 tháng như một phép lạ làm ngạc nhiên nhiều người tại Nga Sô cũng như ở nước ngoài.

Ðức Ðạt Lai Lạt Ma, người được thỉnh cầu chúc phúc cho ngôi chùa tương lai trước khi rời Eliata trong chuyến viếng thăm Kalmykia đáng nhớ năm 2004, đã đề nghị chỉ tôn trí những pho tượng làm cho ngôi chùa trở nên một tính cách thuần nhất.

Ngài nói trong một buổi họp mặt với vị Tăng Trưởng Phật Giáo Kamykia, Telo Tulku Rinpoche và Tổng thống Kirsan Iliumzhinov tại Dharamsala hồi tháng Ba năm ngoái “ Tôi nghĩ rằng đó sẽ là ngôi chùa đầu tiên nơi quý vị có thể tìm thấy tôn tượng khắc chạm tiêu biểu của tất cả 17 trí giả, trước đó người ta nói chỉ có 8 vị, tôi thêm vào vài vị, vì vậy, ngôi chùa này sẽ như một hình thức chính thức xác định chủ điểm của tôi".

17 pho tượng học giả luận sư lỗi lạc Nalanda, những vị biên soạn chú giải giáo lý của Ðức Thích Ca, là một nét đặc thù quan trọng đối với Ðức Ðạt Lai Lạt Ma, người nhìn nhận Phật Giáo Tây Tạng chính là truyền thừa của học thuật Nalanda, một trung tâm học thuật quan trọng của Ấn Ðộ đã bị Hồi giáo tàn hại sau khi các học giả truyền đạt lại tài năng và kiến thức cho Tây Tạng. Từ Tây Tạng, học thuật truyền thống Nalanda đã lan rộng sang Mông Cổ và Phật Giáo Nga Sô.

Hoàn tất trước tiên sẽ là pho tượng của Ngài Bồ Tát Long Thọ, tác giả “Trung Quán Luận” mà Ðức Ðạt Lai Lạt Ma đã diễn giảng trong kỳ lễ Quán Ðảnh vừa rồi ở Amaravati trước số đông thính giả mà Phật Giáo Nga Sô cũng đã góp phần tham dự.

Sau đó sẽ là tượng của các Ngài Vô Trước, Tịch Thiên, Nguyệt Xứng và những học giả khác, những tác giả mà lý thuyết sẽ được đưa vào chương trình nghiên cứu, chương trình mà Tăng Trưởng Phật Giáo Nga Sô dự định thành lập ở ngôi chùa mới. Các pho tượng của những học giả Nalanda được tôn trí chung quanh ngôi chùa như là một sự thực hiện mong ước của Ðức Ðạt Lai Lama sẽ là một biểu tượng của việc phục hồi ngành giáo dục Phật Giáo cổ điển tại Nga Sô.

No. 0830 NEW (Tinh Tấn dịch)

Giáo Hội Phật Giáo Tích Lan

tổ chức đại lễ xuất gia

Gulf Times (AFP), ngày 14 tháng 3, 2006

Colombo, Tích Lan -- Tích Lan sẽ tổ chức một đại lễ xuất gia để đánh dấu sự du nhập của Phật Giáo vào đảo Tích Lan này cách đây 2,550 năm cũng như bố trí hàng chục tu viện đã đương đầu với tình trạng đóng cửa , một nhà tổ chức đã nói hôm qua.

Khởi sự ngày trăng tròn đầu tiên của tháng Năm, 2,550 tu sĩ Phật Giáo sẽ được thọ giới trong một dự án cao cả để làm tăng trưởng Tăng đoàn đã bị giảm sút, Tỳ Kheo Missaka Kamalasiri đã nói.

“Chúng tôi thiếu hụt tăng sĩ một cách trầm trọng ở trong nước và vài tu viện đã đóng cửa vì lý do này. Chúng tôi hy vọng có 2,550 vị gia nhập Tăng đoàn trong vòng một năm.” Đại Đức Kamalasiri là thư ký tổ chức lễ kỷ niệm Phật Giáo đã nói.

Phật Giáo truyền đến Tích Lan từ nước láng giềng Ấn Độ. Giáo Hội Phật Giáo Nguyên Thủy tại Tích Lan, hình thức chính thống của Phật Giáo, có những sự liên kết chặt chẽ với Ấn Độ, Nepal, Miến Điện, Thái Lan và Nhật Bản.

Đại Đức Kamalasari nói rằng mặc dù đại lễ xuất gia trước đây vào năm 2001 bị thất bại, đất nước đã đạt được các thứ bậc trong Tăng Đoàn Phật Giáo trong thời gian này để đánh trống ủng hộ và thu hút giới trẻ khắp quốc gia.

Chư Tăng Phật Giáo không được trả lương và phải tùy thuộc vào những sự cúng dường của tín chúng. Tuy nhiên, một phần lớn Sa di có sự giáo dục cao hơn nhờ vào sự ủng hộ của các thiện tín của tu viện.

Đại Đức Kamalasiri đã nói rằng có khoảng 25,000 Chư Tăng trong dân số 19.5 triệu người của quốc gia này. Khoảng 70 % dân số là Phật tử.

Chính quyền đã nói rằng vật giá đắt đỏ đã ngăn trở sự cúng dường đến các tu viện và vài nơi tôn thờ đã bị khó khăn trong việc chu cấp cho hàng tăng lữ cũng như các thiện tín làm việc cho tu viện.

Nhật Hành

Ngày: 24 tháng 03 năm 2006

Tri chúng: Tinh Tấn

Tri chúng điền khuyết: Chanh Hanh

Môn học: A Tỳ Đàm

Bài học: ĐẦU ĐỀ TỔNG TRÌ PHÁP - "ĐẦU ĐỀ TAM"

Giảng Sư Chính: TT Tuệ Siêu

Giảng Sư Điền khuyết: TT Giác Đẳng


Vị Tăng hoặc Ni nói lời cầu nguyện đầu lớp học: ĐĐ Minh Hạnh

Xướng ngôn viên: Dẫn Nhập hay MC1: SC Dieu Tinh, Tieu Long Nu, Hat Cat.
Tin Tức: TC dk, Nguon Đuc Hanh, Nhi Do Mai, Sangkhaly (ĐK: Mindvox, Anitya)
http://baidocmc.blogspot.com & http://bandieuhanh.blogspot.com

Người mở room: Hat Cat, Dieu Quang, Nhi Đo Mai

Người mở nhạc và kinh tụng: Dieu Quang, Hat Cat, Nhi Đo Mai, Anitya

Người hoán chuyển bài cho Room: Hat Cat – Nhu Phuc (đk)

Người post bài cho Room: Mindvox, Nhu Phuc, NguonĐucHanh (đk)

Người post và gửi bài riêng cho chư Tăng: Hat Cat, NguonDucHanh , Nhu Phuc

Trực room (op): TC đk & Nhu Phuc, NguonDucHanh, TieuLongNu.

Thông báo (nếu có):
Lớp A Tỳ Đàm

ĐẦU ĐỀ TỔNG TRÌ PHÁP - "ĐẦU ĐỀ TAM"
______________

Giảng sư: TT Tuệ Siêu

I. Toát yếu: Những điểm chính

a. Là một trong những pháp môn trong Bộ Pháp Tụ.

b. Là một thể tài gồm ba câu pháp. Có hai loại: Ðầu Ðề Vô Dư và Ðầu Ðề Hữu Dư.

c. Đầu Đề Tam gồm 22 đầu đề.

II. Nội dung bài học

Giới thiệu: Đầu Đề Tam (Tikamātikā) là một trong những pháp môn được đề cập đến ở Bộ Pháp Tụ, tạng Vi Diệu Pháp.

Gọi là Đầu Đề Tam có nghĩa là một thể tài gồm ba câu pháp, và chi pháp của ba câu ấy có thể kể trọn tất cả pháp chân đế (tâm, tâm sở, sắc pháp, níp bàn), hoặc có những thể tài chỉ nêu chi pháp một phần của pháp chân đế. Trường hợp thể tài có chi pháp bao hàm thì gọi là "Đầu đề vô dư"; Trường hợp thể tài có chi pháp chỉ phần nào của pháp chân đế thì gọi là "Đầu đề hữu dư". Đầu Đề Tam gồm 22 đầu đề là :

1- Tam đề thiện
2- Tam đề thọ
3- Tam đề dị thục quả
4- Tam đề bị thủ
5- Tam đề phiền toái
6- Tam đề tầm
7- Tam đề hỷ
8- Tam đề kiến đạo
9- Tam đề hữu nhân kiến đạo ưng trừ
10- Tam đề nhân tích tập
11- Tam đề hữu học
12- Tam đề hy thiểu
13- Tam đề cảnh hy thiểu
14- Tam đề ti hạ
15- Tam đề tà tánh
16- Tam đề đạo cảnh
17- Tam đề dỉ sanh
18- Tam đề quá khứ
19- Tam đề cảnh quá khứ
20- Tam đề nội phần
21- Tam đề cảnh nội phần
22- Tam đề hữu kiến

Đơn cử một đầu đề "Tam Đề Thiện" Tam Đề Thiện là thuộc đầu đề vô dư, trong đó có 3 câu pháp như sau:

a/ Các pháp thiện (Kusalā dhammā)

b/ Các pháp bất thiện (Akusalā dhammā)

c/ Các pháp vô ký (Abyākatā dhammā)

"Các pháp thiện" là những pháp có tính chất tốt đẹp, lành mạnh, khéo léo, không tội lỗi, là nhân lành tạo quả tốt. Các pháp thiện chỉ thuộc về danh pháp có chi pháp là 37 tâm thiện và 38 tâm sở tương ưng.

"Các pháp bất thiện" là những pháp có tính chất xấu, không lành mạnh, không khéo léo, có lỗi lầm, là nhân tạo quả xấu. Các pháp bất thiện cũng chỉ thuộc về danh pháp. Có chi pháp là 12 tâm bất thiện và 27 tâm sở tương ưng.

"Các pháp vô ký" là những pháp trung tính, phi thiện, phi bất thiện, phi nhân tạo quả, các pháp vô ký có phần thuộc danh pháp, có phần thuộc sắc pháp. Chi pháp của pháp vô ký là 72 tâm vô ký, 38 tâm sở tương ưng tâm vô ký, 28 sắc pháp và Níp bàn.

Như vậy chi pháp của 3 câu trong tam đề thiện bao hàm tất cả pháp chân đế.

III. Câu đố vui :

1- Điều nào dưới đây định nghĩa chính xác về pháp thiện :

a/ Pháp có tính chất tốt đẹp
b/ Pháp phi bất thiện
c/ Pháp thành nhân tốt tạo quả tốt
d/ Pháp không đáng bị người trí khiển trách.

2- Việc nào làm không có tội với luật pháp xã hội đều không bị quả khổ đau phải chăng ?

a/ Đúng vậy, làm điều không phạm pháp thì không bị tù tội.
b/ Không đúng, luật nghiệp báo khác với luật xã hội
c/ Có thể đúng hoặc không đúng, tùy việc làm.
d/ Cả ba điều trên không chấp nhận được

3- Người làm thiện đôi khi bị chỉ trích, như vậy có thể nói là pháp thiện vẫn có tính chất lầm lỗi phải chăng ?

a/ Không phải, pháp thiện luôn luôn có tính chất vô tội, không khuyết điểm.
b/ Không phải, người làm thiện bị chỉ trích chỉ vì người xấu không biết giá trị của thiện.
c/ Đúng vậy, vì người phàm khi làm thiện vẫn chưa toàn diện, còn khuyết điểm.
d/ Đúng vậy, đôi khi làm điều thiện vẫn gây tác hại cho người khác.

No. 0793 NEW (Thiện Ngự, Nhị Ðộ Mai dịch)

Ngài Tăng Trưởng Phật Giáo Anh Quốc

tiếp nhận Anh Quốc Đế chế Huân Công

bội tinh do Nữ Hoàng trao tặng

MC1: ..............

Theo tờ Lanka Everything ngày 27 tháng 02, 2006

Luân đôn, Anh quốc -- Trưởng lão Tiến sĩ M.Vajiragnana, Ðức Tăng Thống Phật Giáo Anh quốc, Sư Cả Tu Viện London Buddhist Vihara nhận được Huân Công bội tinh Đế chế Anh Quốc do nữ hoàng Anh trao tặng tại Lâu đài Buckingham. Phần thưởng này ghi nhận những công lao đóng góp của Ngài trong việc tham gia xây dựng tình giao hảo của nhiều tổ chức trong quốc gia, bằng cách thúc đẩy lối sống hòa hảo, thân thiện của nhiều tôn giáo tại Anh quốc.

Trưởng lão tiến sĩ Vajiragnana sinh tại Sri Lanka. Thọ giới sadi tại chùa làng Hippola vào ngày 23.03.1943 ở tuổi 14 sau đó thọ giới tỳ kheo tại chùa Malwatuvihara ở thành phố Kandy vào ngày 11 tháng 05 năm 1949 vào lúc 20 tuổi. Đầu tiên ngài tu học giáo pháp tại Hippola sau đó tại the Pratiraja Pirivena ở Agalawatte 2 năm sau đó vào đại học, sau đó ngài học 9 năm tại học viện Vidyodaya Pirivena ở Colombo.

Vào năm 1955 ông tốt nghiệp văn bằng Pandit của Xã Hội Học Phưong Đông. Và sau dó học 2 năm tại PirivenaTeachers’ Training College tại Ratmalana, sau đó ngài được bổ nhiệm làm hiệu trưởng tại Parama Dhamma Cetiya Pirivena tại Ratmalana.

Vào năm 1961 ông tiếp tục học trình tại Ấn Độ, hoàn tất văn bằng 2 năm tại Sanskrit University of Benarea, và M. A. môn ngôn ngữ Sanskrit tại Jadavpur University, Calcutta. Ông trở lại Tích Lan và tiếp tục giảng dạy tại Pirivena Teachers’ Training College tại Ratmalana. Vào 1966, ông đến Âu Châu lần đầu tiên khi được bổ nhiệm làm Tỳ Khưu Phụ Tá tại London Buddhhist Vihara, tu viện cổ xưa nhất ở phương Tây. Ông phải đối diện với những khó khăn trong việc giảng dạy Phật pháp trên những vấn đề, đối với Ngài, một ngôn ngữ ngoại quốc – Anh Ngữ- trong một đất nước thực dụng Anh Ngữ nơi mà Phật giáo ít được biết đến, ít được thông hiểu và tất nhiên không có ảnh hưởng lớn như Tích Lan.

Mặc dầu có nhiều khác biệt trong văn hóa và ngôn ngữ. Trưởng Lão Vajiragnana đã thành lập chương trình giảng dạy Phật Pháp và ngôn ngữ Pali, chương trình lôi cuốn thu hút nhiều người dân gốc Anh, những người vốn không phải Phật Tử. Vào năm 1974 Ngài trở thành chủ tịch Hiệp hội Phật Giáo Anh Quốc. Vào 1980 Trưởng Lão được mời trở lại Tích Lan làm hiệu trưởng tại Pirivena Teacher’s Training College tại Ratmalana. Rồi vào năm 1984, Trưởng lão trở lại Anh Quốc trụ trì tu viện London Buddhist Vihara. Một trong những nhiệm vụ của ông là phục hồi và phát triển chương trình giảng day, và năm 1986 Ngài được mời bắt đầu giảng dạy Phật Pháp tại Ðại Học Birkbeck, vốn là cơ sở đặc cách của trường Đại Học Luân Đôn.

MC2: ..............

Suốt thời gian làm việc của ông taị Anh Quốc, Trưởng lão tiến sĩ Vajiragnana đã làm việc không mệt mỏi để truyền bá Phật Pháp đến xã hội phương Tây, luôn luôn nêu cao tín hạnh và nguyện Vào 1987 ông trở thành hội viên sáng lập hệ thống Liên Tôn tại Anh Quốc .Mục đích của hội nhằm đẩy mạnh và phát triển hoàn hảo và đoàn kết giữa nhiều tôn giáo khác nhau lòng từ bi và đoàn kết lẩn nhau giữa sự khác biệt về niềm tin và luân lý của nhiều cộng đồng sống tại Anh Quốc. Tổ chức kết hợp 9 tôn giáo lớn:Bah’ai. Phật Giáo, Cơ Đốc Giáo, Ấn Độ Giáo, Hồi Giáo, Kỳ Na Giáo, Do Thái Giáo, Sikhism và Đạo Thờ Lửa. Ngài đóng vai trò chỉ đạo trong việc thành lập các tổ chức các cấp địa phương, vùng và quốc gia, kết nối 80 tổ chức lại với nhau, kể cả các đại diện giáo hội từ tất cả các tôn giáo. Thêm vào viêc là thành viên sáng lập, Ngài vừa là Úy ban chấp hành, vừa là quản trị .

Trong 20 năm, Ngài đã đại diện Phật giáo trong buổi họp thường niên Commonweath Day Observance thuộc Westminster Abbey. Ngài cũng được mời tham dự các buổi họp hoàng gia quan trọng, như lễ hội Queen’s Kim Khánh và sinh nhật 100 tuổi nữ hoàng Anh Elizabeth. Ngài cũng là khách của Tổng Giám mục Rt. Rev. George Carey, tham dự nhiều cuộc hợp không chính thức với tiến sĩ Carey nhằm thảo luận những vấn đề liên tôn. Ngài cũng được Thủ Tướng Rt,Hon.Tony Blair mời tham dự cuộc họp khẩn các nhà lãnh đạo tôn giáo để thảo luận những vấn đề liên hệ đến tôn giáo và chính trị gia tăng tình trạng tàn phá bởi cuộc khủng bố tại Mỹ vào ngày 11 tháng 9, 2001Ng ài c ũng đại diện cho cộng đồng Phật Tử tham dự Ngày Tưởng Niệm tại Cenotaph thuộc Whitehall.

Trưởng lão Tiến Sĩ Vajiragnana đã liên tục được thỉnh cầu diễn giảng không những chỉ ở tại Anh Quốc mà ngoài ra còn nhiều nơi khác trên thế giới. Vào năm 1987, Ngài được Giáo Hội Công giáo mời tham dự đóng góp trong hội nghị Liên Tôn chuyên đề hòa bình tại Ý. Năm 1996 được mời tham dự hội nghị Gethsemane Encounter, một cuộc hội thoại về tâm linh giữa Phật Tử và nhiều tín đồ Công giáo tại Gethsemane Abbey, Kentucky. USA. Ngài tham dự rất nhiều hội nghị “đối thoại Phật Giáo Cơ Ðốc Giáo tại University of Purdue in Kentucky, USA . "Năm 1999 thành lập hội từ thiện Rahula Trust với mục đích giúp đỡ không phân biệt văn hóa hay tôn giáo của các trẻ em có được trình độ giáo dục tốt, hiện tại hội đang yểm trợ vài trăm trẻ em tại Tích Lan, Nepal và Kenya. Ngài cũng là tác giả của nhiều quyển sách, sách bỏ túi và bài báo quan tâm đến tất cả các khía cạnh của tín ngưỡng Phật Giáo.

Thứ Tư, 22 tháng 3, 2006


Nhật Hành

Ngày: 23 tháng 03 năm 2006

Tri chúng: Mindvox

Tri chúng điền khuyết: Nhu Khanh

Môn học: Trung Bộ Kinh

Bài học: Bài kinh 60: Không gì chuyển hướng

Giảng Sư Chính: TT Tuệ Siêu

Giảng Sư Điền khuyết: ĐĐ Pháp Đăng


Vị Tăng hoặc Ni nói lời cầu nguyện đầu lớp học: ĐĐ Minh Hạnh

Xướng ngôn viên: TC đk, Hat Cat, Nhu Phuc, Sangkhaly, Chanh Hanh, (ĐK: Nguon Đuc Hanh, Nhi Đo Mai, Tieu Long Nu, Anitya, Tinh Tan (xin miễn đọc tin tức trừ khi bài của TT, vì phải thâu TBK, Anitya) http://baidocmc.blogspot.com/

Người mở room: Hạt Cát, Mindvox (đk)

Người mở nhạc và kinh tụng: Hạt Cát, Mindvox (đk)

Người hoan chuyen bài cho Room: Nhu Phuc - Hat Cat (đk)

Người post bài cho Room: Mindvox - Chanh Hanh, SC Diệu Tịnh (nếu có vào được sẽ phụ post những câu Pāli trong TBK), Nhu Phuc.

Người post và gửi bài riêng cho chư Tăng: Hat Cat, Nguon Đuc Hanh, NhuPhuc

Trực room (op): TC đk & Nhu Phuc, Tinh Tan, NguonDucHanh, Nhi Do Mai, Tieu Long Nu.

Thông báo (nếu có):
TRUNG BỘ KINH - BÀI KINH SỐ 60

Không gì chuyển hướng
______________

Giảng sư: TT Tuệ Siêu

I. TOÁT YẾU

Apannaka Sutta - The Incontrovertible teaching.

The Buddha gives a group of brahmin householders an "incontrovertible teaching" that will help them steer clear of the tangle in contentious views.

Giáo lý không thể tranh cãi.

Phật giảng cho một nhóm gia chủ là bà la môn một giáo lý không ai cãi được, để giúp họ khỏi mắc kẹt vào sự rối ren của các quan điểm tranh chấp.


II. TÓM TẮT

Phật trình bày cho các gia chủ làng Sala [1] một số quan điểm mâu thuẫn nhau của các sa môn bà la môn đương thời, và dạy một pháp môn không thể tranh cãi [2]. Ngài đề cập năm tà thuyết đương thời:

1. Chấp hư vô luận hay duy vật cực đoan
2. Chấp không có đời sau và quả báo;
3. Chấp không có quả báo các nghiệp lành dữ;
4. Thuyết định mệnh, vô nhân; [3]
5. Không các cõi vô sắc;
6. Không có Hữu diệt hay Niết bàn.

Mỗi chủ trương đều có một lập trường ngược lại với nó. Cuối cùng Ngài đề cập bốn hạng người như ở kinh 51: tự hành khổ, hành khổ người, hành khổ cả mình lẫn người, và không hành khổ mình, người.

Người chủ trương 3 thuyết đầu [4], thì có thể từ bỏ ba thiện pháp về thân, ngữ, ý, thực hành ba ác pháp về thân ngữ ý; vì họ không thấy sự nguy hiểm, hạ liệt của bất thiện pháp và lợi ích của thiện pháp [5]. Họ cũng nói trái ngược với thánh giáo, vì các bậc thánh đều biết có đời sau. Vậy là do duyên tà kiến Phi hữu [6], khởi lên các ác pháp: tà tư duy, tà ngữ, tà nghiệp, sự đối nghịch với các bậc thánh, sự thuyết phục chống lại diệu pháp, sự khen mình chê người. Những người chủ trương ngược lại thì có chính kiến, và do chính kiến, khởi lên các thiện pháp: chính tư duy, chính ngữ, chính nghiệp, không đối nghịch các bậc thánh, thuyết phục thuận với diệu pháp, không khen mình chê người.

Về thuyết đầu "không có đời sau", người có trí sẽ nghĩ rằng: nếu chủ trương ấy là đúng, thì người chủ trương khi mạng chung sẽ cảm thấy an toàn [6], vì không có đời sau [7], nên việc ác họ đã làm không có quả báo; nhưng hiện tại họ vẫn bị người trí quở trách. Còn nếu chủ trương của họ sai, thì họ bị mất mát cả hai phương diện [8], hiện tại bị người trí quở trách, tương lai còn chịu quả báo, sinh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Ngược lại, người chủ trương Hữu kiến [9] và hành xử tùy theo đó, thì được lợi cả hai phương diện: hiện tại được người trí tán thán, và tương lai sinh vào thiện thú, cõi trời [10]. Về thuyết thứ hai "Vô hành" [11] và thứ ba "Vô nhân" [12] hay thuyết định mệnh [13] cũng vậy.

Ðối với lập trường thứ 4 "Không thể có vô sắc toàn diện" [14] người có trí nên suy nghĩ: Người có chủ trương này chỉ khao khát sinh vào cõi chư thiên có sắc [15] do "ý" thành. Còn nếu chủ trương ngược lại, "có thể có một vô sắc toàn diện" thì người này sẽ khao khát sinh vào cõi chư thiên vô sắc do "tưởng" thành [16]. Vị ấy nghĩ, nhân cái gì có sắc đều có đấu tranh, nhưng sẽ không có đấu tranh trong một thế giới hoàn toàn vô sắc. Do nghĩ như vậy, vị ấy thành tựu sự yểm ly, ly tham, diệt tận đối với sắc pháp.

Ðối với lập trường thứ 5, "Không thể có Hữu diệt toàn diện" [17] người có trí suy nghĩ: ai chủ trương như vậy sẽ khao khát tái sinh vào cõi vô sắc do tưởng. Còn nếu chủ trương ngược lại, "Có thể có Hữu diệt toàn diện" thì vị ấy có thể hi vọng nhập niết bàn ngay hiện tại [18]. Quan điểm đầu gần với tham ái, kết sử, chấp thủ, quan điểm sau gần với ly tham, không chấp thủ, gần với ái diệt. Do suy tư như vậy, vị ấy thành tựu yểm ly, ly tham, đoạn diệt đối với các hữu.

Về bốn hạng người, hạng 1 tự hành khổ là hạng tu các khổ hạnh; hạng 2 làm khổ kẻ khác là hạng làm các nghề ác; hạng 3 hành khổ cả hai, là hạng vua chúa gia chủ theo ác giới, dựng tế đàn giết hại sinh vật. Hạng 4 không làm ai khổ là vị a la hán xuất hiện ở đời, từ bỏ 5 triền cái, chứng trú 4 thiền 3 minh, tự thân cảm thấy mát lạnh.

Sau khi nghe pháp các bà la môn ở làng Sala xin quy y Tam bảo.

III. CHÚ GIẢI

1. Làng Sa la nằm ở lối vào rừng, nơi có nhiều sa môn bà la môn thuộc nhiều giáo phái thường nghỉ đêm, trình bày quan điểm của mình và đả kích quan điểm của người khác, điều này làm cho dân làng bối rối không biết tin theo giáo lý nào.

2. Không thể tranh cãi, Apan năm triền cái, năm triền cái, naka, theo Luận giải, là 1 giáo lý không thể nói ngược lại, 1 giáo lý sáng sủa, chắc chắn, dễ chấp nhận, không có ý nghĩa mập mờ. Danh từ này cũng xuất hiện trong kinh Tăng Chi Bộ 3-4.

3. Ba loại kiến ấy gọi là tà kiến có hậu quả xấu nhất định. Người nào tin theo chúng là đóng cửa ngõ tái sinh lên thiên đường, đóng cửa ngõ đưa đến giải thoát.

4-5. Sự khảo sát 3 kiến chấp này diễn tiến theo đường lối sau: Phật nêu lên kiến chấp A và phản đề của nó là B. Xét kiến chấp A trước, trong A.i Ngài chứng minh hậu quả tai hại của kiến chấp này trên ba nghiệp thân, khẩu, ý. Trong A.ii Ngài tiếp tục phê phán rằng kiến chấp ấy thực sự là sai, và nói đến những hậu quả tiêu cực của sự tin theo kiến chấp ấy. Rồi trong A.iii Ngài chứng minh làm thế nào 1 người trí đi đến kết luận rằng dù kiến chấp ấy đúng hay không đúng, tốt hơn hết là nên bác bỏ nó.

6. Kế tiếp lập trường B được xét đến. Trong B.i Phật mô tả ảnh hưởng tốt lành của kiến chấp này trên lối hành xử. Trong B.ii Ngài đưa ra những hậu quả tích cực của sự theo 1 quan điểm như thế. Và trong B.iii Ngài chứng minh làm thế nào 1 người trí đi đến kết luận rằng, bất luận sự thật ra sao, tốt nhất cho vị ấy là nên xem như thể là quan điểm ấy đúng, và hành xử theo đó.

7. Xem chú thích kinh 41 giải thích những cách diễn đạt khác nhau của quan điểm "không có đời sau."

8. Danh từ Pāli là Susilya ( thiện giới ) và Dusilya ( ác giới ). Vì ác giới nghe ra mâu thuẫn, giới có nghĩa là đạo đức, nên ở đây dịch là thiện pháp và bất thiện pháp.

9. Vị ấy đã tự trấn an mình do nghĩ mình sẽ không phải đau khổ trong một đời sau. Tuy nhiên vị ấy vẫn còn chịu những loại khổ phải gặp trong đời này, mà Phật sắp nói đến.

10. Phi hữu luận có nghĩa là chối bỏ hiện hữu một đời sau và quả báo của nghiệp.

11. Vị ấy chỉ theo một chiều của giáo lý không thể tranh cãi, nghĩa là tự cảm thấy an toàn chỉ nhờ giả thuyết không có đời sau, cho nên nếu thật có đời sau thì vị ấy sẽ mất mát cả 2 mặt - hiện tại bị người trí quở trách, tương lai sinh vào cõi dữ.

12. Hữu kiến: là sự xác nhận có đời sau và có quả báo các nghiệp.

13. Cách hiểu của vị này trải ra cả 2 chiều, nên được lợi ích của quan điểm mình - xác nhận có đời sau - dù đời sau có thực hay không.

14. Trong kinh Sa Môn Quả, thuyết "Vô hành" này được gắn cho Phú Lan Na Ca Diếp. Mặc dù mới nghe qua, quan điểm này dường như chủ trương duy vật như quan điểm chấp đoạn trước đấy, nhưng có bằng chứng kinh điển cho thấy Phú Lan Na Ca Diếp theo một lý thuyết nguy hiểm. Lý thuyết đạo đức của ông là, mọi hành vi đã được định trước theo những cách mà ta không thể gán trách nhiệm đạo đức cho người làm.

15. Ðây là thuyết "Vô nhân" mà giáo phái Mạt Già Lê (Makkhali) chủ trương trong kinh Sa Môn Quả, gọi là thuyết Luân hồi tịnh hóa. Thuyết này đã được đề cập trong tác phẩm Lịch Sử và Lý Thuyết của Mạt Già Lê, chương 12-13.

16. Ðịnh mệnh là yếu tố chính giải thích triết học Mạt Già Lê, theo đó những biến cố ngoại giới và cá nhân đều do hoàn cảnh và thiên nhiên điều động: "Cái quay búng sẵn trên trời, Lờ mờ nhân ảnh như người đi đêm." Sáu tầng lớp xã hội tùy theo trình độ tiến hóa tâm linh của họ, tầng cao nhất dành cho 3 luận sư ngoại đạo nói trong kinh Trung bộ 36.

17. Ðây là phủ nhận 4 cõi vô sắc, cảnh giới của 4 thiền chứng vô sắc.

18. Ðây là những vị trời thuộc các cảnh giới tương ứng với 4 thiền sắc giới - những vị trời có thân thể bằng sắc chất vi tế, không như những vị trời thuộc vô sắc giới chỉ có thuần tâm, không lẫn vào sắc.

IV. PHÁP SỐ

Ba minh, bốn hạng người, bốn thiền, năm triền cái, tám thánh đạo, chín định thứ đệ.

V. KỆ TỤNG

___Dân chúng làng Sa La
___Ðến viếng thăm đức Phật
___Khi Ngài đang du hành
___Trong xứ Kosala
___Phật hỏi các gia chủ
___Có vị đạo sư nào
___Họ đặt hết niềm tin ?
___Họ đáp rằng không có.
___Phật bèn giảng cho họ
___Pháp môn "không chuyển hướng"
___Ðối với các quan điểm
___Hoàn toàn trái ngược nhau.
___Một là hư vô luận
___Thuyết duy vật cực đoan
___Chấp không có đời sau
___Và quả báo thiện ác.
___Hai là thuyết Vô hành
___Làm các nghiệp dữ lành
___Cả hai đều vô hiệu
___Không có tội phước gì.
___Ba là thuyết Vô nhân
___Hay là thuyết định mệnh
___Bốn, không có Vô sắc
___Năm không có Hữu diệt.
___Mỗi chủ trương đều có
___Một lập trường ngược lại.
___Cuối cùng Ngài đề cập
___Lối sống bốn hạng người.
___Người theo ba thuyết đầu,
___Từ bỏ ba thiện pháp
___Về thân, ngữ, và ý,
___Thực hành ba ác pháp
___Vì không thấy bất thiện
___Là hạ liệt, nguy hiểm
___Tà kiến Hư vô này,
___Khởi thêm sáu ác pháp:
___Tà tư duy, tà ngữ,
___Tà nghiệp, ngược thánh giáo
___Thuyết phục chống diệu pháp,
___Và khen mình chê người.
___Người chủ trương ngược lại
___Có đời sau, quả báo…
___Thì có được chính kiến,
___Lại thêm các thiện pháp:
___Chính tư duy, chính ngữ,
___Chính nghiệp, thuận thánh giáo,
___Thuyết phục theo diệu pháp,
___Không khen mình chê người.
___Ai nói "không đời sau",
___Người trí nên suy nghĩ:
___Nếu kẻ ấy nói đúng
___Khi chết được an toàn
___Vì việc ác họ làm
___Sẽ không có quả báo;
___Nhưng ngay trong hiện tại
___Bị người trí quở trách.
___Nhưng nếu có đời sau
___Họ sẽ phải thua đau:
___Hiện tại, người trí chê
___Tương lai sinh cõi dữ.
___Người chấp hành Hữu kiến
___Lợi cả hai phương diện:
___Hiện tại người trí khen
___Tương lai sinh cõi thiện.
___Về chủ trương "Vô hành"
___Và "Vô nhân" cũng vậy
___Hãy suy luận như trên
___Ðược sự "không cãi được"
___"Không có cõi vô sắc"
___Người trí nên suy nghĩ:
___Kẻ này sinh sắc giới
___Cõi trời do "ý" thành
___Ai chủ trương ngược lại
___"Có thể có vô sắc"
___Người này sinh vô sắc
___Cõi do "tưởng" mà thành
___Bất cứ gì có sắc
___Ðều sinh ra đấu tranh,
___Nhưng không có đấu tranh
___Trong cõi thuần vô sắc.
___Do suy tư như vậy,
___Thành tựu hạnh yểm ly,
___Ly tham và diệt tận
___Ðối tất cả sắc pháp.
___"Không Hữu diệt toàn diện"
___Ai chủ trương như vậy
___Còn khao khát tái sinh
___Cõi vô sắc do tưởng.
___Ai chủ trương ngược lại,
___"Có Hữu diệt toàn diện"
___Có thể nhập niết bàn
___Hữu diệt ngay hiện tại.
___Lại nữa, quan điểm trước
___Chấp không có hữu diệt
___Thì gần với tham ái
___Quan điểm sau ly tham,
___Gần vô chấp, ái diệt.
___Do suy tư như vậy,
___Thành yểm ly, ly tham,
___Ðoạn diệt với các hữu.
___Trên đời có bốn hạng
___Tự hành, hành khổ người
___Vừa khổ mình, khổ người
___Và không làm ai khổ
___Là La hán ly dục,
___Chứng bốn thiền ba minh
___Thân cảm thấy mát lạnh
___Tự ngã trú Phạm thể.

No. 0827 NEW (Hạt Cát dịch)

Khám phá thêm nhiều hình dáng

của Ðức Phật tại

Viện Bảo Tàng Metropolian, New York

by Dana Tyler, CBS, March 20, 2006

NEW YORK, USA -- Ðây chính là thời điểm để đến và xem những tuyệt phẩm khác của nghệ thuật Phật Giáo. Tác phẩm được trưng bày không nằm trong tủ kính nên bạn có thể đến gần để ngắm nhìn cho mãn nhãn. Bạn sẽ thấy Ðức Phật, trung tâm, biểu tượng tâm linh của Phật Giáo, một trong những tôn giáo lớn trên thế giới, trong nhiều kích cỡ hình dáng khác nhau. Hai phóng viên của Ðài Truyền Hình CBS, Leidi và Tyler đã đến tham quan một trong những tác phẩm cổ điển tiêu biểu từ Ấn Ðộ.

Nghệ thuật điêu khắc mà chúng ta thưởng ngoạn tại đây là một trong những tuyệt phẩm của Ấn Ðộ chúng tôi. Xuất xứ từ khoảng năm 460 đến 475 và được nhìn nhận là hình ảnh cổ điển gần gũi giống Ðức Phật nhất. Vì vậy nó có một sự cân đối giữa hai thái cực hoàn hảo, vật lý đang hiện hữu, nhưng nếu bạn ngắm nhìn khuôn mặt với đôi mắt nhìn xuống, dường như mọi đường nét chìm sâu trong nội quán. Bạn chứng kiến một con người đang hiện hữu ở đấy nhưng trong một hình thức nào đó đã vượt qua sự quan tâm đến tử sinh, điều biểu lộ chính xác Ðức Phật là như thế nào..

Tyler và Leidy tìm thấy hai pho tượng đầy màu sắc từ Trung Hoa, ngày tháng ghi nhận vào khoảng năm 1000 sau Tây Lịch. Những bức tượng điêu khắc này là một trong nhóm 16 pho tượng được phát hiện trong một hang động ở TrungQuốc hồi đầu thế kỷ 20. Leydi nói với Tyler rằng Viện Bảo Tàng Metropolian thật may mắn có được chúng, những pho tượng khác trong nhóm nằm trong các viện bảo tàng tại TrungQuốc và Âu Châu. Ðức Phật cũng tạo một ấn tượng mạnh mẽ trong một bức họa hồi thế kỷ thứ 14 đã từng che phủ cả một bức tường một ngôi chùa ở Trung Quốc.

Không xa từ bức họa là một pho tượng Bồ Tát to hơn kích thước người thật. Denise nói “Ðây là tác phẩm hồi cuối thế kỷ thứ 6 từ Trung Quốc, nó quá to tướng nên nó phải được dựng lên tại mộ ngã tư hay một nơi rất công cộng, vì thế bạn có thể mường tượng bạn có mặt ở TrungQuốc vào thời điểm đó và bộ hành trên một con đường gió bụi và trông thấy nó khiến bạn được nhắc nhở đế biểu tượng của từ bi và cảm giác một cách chắc chắn.

Viện Bảo Tàng Metropolian chỉ triển lãm những công trình này vào thời điểm hiện tại trong năm, thời gian mà người ta tin rằng là lúc Ðức Phật viên tịch. Quan khách thăm viếng viện BảoTàng có thể khám phá rất nhiều hình dáng của ÐứcPhật trong Phòng Trưng Bày Á Châu.
No. 0828 NEW (ĐĐ Uyên Minh)

www.luylau.com

TRƯỞNG LÃO

VICITTASARABHIVAMSA SAYADAW

Ngài sinh năm 1911 tại Myingan, thế danh Maung Khin. Thuở nhỏ, ngài đã là một cậu bé khác hẳn bè bạn trang lứa : Không thích đàn đúm vui đùa, tự biết giữ sạch sẽ và chỉ ăn uống khi cha mẹ cho phép. Ngài mất cha năm lên bốn tuổi và thân phụ của ngài qua đời lúc mới ba mươi tuổi, không kịp nhìn thấy con trai mình trở thành vị đại sư đầu tiên của thế kỷ này thuộc lòng Tam tạng.

Như bao nhiêu cậu bé Miến Ðiện khác, ngài đi học ở chùa từ lớp vỡ lòng chữ Miến Ðiện và giáo lý. Thầy dạy là ngài U Sasana Sayadaw, một danh tăng xuất thân từ trung tâm Nan U ở Mandalay. Chương trình hướng dẫn của ngài cho các cậu bé là chữ Miến Ðiện, văn phạm Pali sơ cấp, kinh Kiết Tường (Mangalasutta) và tập Lokaniti, một cuốn Huấn Mông được biên soạn bằng tiếng Pāli rất phổ biến ở các xứ Phật giáo Theravada.

Cậu bé Maung Khin học đâu nhớ đó, dù phải nhận rằng kinh văn Pāli rất khó nhớ. Cậu chưa bao giờ bỏ sót một bài tập nào ở lớp và ham đọc sách từ rất sớm. Sau đó cậu Maung Khin thọ giới Sa Di với ngài U Sobhita Sayadaw, được thầy cho pháp danh là Shin Vicittasara. Sau khi xuất gia, ngài Vicittasara được học bộ sách văn phạm Pāli căn bản nhất của Phật giáo Theravada là cuốn Kaccayana -Veyyakarana, một chìa khoá cần thiết để bước vào kho tàng kinh điển Pāli. Năm 13 tuổi, ngài Vicittasara thi đậu kỳ khảo hạch Luật Xuất Gia và Văn Phạm Pāli tổ chức tại Myingan.

Năm sau, sau khi vượt qua kỳ thi tuyển sinh lớp Tam Tạng Pāli, ngài chính thức dự học khóa đào tạo Pháp Sư Tam Tạng, mà ở đây là những vị thuộc lòng toàn bộ Tam tạng Pali. Năm 15 tuổi ngài thi đậu hai kỳ thi Phật học Pathamange và Pathamalat. Do thấy ngài có năng khiếu thi ca, ngài U Sobhita Sayadaw dành thời giờ hướng dẫn bằng cuốn Poranadipani, một cẩm nang văn chương Miến Ðiện. Chính nhờ nền tảng này, trong suốt thời kỳ học tăng sau đó, ngài đã luôn đạt điểm cao trong các kỳ thi Phật học. Trong lớp học Tam Tạng, ngài được hướng dẫn học thuộc lòng từng phần Chánh Tạng, Chánh Sớ Atthakatha và Phụ Sớ Tika. Thời khóa biểu của ngài là ngày học đêm ôn.

Năm mười chín tuổi, ngài được chuyển về Mingon Hill ở Sagaing để tiếp tục lớp Tam Tạng dưới sự hướng dẫn của ngài Ashin Pannatikkha Sayadaw và cũng vào thời điểm này ngài nhận được sự hộ độ về vật chất của gia đình bà Thilashin Daw. Năm sau (1930), ngài thọ Ðại giới với sự tài trợ của vợ chồng ông U Thwin ( người đã sáng lập trung tâm Sasana Yeiktha cho ngài Mahasi ở Rangoon ).

Trong hai năm 1932, 1933 ngài liên tiếp thi đậu hai kỳ thi Cao Ðẳng Phật Học và nhận được văn bằng giảng sư Pariyattisāsanahita - Sakyasiha. Theo thông lệ, pháp danh Vicittasara của ngài từ đó được Hội đồng Maha Sanghasamaggi Association ghép thêm chữ Abhivamsa thành Vicittasarabhivamsa. Năm 1941, ngài lại được nhận thêm tước hiệu Sasanadhajasiripavaradhammacariya ( Pháp Sư Thượng Thặng ), và năm 1950, sau khi nằm lòng trọn vẹn Luật Tạng Pāli, ngài nhận được tước hiệu Visitthavinayadhara Mahavinayakovida ( Ðệ Nhất Luật Sư ).

Năm 1952, thuộc xong tạng A Tỳ Ðàm, ngài nhận tước hiệu Buddhasasanavisittha Abhidhammamahabhidhammakovida ( Ðệ Nhất Luận Sư ) cùng với quà tặng danh dự là hai chiếc lộng trắng do chính tổng thống Miến Ðiện trao tặng. Sang năm 1953, ngài thuộc xong toàn bộ Kinh Tạng và nhận được tước hiệu Tipitakadhara ( Trì Tạng Ðại sư ) vào trước pháp hiệu Vicittasarabhivamsa. Trong cuộc Kiết Tập Tam Tạng kỳ VI tại Miến Ðiện ( từ 1954- 1956 ), ngài giữ vai trò trả lời tất cả câu hỏi về Luật Tạng.

Từ năm 1955, theo lời yêu cầu của giáo hội và thủ tướng Miến Ðiện, ngài đã biên soạn bộ Biên Niên Sử về cuộc đời đức Phật ( nhan đề bản tiếng Anh là The Great Chronicle of the Buddhas ) . Có lẽ đây là bộ Phật Sử đồ sộ nhất thế giới từ xưa đến nay, tính theo bản tiếng Anh có lẽ trên sáu ngàn trang ( khổ 19 x 23), trong tám tập. Công trình hoàn tất vào năm 1966. Năm 1979, ngài được trao tặng tước hiệu Aggamahapandita ( Ðệ Nhất Hiền Giả ).* Năm 1980, ngài giữ chức Cố Vấn Giáo Hội (Akyanpay Sayadaw) và kiêm nhiệm chức Tổng Thư Ký ( Akyosaung Sayadaw- Secretary ) Ban Chưởng Quản Giáo Hội. Dù tuổi già sức yếu,ngài vẫn làm việc Phật sự không mệt mõi và đặc biệt dành nhiều thời giờ cho các lớp Tam tạng Pāli. Ngài đã qua đời vào năm 1992 tại Miến Ðiện, ở tuổi 81.
_______________________________________

* Theo eDhamma.com, tiêu chuẩn tối thiểu để nhận được tước hiệu này ở Miến Ðiện phải gồm đủ năm điều : - Tinh thông Tam Tạng Pāli ( không cần thuộc lòng ). - Từng giảng dạy Tam Tạng. - Có tiếng tăm cụ thể về trình độ kinh điển. - Không dưới hai mươi hạ Tỳ Kheo. - Chưa từng bị tai tiếng về giới luật.