Thứ Bảy, 23 tháng 7, 2005
Nhật Hành
Ngày: 23 Tháng 07 năm 2005
Tri chúng: Hạt Cát
Tri chúng điền khuyết:
Môn học: Thiền Học
Bài học: Bài 12: Quán Thọ
Giảng sư chính: TT Giác Đẳng
Giảng sư điền khuyết: Sư Trí Siêu
Vị Tăng hoặc Ni nói lời cầu nguyện đầu lớp học: DD Minh Hanh
Xướng ngôn viên: TN Diệu Tịnh, Chánh Hạnh, Khánh Văn
Xướng ngôn viên và điền khuyết cho bài học: http://baidocmc.blogspot.com/
Xướng ngôn viên cho phần Đố Vui: Trí Ðạt/Khánh Văn
Người mở room: Hạt Cát,mindvox, Dieu Quang
Người mở nhạc và kinh tụng: Mindvox, Dieu Quang
Người post bài cho Room: Mindvox , Như Phúc
Người post bài riêng cho chư Tăng: Như Phúc
Trực room (op):
Ngày: 23 Tháng 07 năm 2005
Tri chúng: Hạt Cát
Tri chúng điền khuyết:
Môn học: Thiền Học
Bài học: Bài 12: Quán Thọ
Giảng sư chính: TT Giác Đẳng
Giảng sư điền khuyết: Sư Trí Siêu
Vị Tăng hoặc Ni nói lời cầu nguyện đầu lớp học: DD Minh Hanh
Xướng ngôn viên: TN Diệu Tịnh, Chánh Hạnh, Khánh Văn
Xướng ngôn viên và điền khuyết cho bài học: http://baidocmc.blogspot.com/
Xướng ngôn viên cho phần Đố Vui: Trí Ðạt/Khánh Văn
Người mở room: Hạt Cát,mindvox, Dieu Quang
Người mở nhạc và kinh tụng: Mindvox, Dieu Quang
Người post bài cho Room: Mindvox , Như Phúc
Người post bài riêng cho chư Tăng: Như Phúc
Trực room (op):
Lớp Thiền Học
Giảng sư: TT Giác Đẳng
Bài 12: Quán Thọ
Chánh kinh Tứ Niệm Xứ:
Nầy các Tỳ kheo, thế nào là quán thọ trên thọ?
Nầy các Tỳ kheo, người tu tập khi cảm thọ lạc, sáng suốt biết rõ: cảm thọ lạc; khi cảm thọ khổ, sáng suốt biết rõ: cảm thọ khổ; khi cảm thọ không lạc không khổ, sáng suốt biết rõ: cảm thọ không lạc không khổ.
Khi cảm thọ lạc thuộc vật chất, sáng suốt biết rõ: cảm thọ lạc thuộc vật chất; Khi cảm thọ lạc không thuộc vật chất, sáng suốt biết rõ: cảm thọ lạc không thuộc vật chất.
Khi cảm thọ khổ thuộc vật chất, sáng suốt biết rõ: cảm thọ khổ thuộc vật chất; Khi cảm thọ khổ không thuộc vật chất, sáng suốt biết rõ: cảm thọ khổ không thuộc vật chất.
Khi cảm thọ không lạc không khổ thuộc vật chất, sáng suốt biết rõ: cảm thọ không lạc không khổ thuộc vật chất; khi cảm thọ không lạc không khổ không thuộc vật chất, sáng suốt biết rõ: cảm thọ không lạc không khổ không thuộc vật chất.
Như vậy vị ấy quán thọ bằng nội thọ hay ngoại thọ hoặc cả hai. Vị ấy quán tánh sanh khởi trên thọ, quán tánh hoại diệt trên thọ hoặc cả hai tánh sanh diệt trên thọ. Vị ấy quán niệm sự hiện hữu của thọ với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Vị ấy không ỷ lại, chấp trước bất cứ vật gì ở đời. Nầy các Tỳ kheo, như vậy là người tu tập lấy thọ quán thọ.
Giảng sư: TT Giác Đẳng
Bài 12: Quán Thọ
Chánh kinh Tứ Niệm Xứ:
Nầy các Tỳ kheo, thế nào là quán thọ trên thọ?
Nầy các Tỳ kheo, người tu tập khi cảm thọ lạc, sáng suốt biết rõ: cảm thọ lạc; khi cảm thọ khổ, sáng suốt biết rõ: cảm thọ khổ; khi cảm thọ không lạc không khổ, sáng suốt biết rõ: cảm thọ không lạc không khổ.
Khi cảm thọ lạc thuộc vật chất, sáng suốt biết rõ: cảm thọ lạc thuộc vật chất; Khi cảm thọ lạc không thuộc vật chất, sáng suốt biết rõ: cảm thọ lạc không thuộc vật chất.
Khi cảm thọ khổ thuộc vật chất, sáng suốt biết rõ: cảm thọ khổ thuộc vật chất; Khi cảm thọ khổ không thuộc vật chất, sáng suốt biết rõ: cảm thọ khổ không thuộc vật chất.
Khi cảm thọ không lạc không khổ thuộc vật chất, sáng suốt biết rõ: cảm thọ không lạc không khổ thuộc vật chất; khi cảm thọ không lạc không khổ không thuộc vật chất, sáng suốt biết rõ: cảm thọ không lạc không khổ không thuộc vật chất.
Như vậy vị ấy quán thọ bằng nội thọ hay ngoại thọ hoặc cả hai. Vị ấy quán tánh sanh khởi trên thọ, quán tánh hoại diệt trên thọ hoặc cả hai tánh sanh diệt trên thọ. Vị ấy quán niệm sự hiện hữu của thọ với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Vị ấy không ỷ lại, chấp trước bất cứ vật gì ở đời. Nầy các Tỳ kheo, như vậy là người tu tập lấy thọ quán thọ.
Đố Vui Trong Ngày
1. Thọ dịch từ Phạn ngữ Vedanà có thể hiểu là:
a. Thái độ tiếp nhận cảnh
b. Phản ứng đối với cảnh
c. Trạng thái thụ động của tâm
d. Câu a và b đúng
2. Đối với một hình ảnh quen thuộc chúng ta thường không có phản ứng vui buồn. Trường hợp nầy có thể gọi là:
a. Không có cảm giác gì hết
b. Có cảm thọ nhưng là thọ xã
c. Hai câu trên đều sai
d. Cả hai câu a và b đều đúng
3. Có một người ngộ đạo nhờ nghe Đức Phật nói câu nầy: "Nước mắt sầu thương từ vô lượng kiếp nhiều hơn nước trong bốn biển", vị đó là:
a. Yasodhara
b. Visakha
c. Patacara
d. Sujata
4. Nguyễn Du viết: Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ. Phải chăng câu nầy có hàm ý là vui buồn vốn do tâm chứ không do cảnh.
a. Đúng. Lòng không vui thì cả thế giới nầy không có gì vui
b. Sai. Câu trên chỉ áp dụng cho trường hợp đặc biệt
c. Tâm và cảnh đều là những yếu tố có ảnh hưởng. Trong Truyện Kiều thì rõ ràng tâm của nàng Kiều ảnh hưởng lớn đến cái nhìn sự vật chung quanh.
d. cả ba câu trên đều sai
1. Thọ dịch từ Phạn ngữ Vedanà có thể hiểu là:
a. Thái độ tiếp nhận cảnh
b. Phản ứng đối với cảnh
c. Trạng thái thụ động của tâm
d. Câu a và b đúng
2. Đối với một hình ảnh quen thuộc chúng ta thường không có phản ứng vui buồn. Trường hợp nầy có thể gọi là:
a. Không có cảm giác gì hết
b. Có cảm thọ nhưng là thọ xã
c. Hai câu trên đều sai
d. Cả hai câu a và b đều đúng
3. Có một người ngộ đạo nhờ nghe Đức Phật nói câu nầy: "Nước mắt sầu thương từ vô lượng kiếp nhiều hơn nước trong bốn biển", vị đó là:
a. Yasodhara
b. Visakha
c. Patacara
d. Sujata
4. Nguyễn Du viết: Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ. Phải chăng câu nầy có hàm ý là vui buồn vốn do tâm chứ không do cảnh.
a. Đúng. Lòng không vui thì cả thế giới nầy không có gì vui
b. Sai. Câu trên chỉ áp dụng cho trường hợp đặc biệt
c. Tâm và cảnh đều là những yếu tố có ảnh hưởng. Trong Truyện Kiều thì rõ ràng tâm của nàng Kiều ảnh hưởng lớn đến cái nhìn sự vật chung quanh.
d. cả ba câu trên đều sai
Thứ Sáu, 22 tháng 7, 2005
Nhật Hành
Ngày: 22 Tháng 07 năm 2005
Tri chúng: Chanh Hanh
Tri chúng điền khuyết: Khanh Van
Môn học: A Tỳ Đàm
Bài học: Sắc Pháp (rùpa)
Giảng sư chính: TT Trí Siêu
Giảng sư điền khuyết: Sư Giác Đẳng
Vị Tăng hoặc Ni nói lời cầu nguyện đầu lớp học: DD minh hanh
Xướng ngôn viên: TN Diệu Tịnh, Hạt Cát, Minh Hạnh, KristieN
Xướng ngôn viên cho bài học: Phan1a: TN Diệu Tịnh, đk: .//Hoi Huong: ..,đk: .. http://baidocmc.blogspot.com
Xướng ngôn viên cho phần Tin tức: .
Người mở room: mindvox
Người mở nhạc và kinh tụng: , mindvox và anitya
Người post bài cho Room: Như Phúc, mindvox , Hạt Cát
Người post và gửi bài riêng cho chư Tăng: Hạt Cát
Trực room (op): Hạt Cát
Thông báo (nếu có):
Ngày: 22 Tháng 07 năm 2005
Tri chúng: Chanh Hanh
Tri chúng điền khuyết: Khanh Van
Môn học: A Tỳ Đàm
Bài học: Sắc Pháp (rùpa)
Giảng sư chính: TT Trí Siêu
Giảng sư điền khuyết: Sư Giác Đẳng
Vị Tăng hoặc Ni nói lời cầu nguyện đầu lớp học: DD minh hanh
Xướng ngôn viên: TN Diệu Tịnh, Hạt Cát, Minh Hạnh, KristieN
Xướng ngôn viên cho bài học: Phan1a: TN Diệu Tịnh, đk: .//Hoi Huong: ..,đk: .. http://baidocmc.blogspot.com
Xướng ngôn viên cho phần Tin tức: .
Người mở room: mindvox
Người mở nhạc và kinh tụng: , mindvox và anitya
Người post bài cho Room: Như Phúc, mindvox , Hạt Cát
Người post và gửi bài riêng cho chư Tăng: Hạt Cát
Trực room (op): Hạt Cát
Thông báo (nếu có):
A Tỳ Đàm
Giảng Sư: TT Tuệ Siêu
Sắc Pháp (rùpa)
Tài liệu của Pháp Sư Giác Chánh
Sắc Pháp là thể chất vô tri giác, do danh từ Rūpa, có nghĩa là vật chất có tính cách thay đổi và hoại diệt. Theo thuật ngữ Phật học, Sắc Pháp không những dùng để chỉ các phần tử vật chất mà ta có thể nhìn thấy hay cảm nhận được, nó còn hàm chứa tất cả về vật lý ẩn tàng trong phần tử vật chất đó, thí dụ như sự biến đổi lẹ làng khiến ta không thể gõ hai lần lên cùng một chỗ. Sự tồn tại của một Sắc Pháp là 17 tâm Sát na hay 51 Sát na tiểu.
Sắc Pháp luôn luôn nằm trong 8 phạm trù sau:
1. Pháp Vô Nhân hay Phi Nhân (Ahetuva): vì chúng không có nhân tương ưng như Tham, Sân, Si, Vô Tham, Vô Sân, Vô Si.
2. Pháp Hữu Duyên (Sappaccaya): vì chúng chỉ có sự hiện hữu tương đối, do duyên trợ tạo là Nghiệp (Kamma), Tâm (Citta), Âm Dương hay thời tiết (Utu) và Vật Thực (Āhāra).
3. Pháp Hữu Lậu (Sāsava): vì chúng trở thành đối tượng của dục vọng (tứ lậu).
4. Pháp Hữu Vi (Sankhāra): vì bị chi phối bởi bốn nguyên nhân Kamma, Citta, Utu và Āhāra.
5. Pháp Hợp Thế (Lokīya): vì chúng phụ thuộc vào năm uẩn.
6. Pháp Dục Giới (Kāmavacara): vì chúng nằm trong phạm vi của giới vực Dục lạc (bao gồm cả 28 Sắc Pháp).
7. Pháp Vô Cảnh (Anārammanaṃ): còn gọi là Pháp Phi Sở Duyên, vì không nhận thức được đối tượng, không biết cảnh (làm chỗ nương cho tâm thức biết cảnh).
8.Pháp Phi Trừ (Appahātabba): còn gọi là Pháp Phi Sở Ðoạn, vì các Sắc Pháp không thể tuần tự đoạn diệt như các phiền não. Ở đây không có nghĩa là các Sắc Pháp không bị luật Vô Thường chi phối.
Muốn nắm vững căn bản của Sắc Pháp, ta phải nghiên cứu và phân biệt thật kỹ, vì nó vừa thực tế, vừa vi tế, hơn nữa, ta thường có sự nhận định sai lầm giữa Siêu lý và Chế định.
Giảng Sư: TT Tuệ Siêu
Sắc Pháp (rùpa)
Tài liệu của Pháp Sư Giác Chánh
Sắc Pháp là thể chất vô tri giác, do danh từ Rūpa, có nghĩa là vật chất có tính cách thay đổi và hoại diệt. Theo thuật ngữ Phật học, Sắc Pháp không những dùng để chỉ các phần tử vật chất mà ta có thể nhìn thấy hay cảm nhận được, nó còn hàm chứa tất cả về vật lý ẩn tàng trong phần tử vật chất đó, thí dụ như sự biến đổi lẹ làng khiến ta không thể gõ hai lần lên cùng một chỗ. Sự tồn tại của một Sắc Pháp là 17 tâm Sát na hay 51 Sát na tiểu.
Sắc Pháp luôn luôn nằm trong 8 phạm trù sau:
1. Pháp Vô Nhân hay Phi Nhân (Ahetuva): vì chúng không có nhân tương ưng như Tham, Sân, Si, Vô Tham, Vô Sân, Vô Si.
2. Pháp Hữu Duyên (Sappaccaya): vì chúng chỉ có sự hiện hữu tương đối, do duyên trợ tạo là Nghiệp (Kamma), Tâm (Citta), Âm Dương hay thời tiết (Utu) và Vật Thực (Āhāra).
3. Pháp Hữu Lậu (Sāsava): vì chúng trở thành đối tượng của dục vọng (tứ lậu).
4. Pháp Hữu Vi (Sankhāra): vì bị chi phối bởi bốn nguyên nhân Kamma, Citta, Utu và Āhāra.
5. Pháp Hợp Thế (Lokīya): vì chúng phụ thuộc vào năm uẩn.
6. Pháp Dục Giới (Kāmavacara): vì chúng nằm trong phạm vi của giới vực Dục lạc (bao gồm cả 28 Sắc Pháp).
7. Pháp Vô Cảnh (Anārammanaṃ): còn gọi là Pháp Phi Sở Duyên, vì không nhận thức được đối tượng, không biết cảnh (làm chỗ nương cho tâm thức biết cảnh).
8.Pháp Phi Trừ (Appahātabba): còn gọi là Pháp Phi Sở Ðoạn, vì các Sắc Pháp không thể tuần tự đoạn diệt như các phiền não. Ở đây không có nghĩa là các Sắc Pháp không bị luật Vô Thường chi phối.
Muốn nắm vững căn bản của Sắc Pháp, ta phải nghiên cứu và phân biệt thật kỹ, vì nó vừa thực tế, vừa vi tế, hơn nữa, ta thường có sự nhận định sai lầm giữa Siêu lý và Chế định.
Tin tức Phật giáo
No. 0401 NEW (Tinh Tấn dịch)
Các khóa tu học Phật Pháp cho phụ nữ
Bangkok Post, ngày 11 tháng 7, 2005
Bangkok, Thailand – Hòa thượng Buddhadasa hiện thời luôn luôn xác nhận rằng nữ giới có cùng khả năng như nam giới để đắc đạo quả và Ngài cảm nhận rằng nữ giới học Giáo Pháp từ nữ giới với nhau thì có nhiều hiệu quả hơn và phù hợp với xã hội hơn.
Hòa thượng pháp sư đáng kính Buddhadasa gọi phụ nữ là “Mẹ của Thế Giới” (Dharma Mata).
Vị trụ trì cao cả đáng kính đã hình dung một nơi mà phụ nữ có thể thực hành giáo pháp trọn thời gian và trở thành các vị nữ pháp sư, ngay cả đặt ra một từ đặc biệt cho họ: Mẹ của Thế giới. Vì thế hạt giống của “Tu Viện Ẩn Lâm Mẹ của Thế Giới” được gieo trồng.
Từ khi Hòa thượng Buddhadasa đời trước tạ thế, một nhóm Chư Tăng và thiện tín tại tu viện Suan Mokkh, Tu viện Ẩn Lâm mà Ngài đã sáng lập ở Chaiya, Surat Thani, đã thúc đẩy niềm mong ước của Ngài trở thành hiện thực.
Sau đó, một mảnh đất 40-rai (64 ngàn mét vuông) trong tu viện được dành riêng cho trường nội trú với chương trình giảng dạy giáo pháp đặc biệt để vạch hướng đi cho phụ nữ. Lớp đầu tiên được tổ chức vào năm 2000.
Hiện nay, Tu Viện Ẩn Lâm Mẹ của Thế Giới đón nhận phụ nữ của bất cứ dân tộc nào (nhưng họ phải thông thạo tiếng Thái, trung bình đối với các bài hướng dẫn) , là những vị tâm nguyện tầm cầu giáo pháp. Ba lớp nữa sẽ được tổ chức vào năm nay: hai khóa ngắn hạn 10 ngày (Ngày 6 đến 15 tháng 8 và ngày 3 đến 12 tháng 12) và một khóa tích cực dài hạn bốn tháng, bắt đầu vào ngày 1 tháng 9.
Liên kết với những ngày lễ thiêng liêng Asarnha Bucha (Asalha Puja: Đức Phật Chuyển Pháp Luân; nhằm ngày 21 tháng 7 năm nay) và ngày Khao Phansa (vào ngày 22 tháng 7; bắt đầu Lễ Nhập Hạ), Tu viện Ẩn Lâm tổ chức một ngày Tự do Thăm viếng vào cuối tuần, từ ngày 23 – 24 tháng 7. Những người tham dự có thể ở lại đêm thứ Bảy tại tu viện Suan Mokkh nơi họ có cơ hội thể nhập vào môi trường an tịnh và thiên nhiên cũng như học về những cơ bản kỷ thuật thiền Minh Sát từ các thiền sư ở tu viện.
Sang năm, khi dân chúng Thái làm lễ kỷ niệm sinh nhật bách niên của Hòa thượng Buddhadasa, Tu viện Ẩn Lâm hoạch định tổ chức một khóa thiền bốn tuần cho các bé gái 11 và 12 tuổi; chương trình dự định vào ngày 1 – 30 tháng 4. Các thiếu nữ có thể ghi danh những khóa thiền hai tuần hay bốn tuần được tổ chức suốt năm, bắt đầu từ ngày 7 tháng giêng, 2005.
------------------
No. 0411 NEW(Hạt Cát dịch)
Bất cứ ai cũng có thể giác ngộ.
Ðó là lời của Sư trụ trì Chùa Nguyên Thủy Thái Lan tại Florida.
14 Jul 2005
By Jason Holland News-Gazette Staff Writer
Nằm nép mình cách biệt với xa lộ Old Vineland bận rộn xe cộ, Chùa Florida Dhammaram là một nơi tĩnh mịch tôn nghiêm.
Ðón tiếp từ tín chúng lâu đời cho đến những người mới tới thuộc bất cứ sắc dân nào nhiệt tâm học hỏi, ngôi chùa hướng dẫn Phật tử theo truyền thống Theravada, hệ phái nguyên thủy của Phật Giáo. Phật tử Theravada nhìn nhận niềm tin của mình gần gũi nhất với giáo lý nguyên thủy mà Ðức Phật thuyết giảng, người sau khi giác ngộ, đã khai mở một con đường cho bất cứ ai muốn thoát khỏi sanh tử luân hồi chứng đạt Niết Bàn.
Lý do ngôi chùa được xây dựng là để phục vụ di dân Phật tử, nhưng theo lời của Sư Wijtitrdhammapani, vị trụ trì từ tháng Tư năm 1993, ngôi chùa cũng cống hiến sự tốt lành đến tâm thức của toàn thể cộng đồng bằng cách mở rộng cánh cửa cho tất cả những ai không phải Phật tử nhiệt tâm tìm hiểu.
“Bất cứ ai cũng có thể chứng đạt giác ngộ, nhưng chỉ có một con đường là phải qua hành trì giới luật, giáo lý Phật pháp”. Vị Sư trụ trì 47 tuổi, đến từ Thái Lan và là tu sĩ hơn 30 năm đã nói như trên. Sư nói thêm “Bất cứ ai cũng có thể thực hành giống như Ðức Phật và theo đuổi giáo lý của Ngài”.
Khuôn viên ngôi chùa đã khuếch trương thêm kể từ khi mở cửa năm 1993, ngoài ngôi chính điện, còn có vài cơ sở nhỏ chung quanh như tháp thờ, tịnh thất cho 8 tu sĩ và trụ trì, một trung tâm văn hóa Thái Lan và trai đường.
Sư Wijtirtdhammapani nói “Chúng tôi bắt đầu bằng con số không”
Một chi nhánh Phật giáo tại Thái Lan đã kêu gọi quyên góp tài chánh để xây dựng ngôi chùa. Ða số các công trình nghệ thuật và tôn tượng tại chùa đến từ Thái Lan.
Bên trong ngôi chùa, phía tay phải pho tượng Phật là một màn ảnh truyền hình to tướng và một máy điện não (computer) cá nhân. Những tiện nghi hiện đại này, vật được xem là phương tiện giảng dạy, thiết trí bên cạnh những bức tranh miêu tả chi li nhấn mạnh đến những giai đoạn quan trọng trong lịch sử Ðức Phật và những điểm then chốt của giáo lý.
Như là một phần của truyền thống, thành viên của cộng đồng thay phiên nhau dâng cúng thực phẩm cho chư Tăng mỗi ngày, đồng thời đảm trách những công việc trong khuôn viên ngôi chùa. Trung tâm văn hóa thành lập cho thiếu nhi trong các gia đình Thái, những ai nhiệt tình trong việc tiếp tục giữ gìn truyền thống của họ trên đất nước Hoa Kỳ.
Chavalit, một cư dân vùng Apoka, là thành viên một gia đình đến từ Thái Lan, đã tình nguyện làm việc tại chùa trong 12 năm qua, một Phật tử thuần thành, ông ta nói “Những ngày nghỉ và Chủ Nhật tôi làm việc tại đây”.
Chùa mở cửa bảy ngày trong tuần. Thời khóa biểu tụng niệm nhật hành của chư tăng được sắp xếp ổn định và chủ nhật là ngày dành phục vụ cộng đồng với thời thuyết pháp của Sư trụ trì. Trải qua những tháng, năm , nhiều lễ hội đặc biệt đã được cử hành, thu hút một số quan khách là yếu nhân, ví dụ như tháng Tư vừa rồi, lãnh đạo tôn giáo cao cấp tại Thái Lan đã đến viến thăm vào dịp lễ kỷ niệm 12 năm thành lập chùa.
Vào ngày 24 tháng 7, Phật tử các nơi sẽ tổ chức lễ hội Asalha Puja hoặc là ngày Pháp Bảo để kỷ niệm ngày Ðức Phật chuyển pháp luân và thành lập Tăng Ðoàn, đồng thời cũng là ngày bắt đầu truyền thống an cư kiết hạ.
Tu viện cũng thường xuyên đón tiếp những cuộc viếng thăm của các lớp học từ những Ðại học địa phương như University of Central Florida, Valencia Community College and Rollins College. Rất nhiều sinh viên đã tự mình trở lại chùa, cũng giống như những người Tây phương khác, nhiều người hứng thú với thiền định truyền thống và kỹ thuật thư giản, nhưng đó chỉ là một phần của tiến trình và nhiều người đã tiếp tục tìm hiểu sâu xa hơn về giáo lý Phật giáo qua sự hướng dẫn của chư tăng hoặc qua kinh điển.
Sư trụ trì cho biết thời gian qua đã có hai tu sĩ người Mỹ trú ngụ tại đây và hiện nay thì hai vị này đã sang Thái Lan tu học. Cũng theo Sư trụ trì, Wat Florida Dhammaram là một trong năm ngôi chùa truyền thống nguyên thủy tại Florida. Có tất cả là 44 chùa nguyên thủy trên nước Mỹ.
---------------------
No. 0417 NEW( Hạt Cát dịch)
Học giả đa ngôn ngữ nhận định Ðức Phật đã trở thành một vị Thánh ở Âu Châu
By Kim Ki-tae, Staff Reporter, The Korea Times, July 4, 2005
“Truyền thuyết cổ xưa về Cồ Ðàm Sĩ Ðạt Ta, người khai sáng Phật Giáo, đã lan truyền từ quê hương Ngài sang Âu Châu, nơi mà Ngài trở thành một vị Thánh Thiên Chúa Giáo với tôn danh “Iosaphat”
Ðây là kết luận của một nhóm nghiên cứu Hàn Quốc, những người đã theo đuổi công trình nghiên cứu đa ngôn ngữ về sự lan truyền lịch sử Ðức Phật sang Tây phương.
“Rõ ràng là danh xưng Iosaphat có nguồn gốc nguyên thủy từ chữ Buddha” Paik Seung-wook, một diễn giả Tây Ban Nha (Spanish) tại Ðại Học Quốc Gia Ðại Hàn nói như trên.
Theo ông Paik, khi sự tích của Ðức Phật được lan truyền sang phương Tây thời bấy giờ, danh từ Buddha hoặc Bodhisatta trong tiếng Sankrist dần dần thay đổi cho phù hợp với tính đa dạng trong ngôn ngữ trong với những giai thoại tương tự.
Ví dụ trong tiếng Ba Tư, Buddha, Bodhisatta đổi thành Bodisav trong thế kỷ thứ sáu hoặc thứ bảy, thành Budhasaf hoặc Yudhasaf hồi thế kỷ thứ tám trong thư tịch tiếng Ả Rập và Iodasaph trong tiếng Georgia hồi thế kỷ thứ 10. Danh xưng biến đổi được chấp nhận trong tiếng Hy Lạp là “Iosaph” vào thế kỷ thứ 11 và biến thành “Iosaphat” hoặc “Josaphat” trong tiếng La Tinh kể từ đó.
“Sự biến đổi dần dần của danh xưng cho thấy sự lan truyền lịch sử Ðức Phật sang phương Tây đã đi từ Nepal (nơi Ðức Phật đản sinh) đến Ba Tư, Trung Ðông, Hy Lạp và Âu Châu”, ông Paik nói như trên.
Ông Paik là thành viên của một toán nghiên cứu đảm trách khảo sát văn học giao lưu giữa Ðông Tây. Viện Nghiên Cứu Hàn Quốc đỡ đầu cho cuộc khảo sát này, và kết quả nghiên cứu đã được đăng tải trong tạp chí nhị cá nguyệt “Antiquus” số phát hành tháng Sáu-tháng Bảy.
Với sự lan truyền, truyện tích Ðức Phật đã thêm bớt ít nhiều giai thoại khác nhau theo tính chất đa dạng của những nền tảng tôn giáo khác nhau. Trong giai thoại Hy Lạp, một anh hùng tên Ioasaph, một thái tử Ấn Ðộ, ngày nọ mục kích được cảnh người mù, người bệnh, người già trên đường phố bên ngoài hòang cung, cảnh tượng ấy gây xúc động mạnh nơi vị thái tử vô tư và dẫn dắt Người suy tư về nỗi thống khổ cùng sự hư huyễn của đời sống. Một ngày nọ, một tu sĩ Thiên Chúa giáo tên gọi là Barlaam tới thăm viếng vị thái tử đau khổ và truyền dạy giáo lý cho Người. Sau khi giác ngộ, Ioasaph từ bỏ giá trị thế tục và bắt đầu đời sống khổ hạnh cho đến khi qua đời. Giai thoại này có điểm nổi bật tương tự sự tích Ðức Phật.
Tại Âu Châu, câu truyện được lan truyền tới hầu hết các khu vực, đặc biệt từ thế kỷ thứ 11, và truyện tích anh hùng đã được tôn vinh như một đặc tính của Thiên chúa giáo, không phải Phật giáo.
Ông Paik nói “Có vài điểm khác biệt nhỏ trong nguyên văn kinh điển trong các giai thoại, ví dụ trong giai thoại Ả Rập, thái tử kết hôn với một thiếu nữ, nhưng trong kinh điển Hy Lạp, ngài đã chiến thắng cám dỗ của nữ giới.
Theo ông Paik, trước đó đã có những cuộc nghiên cứu tại Anh và Ðức Quốc trên văn hóa truyền lan về sự tích Ðức Phật đến Âu Châu, nhưng ông nói đây là đợt nghiên cứu đầu tiên mà các học giả đã tiếp cận đề tài trong một phạm trù bao hàm toàn diện và đa ngôn ngữ.
Ông Paik nói “Cuộc nghiên cứu đã dàn trải trên tám ngôn ngữ gồm Bắc Phạn, Anh, Ả Rập, Thổ Nhị Kỳ, Ba Tư, Hy Lạp, La Tinh và Tây Ban Nha. Nhóm chúng tôi nghiên cứu kinh điển nguyên thủy của 6 ngôn ngữ và hai bản khác bằng Anh Ngữ”.
No. 0401 NEW (Tinh Tấn dịch)
Các khóa tu học Phật Pháp cho phụ nữ
Bangkok Post, ngày 11 tháng 7, 2005
Bangkok, Thailand – Hòa thượng Buddhadasa hiện thời luôn luôn xác nhận rằng nữ giới có cùng khả năng như nam giới để đắc đạo quả và Ngài cảm nhận rằng nữ giới học Giáo Pháp từ nữ giới với nhau thì có nhiều hiệu quả hơn và phù hợp với xã hội hơn.
Hòa thượng pháp sư đáng kính Buddhadasa gọi phụ nữ là “Mẹ của Thế Giới” (Dharma Mata).
Vị trụ trì cao cả đáng kính đã hình dung một nơi mà phụ nữ có thể thực hành giáo pháp trọn thời gian và trở thành các vị nữ pháp sư, ngay cả đặt ra một từ đặc biệt cho họ: Mẹ của Thế giới. Vì thế hạt giống của “Tu Viện Ẩn Lâm Mẹ của Thế Giới” được gieo trồng.
Từ khi Hòa thượng Buddhadasa đời trước tạ thế, một nhóm Chư Tăng và thiện tín tại tu viện Suan Mokkh, Tu viện Ẩn Lâm mà Ngài đã sáng lập ở Chaiya, Surat Thani, đã thúc đẩy niềm mong ước của Ngài trở thành hiện thực.
Sau đó, một mảnh đất 40-rai (64 ngàn mét vuông) trong tu viện được dành riêng cho trường nội trú với chương trình giảng dạy giáo pháp đặc biệt để vạch hướng đi cho phụ nữ. Lớp đầu tiên được tổ chức vào năm 2000.
Hiện nay, Tu Viện Ẩn Lâm Mẹ của Thế Giới đón nhận phụ nữ của bất cứ dân tộc nào (nhưng họ phải thông thạo tiếng Thái, trung bình đối với các bài hướng dẫn) , là những vị tâm nguyện tầm cầu giáo pháp. Ba lớp nữa sẽ được tổ chức vào năm nay: hai khóa ngắn hạn 10 ngày (Ngày 6 đến 15 tháng 8 và ngày 3 đến 12 tháng 12) và một khóa tích cực dài hạn bốn tháng, bắt đầu vào ngày 1 tháng 9.
Liên kết với những ngày lễ thiêng liêng Asarnha Bucha (Asalha Puja: Đức Phật Chuyển Pháp Luân; nhằm ngày 21 tháng 7 năm nay) và ngày Khao Phansa (vào ngày 22 tháng 7; bắt đầu Lễ Nhập Hạ), Tu viện Ẩn Lâm tổ chức một ngày Tự do Thăm viếng vào cuối tuần, từ ngày 23 – 24 tháng 7. Những người tham dự có thể ở lại đêm thứ Bảy tại tu viện Suan Mokkh nơi họ có cơ hội thể nhập vào môi trường an tịnh và thiên nhiên cũng như học về những cơ bản kỷ thuật thiền Minh Sát từ các thiền sư ở tu viện.
Sang năm, khi dân chúng Thái làm lễ kỷ niệm sinh nhật bách niên của Hòa thượng Buddhadasa, Tu viện Ẩn Lâm hoạch định tổ chức một khóa thiền bốn tuần cho các bé gái 11 và 12 tuổi; chương trình dự định vào ngày 1 – 30 tháng 4. Các thiếu nữ có thể ghi danh những khóa thiền hai tuần hay bốn tuần được tổ chức suốt năm, bắt đầu từ ngày 7 tháng giêng, 2005.
------------------
No. 0411 NEW(Hạt Cát dịch)
Bất cứ ai cũng có thể giác ngộ.
Ðó là lời của Sư trụ trì Chùa Nguyên Thủy Thái Lan tại Florida.
14 Jul 2005
By Jason Holland News-Gazette Staff Writer
Nằm nép mình cách biệt với xa lộ Old Vineland bận rộn xe cộ, Chùa Florida Dhammaram là một nơi tĩnh mịch tôn nghiêm.
Ðón tiếp từ tín chúng lâu đời cho đến những người mới tới thuộc bất cứ sắc dân nào nhiệt tâm học hỏi, ngôi chùa hướng dẫn Phật tử theo truyền thống Theravada, hệ phái nguyên thủy của Phật Giáo. Phật tử Theravada nhìn nhận niềm tin của mình gần gũi nhất với giáo lý nguyên thủy mà Ðức Phật thuyết giảng, người sau khi giác ngộ, đã khai mở một con đường cho bất cứ ai muốn thoát khỏi sanh tử luân hồi chứng đạt Niết Bàn.
Lý do ngôi chùa được xây dựng là để phục vụ di dân Phật tử, nhưng theo lời của Sư Wijtitrdhammapani, vị trụ trì từ tháng Tư năm 1993, ngôi chùa cũng cống hiến sự tốt lành đến tâm thức của toàn thể cộng đồng bằng cách mở rộng cánh cửa cho tất cả những ai không phải Phật tử nhiệt tâm tìm hiểu.
“Bất cứ ai cũng có thể chứng đạt giác ngộ, nhưng chỉ có một con đường là phải qua hành trì giới luật, giáo lý Phật pháp”. Vị Sư trụ trì 47 tuổi, đến từ Thái Lan và là tu sĩ hơn 30 năm đã nói như trên. Sư nói thêm “Bất cứ ai cũng có thể thực hành giống như Ðức Phật và theo đuổi giáo lý của Ngài”.
Khuôn viên ngôi chùa đã khuếch trương thêm kể từ khi mở cửa năm 1993, ngoài ngôi chính điện, còn có vài cơ sở nhỏ chung quanh như tháp thờ, tịnh thất cho 8 tu sĩ và trụ trì, một trung tâm văn hóa Thái Lan và trai đường.
Sư Wijtirtdhammapani nói “Chúng tôi bắt đầu bằng con số không”
Một chi nhánh Phật giáo tại Thái Lan đã kêu gọi quyên góp tài chánh để xây dựng ngôi chùa. Ða số các công trình nghệ thuật và tôn tượng tại chùa đến từ Thái Lan.
Bên trong ngôi chùa, phía tay phải pho tượng Phật là một màn ảnh truyền hình to tướng và một máy điện não (computer) cá nhân. Những tiện nghi hiện đại này, vật được xem là phương tiện giảng dạy, thiết trí bên cạnh những bức tranh miêu tả chi li nhấn mạnh đến những giai đoạn quan trọng trong lịch sử Ðức Phật và những điểm then chốt của giáo lý.
Như là một phần của truyền thống, thành viên của cộng đồng thay phiên nhau dâng cúng thực phẩm cho chư Tăng mỗi ngày, đồng thời đảm trách những công việc trong khuôn viên ngôi chùa. Trung tâm văn hóa thành lập cho thiếu nhi trong các gia đình Thái, những ai nhiệt tình trong việc tiếp tục giữ gìn truyền thống của họ trên đất nước Hoa Kỳ.
Chavalit, một cư dân vùng Apoka, là thành viên một gia đình đến từ Thái Lan, đã tình nguyện làm việc tại chùa trong 12 năm qua, một Phật tử thuần thành, ông ta nói “Những ngày nghỉ và Chủ Nhật tôi làm việc tại đây”.
Chùa mở cửa bảy ngày trong tuần. Thời khóa biểu tụng niệm nhật hành của chư tăng được sắp xếp ổn định và chủ nhật là ngày dành phục vụ cộng đồng với thời thuyết pháp của Sư trụ trì. Trải qua những tháng, năm , nhiều lễ hội đặc biệt đã được cử hành, thu hút một số quan khách là yếu nhân, ví dụ như tháng Tư vừa rồi, lãnh đạo tôn giáo cao cấp tại Thái Lan đã đến viến thăm vào dịp lễ kỷ niệm 12 năm thành lập chùa.
Vào ngày 24 tháng 7, Phật tử các nơi sẽ tổ chức lễ hội Asalha Puja hoặc là ngày Pháp Bảo để kỷ niệm ngày Ðức Phật chuyển pháp luân và thành lập Tăng Ðoàn, đồng thời cũng là ngày bắt đầu truyền thống an cư kiết hạ.
Tu viện cũng thường xuyên đón tiếp những cuộc viếng thăm của các lớp học từ những Ðại học địa phương như University of Central Florida, Valencia Community College and Rollins College. Rất nhiều sinh viên đã tự mình trở lại chùa, cũng giống như những người Tây phương khác, nhiều người hứng thú với thiền định truyền thống và kỹ thuật thư giản, nhưng đó chỉ là một phần của tiến trình và nhiều người đã tiếp tục tìm hiểu sâu xa hơn về giáo lý Phật giáo qua sự hướng dẫn của chư tăng hoặc qua kinh điển.
Sư trụ trì cho biết thời gian qua đã có hai tu sĩ người Mỹ trú ngụ tại đây và hiện nay thì hai vị này đã sang Thái Lan tu học. Cũng theo Sư trụ trì, Wat Florida Dhammaram là một trong năm ngôi chùa truyền thống nguyên thủy tại Florida. Có tất cả là 44 chùa nguyên thủy trên nước Mỹ.
---------------------
No. 0417 NEW( Hạt Cát dịch)
Học giả đa ngôn ngữ nhận định Ðức Phật đã trở thành một vị Thánh ở Âu Châu
By Kim Ki-tae, Staff Reporter, The Korea Times, July 4, 2005
“Truyền thuyết cổ xưa về Cồ Ðàm Sĩ Ðạt Ta, người khai sáng Phật Giáo, đã lan truyền từ quê hương Ngài sang Âu Châu, nơi mà Ngài trở thành một vị Thánh Thiên Chúa Giáo với tôn danh “Iosaphat”
Ðây là kết luận của một nhóm nghiên cứu Hàn Quốc, những người đã theo đuổi công trình nghiên cứu đa ngôn ngữ về sự lan truyền lịch sử Ðức Phật sang Tây phương.
“Rõ ràng là danh xưng Iosaphat có nguồn gốc nguyên thủy từ chữ Buddha” Paik Seung-wook, một diễn giả Tây Ban Nha (Spanish) tại Ðại Học Quốc Gia Ðại Hàn nói như trên.
Theo ông Paik, khi sự tích của Ðức Phật được lan truyền sang phương Tây thời bấy giờ, danh từ Buddha hoặc Bodhisatta trong tiếng Sankrist dần dần thay đổi cho phù hợp với tính đa dạng trong ngôn ngữ trong với những giai thoại tương tự.
Ví dụ trong tiếng Ba Tư, Buddha, Bodhisatta đổi thành Bodisav trong thế kỷ thứ sáu hoặc thứ bảy, thành Budhasaf hoặc Yudhasaf hồi thế kỷ thứ tám trong thư tịch tiếng Ả Rập và Iodasaph trong tiếng Georgia hồi thế kỷ thứ 10. Danh xưng biến đổi được chấp nhận trong tiếng Hy Lạp là “Iosaph” vào thế kỷ thứ 11 và biến thành “Iosaphat” hoặc “Josaphat” trong tiếng La Tinh kể từ đó.
“Sự biến đổi dần dần của danh xưng cho thấy sự lan truyền lịch sử Ðức Phật sang phương Tây đã đi từ Nepal (nơi Ðức Phật đản sinh) đến Ba Tư, Trung Ðông, Hy Lạp và Âu Châu”, ông Paik nói như trên.
Ông Paik là thành viên của một toán nghiên cứu đảm trách khảo sát văn học giao lưu giữa Ðông Tây. Viện Nghiên Cứu Hàn Quốc đỡ đầu cho cuộc khảo sát này, và kết quả nghiên cứu đã được đăng tải trong tạp chí nhị cá nguyệt “Antiquus” số phát hành tháng Sáu-tháng Bảy.
Với sự lan truyền, truyện tích Ðức Phật đã thêm bớt ít nhiều giai thoại khác nhau theo tính chất đa dạng của những nền tảng tôn giáo khác nhau. Trong giai thoại Hy Lạp, một anh hùng tên Ioasaph, một thái tử Ấn Ðộ, ngày nọ mục kích được cảnh người mù, người bệnh, người già trên đường phố bên ngoài hòang cung, cảnh tượng ấy gây xúc động mạnh nơi vị thái tử vô tư và dẫn dắt Người suy tư về nỗi thống khổ cùng sự hư huyễn của đời sống. Một ngày nọ, một tu sĩ Thiên Chúa giáo tên gọi là Barlaam tới thăm viếng vị thái tử đau khổ và truyền dạy giáo lý cho Người. Sau khi giác ngộ, Ioasaph từ bỏ giá trị thế tục và bắt đầu đời sống khổ hạnh cho đến khi qua đời. Giai thoại này có điểm nổi bật tương tự sự tích Ðức Phật.
Tại Âu Châu, câu truyện được lan truyền tới hầu hết các khu vực, đặc biệt từ thế kỷ thứ 11, và truyện tích anh hùng đã được tôn vinh như một đặc tính của Thiên chúa giáo, không phải Phật giáo.
Ông Paik nói “Có vài điểm khác biệt nhỏ trong nguyên văn kinh điển trong các giai thoại, ví dụ trong giai thoại Ả Rập, thái tử kết hôn với một thiếu nữ, nhưng trong kinh điển Hy Lạp, ngài đã chiến thắng cám dỗ của nữ giới.
Theo ông Paik, trước đó đã có những cuộc nghiên cứu tại Anh và Ðức Quốc trên văn hóa truyền lan về sự tích Ðức Phật đến Âu Châu, nhưng ông nói đây là đợt nghiên cứu đầu tiên mà các học giả đã tiếp cận đề tài trong một phạm trù bao hàm toàn diện và đa ngôn ngữ.
Ông Paik nói “Cuộc nghiên cứu đã dàn trải trên tám ngôn ngữ gồm Bắc Phạn, Anh, Ả Rập, Thổ Nhị Kỳ, Ba Tư, Hy Lạp, La Tinh và Tây Ban Nha. Nhóm chúng tôi nghiên cứu kinh điển nguyên thủy của 6 ngôn ngữ và hai bản khác bằng Anh Ngữ”.
Thứ Năm, 21 tháng 7, 2005
Nhật Hành
Ngày: 21 Tháng 07 năm 2005
Tri chúng: Nhu Khanh
Tri chúng điền khuyết: Hạt Cát
Môn học: Lớp Phật Pháp Phổ Thông
Bài học: “Nghiệp phân theo chức năng”
Giảng sư chính: TT Trí Siêu
Giảng sư điền khuyết: Sư Trưởng
Vị Tăng hoặc Ni nói lời cầu nguyện đầu lớp học: DD Minh Hanh
Xướng ngôn viên: Diệu Khiêm, Ly Khổ, Chánh Hạnh,
Xướng ngôn viên và điền khuyết cho bài học:Phần 1: .., đk: ..// Hoi Hướng: Nhu Khanh , đk: .. http://baidocmc.blogspot.com/
Xướng ngôn viên cho phần Đố Vui:
Người mở room: mindvox,
Người mở nhạc và kinh tụng: mindvox, anitya
Người post bài cho Room: Nhu Phuc
Người post bài riêng cho chư Tăng: Nhu Phuc
Trực room (op):
Ngày: 21 Tháng 07 năm 2005
Tri chúng: Nhu Khanh
Tri chúng điền khuyết: Hạt Cát
Môn học: Lớp Phật Pháp Phổ Thông
Bài học: “Nghiệp phân theo chức năng”
Giảng sư chính: TT Trí Siêu
Giảng sư điền khuyết: Sư Trưởng
Vị Tăng hoặc Ni nói lời cầu nguyện đầu lớp học: DD Minh Hanh
Xướng ngôn viên: Diệu Khiêm, Ly Khổ, Chánh Hạnh,
Xướng ngôn viên và điền khuyết cho bài học:Phần 1: .., đk: ..// Hoi Hướng: Nhu Khanh , đk: .. http://baidocmc.blogspot.com/
Xướng ngôn viên cho phần Đố Vui:
Người mở room: mindvox,
Người mở nhạc và kinh tụng: mindvox, anitya
Người post bài cho Room: Nhu Phuc
Người post bài riêng cho chư Tăng: Nhu Phuc
Trực room (op):
Lớp Phật pháp phổ thông
Nghiệp phân theo chức năng
Các tiêu đề:
1. Sanh nghiệp (janakakamma)
Quan điểm a: Hành động thiện ác là nghiệp dị thời tạo quả dị thục có khổ có vui
Quan điểm b: Nghiệp có chức năng sản sanh ra tâm quả và sắc nghiệp
Quan điểm c: Nghiệp quả phạm trù siêu thế là loại sanh nghiệp đặc biệt
2. Trì nghiệp (upatthambhakakamma)
Quan điểm a: Nghiệp có chức năng duy trì quả dị thục để kéo dài thời gian cảm thọ vui khổ
Quan điểm b: Trì nghiệp là cái bóng của sanh nghiệp
Quan điểm c: Có thứ nghiệp nào thành sanh nghiệp mà không thành trì nghiệp?
3. Chướng nghiệp (upapīlakakamma)
Quan điểm a: Nghiệp có chức năng ngăn ngại sự trổ quả của nghiệp khác
Quan điểm b: Chướng nghiệp là loại nghiệp có tốt có xấu
Quan điểm c: Một hành động nghư thế nào mới gọi là chướng nghiệp?
4. Đoạn nghiệp (upaghātakakamma)
Quan điểm a: Cùng loại với chướng nghiệp nhưng mạnh hơn, nên có khả năng phá vỡ nghiệp đối lập
Quan điểm b: Ác nghiệp có đôi khi làm mất hiệu lực thiện nghiệp ba-la-mật
Quan điểm c: Cũng có trường hợp thiện nghiệp ba-la-mật có mãnh lực phá vỡ ác nghiệp
Phần thảo luận:
Do chư Tăng chủ trì
------------------------
Câu đố vui:
1. Một hành động thiện hay ác đều có 4 chức năng là sanh nghiệp, trì nghiệp, chướng nghiệp và đoạn nghiệp:
a. Đúng, vì thiện nghiệp hoặc ác nghiệp đều có nghiệp đồng loại và nghiệp đối lập với nó
b. Không hẳn, vì có trường hợp người làm thiện nhưng không thể cải chuyển được ác nghiệp và ngược lại người làm ác đôi khi cũng thành tựu đời sống hạnh phúc
c. Cần phân tích rõ mãnh lực mạnh hay yếu của nghiệp ấy mà nói
d. Cả ba câu đều đúng
2. Một vị thánh A-la-hán đôi khi cũng gặt hái quả của nghiệp quá khứ. Điều đó:
a. Chứng minh rằng thánh đạo thánh quả không đủ khả năng giải trừ nghiệp quả.
b. Cần hiểu rằng có những thứ nghiệp quá khứ mãnh lực cố định nên không chuyển được
c. Đây chỉ là định luật nghiệp quả tự nhiên không cần cải chuyển
d. Câu b và c đúng
3. Người tu tập cần phải tạo nhiều thiện nghiệp để cải chuyển ác nghiệp:
a. Bởi vì ác nghiệp chi phối làm cho trở ngại sự an vui tiến hoá
b. Bởi vì phá vỡ được ác nghiệp sẽ được giải thoát
c. Đó chỉ là lẽ tự nhiên không cần cải chuyển, như ánh sáng xuất hiện thì bóng tối biến mất.
d. Cả ba câu đều sai
Nghiệp phân theo chức năng
Các tiêu đề:
1. Sanh nghiệp (janakakamma)
Quan điểm a: Hành động thiện ác là nghiệp dị thời tạo quả dị thục có khổ có vui
Quan điểm b: Nghiệp có chức năng sản sanh ra tâm quả và sắc nghiệp
Quan điểm c: Nghiệp quả phạm trù siêu thế là loại sanh nghiệp đặc biệt
2. Trì nghiệp (upatthambhakakamma)
Quan điểm a: Nghiệp có chức năng duy trì quả dị thục để kéo dài thời gian cảm thọ vui khổ
Quan điểm b: Trì nghiệp là cái bóng của sanh nghiệp
Quan điểm c: Có thứ nghiệp nào thành sanh nghiệp mà không thành trì nghiệp?
3. Chướng nghiệp (upapīlakakamma)
Quan điểm a: Nghiệp có chức năng ngăn ngại sự trổ quả của nghiệp khác
Quan điểm b: Chướng nghiệp là loại nghiệp có tốt có xấu
Quan điểm c: Một hành động nghư thế nào mới gọi là chướng nghiệp?
4. Đoạn nghiệp (upaghātakakamma)
Quan điểm a: Cùng loại với chướng nghiệp nhưng mạnh hơn, nên có khả năng phá vỡ nghiệp đối lập
Quan điểm b: Ác nghiệp có đôi khi làm mất hiệu lực thiện nghiệp ba-la-mật
Quan điểm c: Cũng có trường hợp thiện nghiệp ba-la-mật có mãnh lực phá vỡ ác nghiệp
Phần thảo luận:
Do chư Tăng chủ trì
------------------------
Câu đố vui:
1. Một hành động thiện hay ác đều có 4 chức năng là sanh nghiệp, trì nghiệp, chướng nghiệp và đoạn nghiệp:
a. Đúng, vì thiện nghiệp hoặc ác nghiệp đều có nghiệp đồng loại và nghiệp đối lập với nó
b. Không hẳn, vì có trường hợp người làm thiện nhưng không thể cải chuyển được ác nghiệp và ngược lại người làm ác đôi khi cũng thành tựu đời sống hạnh phúc
c. Cần phân tích rõ mãnh lực mạnh hay yếu của nghiệp ấy mà nói
d. Cả ba câu đều đúng
2. Một vị thánh A-la-hán đôi khi cũng gặt hái quả của nghiệp quá khứ. Điều đó:
a. Chứng minh rằng thánh đạo thánh quả không đủ khả năng giải trừ nghiệp quả.
b. Cần hiểu rằng có những thứ nghiệp quá khứ mãnh lực cố định nên không chuyển được
c. Đây chỉ là định luật nghiệp quả tự nhiên không cần cải chuyển
d. Câu b và c đúng
3. Người tu tập cần phải tạo nhiều thiện nghiệp để cải chuyển ác nghiệp:
a. Bởi vì ác nghiệp chi phối làm cho trở ngại sự an vui tiến hoá
b. Bởi vì phá vỡ được ác nghiệp sẽ được giải thoát
c. Đó chỉ là lẽ tự nhiên không cần cải chuyển, như ánh sáng xuất hiện thì bóng tối biến mất.
d. Cả ba câu đều sai
Thứ Tư, 20 tháng 7, 2005
Nhật Hành
Ngày: 20 Tháng 07 năm 2005
Tri chúng: Khanh Van
Tri chúngđiền khuyết:
Môn học: Phật Giáo Sử
Bài học:
Giảng sư chính: Ty Kheo Tuệ Siêu
Giảng sư điền khuyết:
Vị Tăng hoặc Ni nói lời cầu nguyện đầu lớp học: DD minh hanh
Xướng ngôn viên: Như Khanh, Tinh Tấn, Khánh Văn, Hạt Cát
Xướng ngôn viên cho bài học: Phan1: ..., đk: ... // Hoi Huong: http://baidocmc.blogspot.com/
Xướng ngôn viên cho tin tức:
Người mở room: Diệu Quang va mindvox
Người mở nhạc và kinh tụng: Diệu Quang và anitya
Người post bài cho Room: mindvox , anitya và Nhu Phuc
Người post và gửi bài riêng cho chư Tăng: Nhu Phuc
Trực room (op): Nhu Phuc
Thông báo (nếu có):
Ngày: 20 Tháng 07 năm 2005
Tri chúng: Khanh Van
Tri chúngđiền khuyết:
Môn học: Phật Giáo Sử
Bài học:
Giảng sư chính: Ty Kheo Tuệ Siêu
Giảng sư điền khuyết:
Vị Tăng hoặc Ni nói lời cầu nguyện đầu lớp học: DD minh hanh
Xướng ngôn viên: Như Khanh, Tinh Tấn, Khánh Văn, Hạt Cát
Xướng ngôn viên cho bài học: Phan1: ..., đk: ... // Hoi Huong: http://baidocmc.blogspot.com/
Xướng ngôn viên cho tin tức:
Người mở room: Diệu Quang va mindvox
Người mở nhạc và kinh tụng: Diệu Quang và anitya
Người post bài cho Room: mindvox , anitya và Nhu Phuc
Người post và gửi bài riêng cho chư Tăng: Nhu Phuc
Trực room (op): Nhu Phuc
Thông báo (nếu có):
Lớp Lịch Sử Phật Giáo
Bài 6: Sau Đêm Thành Đạo (tiếp theo)
Tạng Luật (Vinaya Pitaka) - Đại Phẩm (Mahāvagga ) -Tỳ-khưu Indacanda Nguyệt Thiên dịch
[11] Đạo sĩ lõa thể Upaka đã nhìn thấy đức Thế Tôn đang đi bộ đường xa ở khoảng giữa Gayā và cội bồ đề, sau khi nhìn thấy đã nói với đức Thế Tôn điều này:
- Này đạo hữu (āvuso), các giác quan của đạo hữu được trầm tĩnh, màu da được thanh tịnh và trong sáng. Này đạo hữu, nhờ ai mà đạo hữu đã xuất gia? Ai là thầy của đạo hữu? Đạo hữu hoan hỷ với pháp của vị nào?
Khi được nói như thế, đức Thế Tôn đã nói với đạo sĩ lõa thể Upaka bằng những lời kệ này:
Ta vượt trên tất cả
hiểu biết được toàn bộ,
không còn bị vướng mắc
trong tất cả các Pháp,
đã đoạn tận tất cả,
ái diệt, đã giải thoát,
do tự mình chứng đắc
còn ai dạy được ta?
Không có ai thầy ta,
bằng ta, tìm chẳng thấy,
trong thế giới người trời
bằng được ta, không ai.
Vì ta bậc Ứng Cúng
Vô Thượng Sư đời này
là bậc Chánh Đẳng Giác
ta tịch lặng Niết Bàn.
Ta đi thành Kāsī
vận hành bánh xe Pháp
đánh tiếng trống bất tử
trong thế gian người mù.
- Này đạo hữu, theo như đạo hữu cho biết thì đạo hữu xứng đáng là vị Jina (Chiến Thắng) vô biên.
(Đức Phật đáp lại rằng): - Này Upaka,
các Jina giống ta,
các vị đạt lậu tận,
chiến thắng các ác pháp,
vậy ta là Jina.
Khi được nói như thế, đạo sĩ lõa thể Upaka đã nói rằng:
- Này đạo hữu, có thể là như vậy. Rồi đã gục gặc cái đầu, rẽ sang con đường khác, và bỏ đi.
[12] Sau đó, trong khi tuần tự du hành đức Thế Tôn đã ngự đến thành Bārāṇasī, Isipatana, nơi vườn nai và đã đi đến gặp các tỳ khưu nhóm năm vị. Các tỳ khưu nhóm năm vị đã nhìn thấy đức Thế Tôn từ đàng xa đang đi lại, sau khi nhìn thấy các vị đã bàn bạc với nhau rằng:
- Này các vị, Sa-môn Gotama ấy đang đi đến. Ông ta là kẻ lợi dưỡng, đã bỏ dở dang việc nỗ lực và quay trở lại cuộc sống sung túc. Ông ta không đáng để đảnh lễ, không đáng để đứng dậy chào, y bát của ông ta không đáng để đón nhận, và chỗ ngồi cũng không cần đặt thêm, nếu ông ta muốn thì ông ta cứ việc ngồi.
Nhưng khi đức Thế Tôn càng đi đến gần thì các tỳ khưu nhóm năm vị ấy không còn tuân theo điều bàn bạc của họ nữa và đã đi ra tiếp đón đức Thế Tôn, một vị đã nhận lấy y bát của đức Thế Tôn, một vị đã sắp đặt chỗ ngồi, một vị đã đem lại nước rửa chân, ghế kê chân, tấm chà chân. Đức Thế Tôn đã ngồi xuống trên chỗ ngồi được sắp đặt sẵn. Sau khi ngồi xuống, đức Thế Tôn đã rửa hai chân. Tuy nhiên, các vị vẫn xưng hô với đức Thế Tôn bằng tên và bằng tiếng gọi “Đạo hữu” (āvuso). Khi được xưng hô như thế, đức Thế Tôn đã nói với các tỳ khưu nhóm năm vị điều này:
- Này các tỳ khưu, chớ có xưng hô với đức Như Lai bằng tên và bằng tiếng gọi “Đạo hữu.” Này các tỳ khưu, đức Như Lai là vị A-la-hán Chánh Đẳng Giác. Này các tỳ khưu, hãy lắng tai nghe, ta sẽ chỉ dạy pháp Bất Tử đã đạt được, ta sẽ thuyết giảng Giáo Pháp. Trong khi thực hành theo như đã được chỉ dạy thì chẳng bao lâu sau ngay trong kiếp hiện tại này, các vị nhờ vào thắng trí sẽ tự mình thực chứng, đạt đến, và an trú vào điểm tối thượng ấy là đích cuối cùng của Phạm hạnh, vì mục đích này mà những người con trai của các gia đình cao quý rời nhà, xuất gia, sống không nhà một cách chân chánh.
Khi được nói như thế, các tỳ khưu nhóm năm vị đã nói với đức Thế Tôn điều này:
- Này đạo hữu Gotama, bằng hạnh kiểm ấy, bằng sự thực hành ấy, bằng việc theo đuổi khổ hạnh ấy còn không đạt đến pháp thượng nhân và sự siêu việt của tri kiến xứng đáng với bậc thánh, còn giờ đây là kẻ lợi dưỡng, đã bỏ dở dang việc nỗ lực, và quay trở lại cuộc sống sung túc, làm thế nào đạo hữư lại đạt đến pháp thượng nhân và sự siêu việt của tri kiến xứng đáng với bậc thánh?
Khi được nói như thế, đức Thế Tôn đã nói với các tỳ khưu nhóm năm vị điều này:
- Này các tỳ khưu, đức Như Lai không phải là kẻ lợi dưỡng, không bỏ dở dang việc nỗ lực, và không quay trở lại cuộc sống sung túc. Này các tỳ khưu, đức Như Lai là vị A-la-hán Chánh Đẳng Giác. Này các tỳ khưu, hãy lắng tai nghe, ta sẽ chỉ dạy pháp Bất Tử đã đạt được, ta sẽ thuyết giảng Giáo Pháp. Trong khi thực hành theo như đã được chỉ dạy thì chẳng bao lâu sau ngay trong kiếp hiện tại này, các vị nhờ vào thắng trí sẽ tự mình thực chứng, đạt đến, và an trú vào điểm tối thượng ấy là đích cuối cùng của Phạm hạnh, vì mục đích này mà những người con trai của các gia đình cao quý rời nhà, xuất gia, sống không nhà một cách chân chánh.
Đến lần thứ nhì, các tỳ khưu nhóm năm vị đã nói với đức Thế Tôn điều này:
...(như trên)...
Đến lần thứ nhì, đức Thế Tôn đã nói với các tỳ khưu nhóm năm vị điều này:
...(như trên)...
Đến lần thứ ba, các tỳ khưu nhóm năm vị đã nói với đức Thế Tôn điều này:
- Này đạo hữu Gotama, bằng hạnh kiểm ấy, bằng sự thực hành ấy, bằng việc theo đuổi khổ hạnh ấy còn không đạt đến pháp thượng nhân và sự siêu việt của tri kiến xứng đáng với bậc thánh, còn giờ đây là kẻ lợi dưỡng, đã bỏ dở dang việc nỗ lực, và quay trở lại cuộc sống sung túc, làm thế nào đạo hữu lại đạt đến pháp thượng nhân và sự siêu việt của tri kiến xứng đáng với bậc thánh?
Khi được nói như thế, đức Thế Tôn đã nói với các tỳ khưu nhóm năm vị rằng:
- Này các tỳ khưu, các vị có nhận ra rằng điều này đã không được ta nói ra trước đây hay không?
- Bạch ngài, điều này không có (được nói).
- Này các tỳ khưu, đức Như Lai là vị A-la-hán Chánh Đẳng Giác. Này các tỳ khưu, hãy lắng tai nghe, ta sẽ chỉ dạy pháp Bất Tử đã đạt được, ta sẽ thuyết giảng Giáo Pháp. Trong khi thực hành theo như đã được chỉ dạy thì chẳng bao lâu sau ngay trong kiếp hiện tại này, các vị nhờ vào thắng trí sẽ tự mình thực chứng, đạt đến, và an trú vào điểm tối thượng ấy là đích cuối cùng của Phạm hạnh, vì mục đích này mà những người con trai của các gia đình cao quý rời nhà, xuất gia, sống không nhà một cách chân chánh.
Đức Thế Tôn đã có thể thuyết phục các tỳ khưu nhóm năm vị. Sau đó, các tỳ khưu nhóm năm vị đã lắng nghe, đã lắng tai, đã phục vụ bằng tâm ý khác.
CÂU ĐỐ VUI:
1. Khi gặp đức Phật, có một vài người không khởi tâm tịnh tín và không lãnh hội được giáo pháp do Ngài thuyết. Điều đó là do:
a. Đức Phật thiếu khả năng giáo hoá chúng sanh
b. Những chúng sanh ấy không có duyên với đức Phật
c. Những chúng sanh ấy có ác tà kiến che lấp
d. Chúng sanh ấy không có trí để hiểu giáo pháp
2. Đức Phật cảm hoá ngoại đạo bằng cách:
a. Ngài thị hiện thần thông cho họ phục
b. Ngài dùng đức độ uy nghi của một vị Phật cho họ kính phục
c. Ngài thuyết pháp với văn nghĩa cụ túc cho họ hiểu
d. Có thể Ngài dùng một trong ba cách trên
3. Năm thầy Kiều-trần-như bị đức Phật thuyết phục bởi lý do:
a. Vì họ thấy phong thái của Ngài
b. Vì họ hiểu được pháp của Ngài
c. Vì thái độ cương quyết và trung thực của Ngài
d. Câu a và c đúng
Bài 6: Sau Đêm Thành Đạo (tiếp theo)
Tạng Luật (Vinaya Pitaka) - Đại Phẩm (Mahāvagga ) -Tỳ-khưu Indacanda Nguyệt Thiên dịch
[11] Đạo sĩ lõa thể Upaka đã nhìn thấy đức Thế Tôn đang đi bộ đường xa ở khoảng giữa Gayā và cội bồ đề, sau khi nhìn thấy đã nói với đức Thế Tôn điều này:
- Này đạo hữu (āvuso), các giác quan của đạo hữu được trầm tĩnh, màu da được thanh tịnh và trong sáng. Này đạo hữu, nhờ ai mà đạo hữu đã xuất gia? Ai là thầy của đạo hữu? Đạo hữu hoan hỷ với pháp của vị nào?
Khi được nói như thế, đức Thế Tôn đã nói với đạo sĩ lõa thể Upaka bằng những lời kệ này:
Ta vượt trên tất cả
hiểu biết được toàn bộ,
không còn bị vướng mắc
trong tất cả các Pháp,
đã đoạn tận tất cả,
ái diệt, đã giải thoát,
do tự mình chứng đắc
còn ai dạy được ta?
Không có ai thầy ta,
bằng ta, tìm chẳng thấy,
trong thế giới người trời
bằng được ta, không ai.
Vì ta bậc Ứng Cúng
Vô Thượng Sư đời này
là bậc Chánh Đẳng Giác
ta tịch lặng Niết Bàn.
Ta đi thành Kāsī
vận hành bánh xe Pháp
đánh tiếng trống bất tử
trong thế gian người mù.
- Này đạo hữu, theo như đạo hữu cho biết thì đạo hữu xứng đáng là vị Jina (Chiến Thắng) vô biên.
(Đức Phật đáp lại rằng): - Này Upaka,
các Jina giống ta,
các vị đạt lậu tận,
chiến thắng các ác pháp,
vậy ta là Jina.
Khi được nói như thế, đạo sĩ lõa thể Upaka đã nói rằng:
- Này đạo hữu, có thể là như vậy. Rồi đã gục gặc cái đầu, rẽ sang con đường khác, và bỏ đi.
[12] Sau đó, trong khi tuần tự du hành đức Thế Tôn đã ngự đến thành Bārāṇasī, Isipatana, nơi vườn nai và đã đi đến gặp các tỳ khưu nhóm năm vị. Các tỳ khưu nhóm năm vị đã nhìn thấy đức Thế Tôn từ đàng xa đang đi lại, sau khi nhìn thấy các vị đã bàn bạc với nhau rằng:
- Này các vị, Sa-môn Gotama ấy đang đi đến. Ông ta là kẻ lợi dưỡng, đã bỏ dở dang việc nỗ lực và quay trở lại cuộc sống sung túc. Ông ta không đáng để đảnh lễ, không đáng để đứng dậy chào, y bát của ông ta không đáng để đón nhận, và chỗ ngồi cũng không cần đặt thêm, nếu ông ta muốn thì ông ta cứ việc ngồi.
Nhưng khi đức Thế Tôn càng đi đến gần thì các tỳ khưu nhóm năm vị ấy không còn tuân theo điều bàn bạc của họ nữa và đã đi ra tiếp đón đức Thế Tôn, một vị đã nhận lấy y bát của đức Thế Tôn, một vị đã sắp đặt chỗ ngồi, một vị đã đem lại nước rửa chân, ghế kê chân, tấm chà chân. Đức Thế Tôn đã ngồi xuống trên chỗ ngồi được sắp đặt sẵn. Sau khi ngồi xuống, đức Thế Tôn đã rửa hai chân. Tuy nhiên, các vị vẫn xưng hô với đức Thế Tôn bằng tên và bằng tiếng gọi “Đạo hữu” (āvuso). Khi được xưng hô như thế, đức Thế Tôn đã nói với các tỳ khưu nhóm năm vị điều này:
- Này các tỳ khưu, chớ có xưng hô với đức Như Lai bằng tên và bằng tiếng gọi “Đạo hữu.” Này các tỳ khưu, đức Như Lai là vị A-la-hán Chánh Đẳng Giác. Này các tỳ khưu, hãy lắng tai nghe, ta sẽ chỉ dạy pháp Bất Tử đã đạt được, ta sẽ thuyết giảng Giáo Pháp. Trong khi thực hành theo như đã được chỉ dạy thì chẳng bao lâu sau ngay trong kiếp hiện tại này, các vị nhờ vào thắng trí sẽ tự mình thực chứng, đạt đến, và an trú vào điểm tối thượng ấy là đích cuối cùng của Phạm hạnh, vì mục đích này mà những người con trai của các gia đình cao quý rời nhà, xuất gia, sống không nhà một cách chân chánh.
Khi được nói như thế, các tỳ khưu nhóm năm vị đã nói với đức Thế Tôn điều này:
- Này đạo hữu Gotama, bằng hạnh kiểm ấy, bằng sự thực hành ấy, bằng việc theo đuổi khổ hạnh ấy còn không đạt đến pháp thượng nhân và sự siêu việt của tri kiến xứng đáng với bậc thánh, còn giờ đây là kẻ lợi dưỡng, đã bỏ dở dang việc nỗ lực, và quay trở lại cuộc sống sung túc, làm thế nào đạo hữư lại đạt đến pháp thượng nhân và sự siêu việt của tri kiến xứng đáng với bậc thánh?
Khi được nói như thế, đức Thế Tôn đã nói với các tỳ khưu nhóm năm vị điều này:
- Này các tỳ khưu, đức Như Lai không phải là kẻ lợi dưỡng, không bỏ dở dang việc nỗ lực, và không quay trở lại cuộc sống sung túc. Này các tỳ khưu, đức Như Lai là vị A-la-hán Chánh Đẳng Giác. Này các tỳ khưu, hãy lắng tai nghe, ta sẽ chỉ dạy pháp Bất Tử đã đạt được, ta sẽ thuyết giảng Giáo Pháp. Trong khi thực hành theo như đã được chỉ dạy thì chẳng bao lâu sau ngay trong kiếp hiện tại này, các vị nhờ vào thắng trí sẽ tự mình thực chứng, đạt đến, và an trú vào điểm tối thượng ấy là đích cuối cùng của Phạm hạnh, vì mục đích này mà những người con trai của các gia đình cao quý rời nhà, xuất gia, sống không nhà một cách chân chánh.
Đến lần thứ nhì, các tỳ khưu nhóm năm vị đã nói với đức Thế Tôn điều này:
...(như trên)...
Đến lần thứ nhì, đức Thế Tôn đã nói với các tỳ khưu nhóm năm vị điều này:
...(như trên)...
Đến lần thứ ba, các tỳ khưu nhóm năm vị đã nói với đức Thế Tôn điều này:
- Này đạo hữu Gotama, bằng hạnh kiểm ấy, bằng sự thực hành ấy, bằng việc theo đuổi khổ hạnh ấy còn không đạt đến pháp thượng nhân và sự siêu việt của tri kiến xứng đáng với bậc thánh, còn giờ đây là kẻ lợi dưỡng, đã bỏ dở dang việc nỗ lực, và quay trở lại cuộc sống sung túc, làm thế nào đạo hữu lại đạt đến pháp thượng nhân và sự siêu việt của tri kiến xứng đáng với bậc thánh?
Khi được nói như thế, đức Thế Tôn đã nói với các tỳ khưu nhóm năm vị rằng:
- Này các tỳ khưu, các vị có nhận ra rằng điều này đã không được ta nói ra trước đây hay không?
- Bạch ngài, điều này không có (được nói).
- Này các tỳ khưu, đức Như Lai là vị A-la-hán Chánh Đẳng Giác. Này các tỳ khưu, hãy lắng tai nghe, ta sẽ chỉ dạy pháp Bất Tử đã đạt được, ta sẽ thuyết giảng Giáo Pháp. Trong khi thực hành theo như đã được chỉ dạy thì chẳng bao lâu sau ngay trong kiếp hiện tại này, các vị nhờ vào thắng trí sẽ tự mình thực chứng, đạt đến, và an trú vào điểm tối thượng ấy là đích cuối cùng của Phạm hạnh, vì mục đích này mà những người con trai của các gia đình cao quý rời nhà, xuất gia, sống không nhà một cách chân chánh.
Đức Thế Tôn đã có thể thuyết phục các tỳ khưu nhóm năm vị. Sau đó, các tỳ khưu nhóm năm vị đã lắng nghe, đã lắng tai, đã phục vụ bằng tâm ý khác.
CÂU ĐỐ VUI:
1. Khi gặp đức Phật, có một vài người không khởi tâm tịnh tín và không lãnh hội được giáo pháp do Ngài thuyết. Điều đó là do:
a. Đức Phật thiếu khả năng giáo hoá chúng sanh
b. Những chúng sanh ấy không có duyên với đức Phật
c. Những chúng sanh ấy có ác tà kiến che lấp
d. Chúng sanh ấy không có trí để hiểu giáo pháp
2. Đức Phật cảm hoá ngoại đạo bằng cách:
a. Ngài thị hiện thần thông cho họ phục
b. Ngài dùng đức độ uy nghi của một vị Phật cho họ kính phục
c. Ngài thuyết pháp với văn nghĩa cụ túc cho họ hiểu
d. Có thể Ngài dùng một trong ba cách trên
3. Năm thầy Kiều-trần-như bị đức Phật thuyết phục bởi lý do:
a. Vì họ thấy phong thái của Ngài
b. Vì họ hiểu được pháp của Ngài
c. Vì thái độ cương quyết và trung thực của Ngài
d. Câu a và c đúng
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)