Chủ Nhật, 1 tháng 3, 2015
KINH PHẬT TỰ THUYẾT - UDÀNA
CHƯƠNG 6 - PHẨM PHẨM SANH RA ÐÃ MÙ
HT Minh Châu dịch Việt
(IX) (Ud 72) 9. Kinh Đến Gần Rồi Vượt Qua
Như vầy tôi nghe:
Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, khu vườn của ông Anàathapindika. Lúc bấy giờ, Thế Tôn đang ngồi giữa trời, trong đêm tối mù mịt, với những cây đèn dầu đang chói sáng. Lúc bấy giờ, nhiều loại côn trùng có cánh tiếp tục rơi vào trong những đèn dầu ấy và gặp phải tai nạn, gặp phải hoại diệt, gặp phải tai nạn hoại diệt. Thế Tôn thấy nhiều loại côn trùng có cánh tiếp tục rơi vào...
Rồi Thế Tôn, sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy nói lên lời cảm hứng:
9. Họ chạy gấp vượt qua,
Nhưng bỏ mất lối cây,
Họ làm cho tăng trưởng,
Các trói buộc mới mẻ,
Như các loại côn trùng,
Rơi vào trong ánh sáng,
Có người sống dựa vào
Ðiều được thấy được nghe.
Thứ Sáu, 27 tháng 2, 2015
PARIS, ngày 26.2.2015 (PTTPGQT) – Văn phòng II Viện Hoá Đạo vừa gửi đến Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế để phổ biến “Thông bạch Đại lão Hoà thượng Thích Như Đạt, Viện trưởng Viện Hoá Đạo vừa Viên tịch”, và Lá Thư Trong Tuần số 14. Kính xin mời chư liệt vị xem toàn văn hai văn kiện ấy sau đây :
| Chân dung Đại lão Hoà thượng Thích Như Đạt, Viện trưởng Viện Hoá Đạo GHPGVNTN |
Phật lịch 2558 Số 75 /VP2VHĐ/CT
KHẤP BÁO
ĐẠI LÃO HÒA THƯỢNG THÍCH NHƯ ĐẠT
VIỆN TRƯỞNG VIỆN HÓA ĐẠO VỪA VIÊN TỊCH
VIỆN TRƯỞNG VIỆN HÓA ĐẠO VỪA VIÊN TỊCH
Đại lão Hoà thượng Thích Như Đạt, Viện trưởng Viện Hoá Đạo vừa viên tịch vào lúc 6 giờ sáng ngày mồng 8 tháng giêng năm Ất Mùi nhằm ngày 26/02/2015 (theo ngày giờ Việt Nam) thế thọ 87 năm, lạp thọ 58 năm.
Tang lễ được tổ chức tại chùa Long Quang, Huế.
Lễ nhập kim quan vào lúc 8 giờ sáng ngày 27.2.2015.
Lễ nhập tháp vào lúc 8 giờ sáng 3.3.2015.
Văn Phòng II Viện Hoá Đạo sẽ tổ chức Lễ Thọ Tang ngày Chủ Nhật 1.3.2015 tại chùa Pháp Luân 13913 South Post Oak Rd – Houston TX 77045. Lễ Chung Thất tổ chức tại chùa Phật Quang 17101 A Lane – Huntington Beach CA 92647. Những tuần thất khác sẽ tổ chức tại nhiều địa phương tại Hoa Kỳ sẽ được thông báo sau.
Sự ra đi của Hoà thượng Viện trưởng Viện Hoá Đạo là mất mát lớn lao đối với Phật giáo Việt Nam. Ngài là bậc lãnh đạo lèo lái con thuyền Giáo Hội trong giai đoạn cực kỳ tế nhị và nhiều thay đổi.
Văn Phòng II Viện Hoá Đạo kêu gọi tất cả đơn vị cơ sở Giáo Hội ở hải ngoại tổ chức lễ Thọ Tang và Cầu Nguyện để cảm niệm Giác linh Hoà thượng. Kính nguyện Hoà thượng Viện Trưởng viên thành đại nguyện tự giác, giác tha, giác hạnh viên mãn.
Phật Lịch 2558, Chùa Pháp Luân
ngày 26 tháng 02 năm 2015
Quyền Chủ Tịch Văn Phòng II Viện Hoá Đạo
kiêm Chủ tịch GHPGVNTN Hải ngoại tại Hoa Kỳ
Tỳ Kheo Thích Giác Đẳng
ngày 26 tháng 02 năm 2015
Quyền Chủ Tịch Văn Phòng II Viện Hoá Đạo
kiêm Chủ tịch GHPGVNTN Hải ngoại tại Hoa Kỳ
Tỳ Kheo Thích Giác Đẳng
Lá Thư Tuần thứ 14 :
Hoà Thượng Viện Trưởng
Vừa Viên Tịch
Hôm nay, Thứ Tư 25.2.2015, nhận được tin Đại lão Hoà thượng Thích Như Đạt – Viện trưởng Viện Hoá Đạo GHPGVNTN vừa viên tịch. Một cái tang lớn cho Giáo Hội, cho Phật giáo đồ Việt Nam. Sự ra đi của Ngài vốn đã được báo trước nhiều tuần lễ qua với sức khoẻ ngày càng suy kiệt. Ngài từ giả chúng ta ngày mùng Tám tháng Giêng năm Ất mùi có lẽ như một sự cố gắng để không chi phối sinh hoạt tân xuân của những người quen biết xa gần. Cách đây ba hôm chính Ngài cùng với Đức Tăng Thống ban đạo từ đầu năm cho những thành viên trong Giáo hội ở hải ngoại, kể cả các uỷ viên công cán. Mặc dù sức khoẻ cạn kiệt Ngài vẫn cố gắng để nói, giọng nói một cách yếu ớt nhưng rõ ràng, để chúc tết và sách tấn Tăng Ni Phật tử hải ngoại.
Đồng hành với Đức Tăng Thống
Hoà thượng Viện trưởng sanh năm Kỷ Tỵ, kém đức Tăng Thống 1 tuổi. Có thể nói không lầm là sau Đức Đệ tứ Tăng Thống ĐLHT Thích Huyền Quang, Đức Phó Tăng Thống ĐLHT Thích Hộ Giác thì ĐLHT Thích Như Đạt là hình ảnh nổi bật thứ ba chia sẻ những thăng trầm khổ nạn với Đức Đệ ngũ Tăng Thống. Trong quyết tâm chấn chỉnh nội bộ của Đức Tăng Thống với giáo chỉ số 10 đã cho thấy hình ảnh của một bậc trưởng lão khẳng khái và đầy trách nhiệm trước muôn ngàn khó khăn dù tuổi già sức yếu. Hình ảnh đó là Đại lão Hoà thượng Thích Như Đạt. Tuổi già sức yếu lẽ ra cần sự tịnh dưỡng cho bản thân. Nhưng Giáo hội cần thì kê vai gánh vác. Ngài đã đồng hành với Đức Tăng Thống trong những giờ phút khó khăn nhất của Giáo Hội. Chỉ nghe qua những chuyến ra vào giữa Huế và Sài Gòn để giải quyết các vấn đề gay go thì có thể hiều được tấm lòng của Ngài với Giáo Hội, với Đức Tăng Thống. Khó tưởng tượng được Giáo Hội sẽ ra sao nếu không có Ngài trong giai đoạn nầy. Sự thương và hiểu của Ngài đối với Đức Tăng Thống góp phần to lớn giải quyết vấn nạn nội bộ mà nhiều năm rồi tưởng chừng như sẽ không bao giờ giải quyết được.
Nhiệm kỳ tuy ngắn nhưng vô cùng quan trọng
Đại lão Hoà thượng Thích Như Đạt nhận vai trò viện trưởng Viện Hoá Đạo GHPGVNTN chỉ trong vòng một năm nhưng thời gian ngắn ngủi ấy đã có nhiều Phật sự mang tính quyết định được thực hiện với sự chỉ đạo của Ngài. Từ việc đăng bạ pháp lý của Giáo Hội tại Hoa Kỳ cho đến sự thành lập ngôi chùa chung, chùa Phật Quang, tại thủ đô của Người Việt tỵ nạn tại nam Cali. Hoà thượng viện trưởng cũng có những khẳng định về quyết tâm cải tổ cơ cấu, nhân sự Giáo hội cho phù hợp với nhu cầu Phật sự hiện tại. Niềm tin của Ngài đặt để ở thế hệ tiếp nối là năng lực vô song cho những tấm lòng dấn thân vì đại cuộc. Trước bao thăng trầm nghiệt ngã của pháp nạn hiện nay thì sự lãnh đạo của Ngài mở ra bao thắng duyên cho những con người tha thiết với sự tồn tại của Giáo hội. Không có tinh thần bao dung, rộng mở, chân thành thì khó tìm động lực bền bĩ để cải tổ và duy trì. Ảnh hưởng của Hoà thượng Viện Trưởng khó thấy được bởi người ngoại cuộc vì thời gian Ngài lãnh đạo Viện Hoá Đạo quá ngắn nhưng với nội bộ Giáo Hội thì vô cùng hệ trọng. Một giai đoạn mà tất cả cơ cấu trong và ngoài nước đồng lòng đi tới ; một giai đoạn mà tất cả không bị vướng vấp bởi vấn đề cá nhân. Đức độ và phong thái của Ngài đã là chỗ nương tựa cho tất cả thành viên Giáo hội. Thời gian một năm tuy không dài nhưng chính Ngài đã lưu lại dấu ấn của bao nhiêu thay đổi quan trọng trong và ngoài nước.
Kiên định và khẳng khái
Có lẽ hình ảnh quan trọng nhất mà Hoà thượng Viện trưởng để lại cho chúng ta là hùng tâm đối diện với nghịch cảnh. Tấm lòng của Ngài đối với Giáo hội, đối với Đức Tăng Thống, đối với trách nhiệm hoằng hoá thủy chung vẫn vậy. Qua những văn kiện và lời nói trực tiếp của Ngài toát ra phong thái của một bậc đức độ, nói làm nhất quán. Ngài biểu đạt ý tưởng trực tiếp, rõ ràng, chân thành không xã giao hay tránh né. Đọc lại những đạo từ của Ngài dù là đối với công việc hành chánh hay khích lệ các thành viên thì luôn luôn thể hiện sự dứt khoát, quyết tâm. Điều đó có lẽ liên hệ đến tinh thần thực tiễn, không câu nệ lề thói. Ngài lắng nghe và thúc đẩy những thay đổi trong cơ cấu tổ chức và nhân sự điều hành Giáo Hội. Sự cho phép của Ngài đã ảnh hưởng nhanh chóng những cải cách ở hải ngoại tiêu biểu là đạo từ cho Đại Hội Thường Niên năm 2014. Trong lúc một số lớn thiếu rõ ràng với những chấn chỉnh nội bộ cần thiết thì Ngài không chút do dự nói lên quyết tâm của mình và khâm tuân quyết định của Đức Tăng Thống bằng sự kiên định tuyệt đối. Khi cần mở rộng cánh cửa cho tứ chúng tham gia sinh hoạt Giáo Hội thì Ngài tuỳ hỷ chân thành với sự linh động trong tư thế lãnh đạo. Nếu không có phong cách lãnh đạo đó của Ngài thì những Phật sự quan trọng trong năm vừa qua của Giáo Hội khó lòng thực hiện.
Hy hiến đến hơi thở cuối cùng
Ba tháng trước khi Hoà thượng Viện trưởng ra đi đã có nhiều quan ngại về sức khoẻ giảm sút mỗi ngày của Ngài. Dù vậy sự lưu tâm và sinh hoạt Giáo Hội của Ngài không giảm bớt. Dù là tại trụ xứ chùa Long Quang ở Huế hay trong bệnh viện ở Sài gòn ; dù trong am thất của Ngài hay trên giường bệnh thì vẫn tiếp tục lo toan cho Giáo hội. Tôn tượng Phật thờ tại chùa Phật Quang hiện tại do Ngài gởi sang cúng dường cùng với những câu đối do chính Ngài thực hiện. Trong sự kham nhẫn với bệnh trạng bản thân Ngài không quên gởi lời chúc mừng và huấn thị cho những thành viên của Giáo Hội nhất là những Uỷ viên công cán khắp nơi. Ba ngày trước khi viên tịch, vào mùng ba Tết xuân Ất Mùi, Ngài đem tất cả tàn hơi để ban đạo từ cho Văn Phòng II Viện Hoá Đạo và toàn thể thành viên Giáo Hội ở hải ngoại. Phần lớn những thành viên có mặt hôm đó là lần đầu tiên được tiếp xúc trực tiếp và lắng nghe đạo từ của Đức Tăng Thống và Hoà thượng Viện Trưởng. Nghĩ tưởng về một bậc trưởng lão lãnh đạo thể hiện trách nhiệm cho đến những giờ phút sau cùng của cuộc đời chúng ta tìm thấy ở đó sự sách tấn lớn lao. Có những con người như vậy, có những hy sinh như vậy khẳng định được giá trị tồn tại của Giáo Hội trong lịch sử. Đó là di sản vô giá. Bao nhiêu con người đã, đang và sẽ tiếp tục hy hiến trọn cuộc đời cho sự phụng sự Tam Bảo, phụng sự chúng sanh tạo thành giá trị dẫn đạo cho nhiều thế hệ tiếp nối.
Đại lão Hoà thượng Thích Như Đạt đã làm tất cả những gì có thể làm được cho Giáo hội, cho Phật giáo Việt Nam suốt trọn cuộc đời của Ngài. Một năm trong trọng trách của viện trưởng Viện Hoá Đạo Ngài đã có nhiều đóng góp quan trọng trong hoạt động Giáo hội. Tuy vậy, có sự cống hiến lớn nhất mà Ngài để lại cho chúng ta là tấm lòng chân thành và tận tuỵ dám sống chết với lẽ phải cho dù phải đối diện bao nhiêu nghịch cảnh chung quanh cũng như sức cùng lực kiệt của thân xác. Chỉ riêng hùng tâm tráng chí đó đã là ngọn đuốc soi đường cho bao thế hệ mai hậu.
Xin Ôn phù hộ cho Giáo Hội. Đảnh lễ Ôn.
Pháp Luân, 26.2.2015
Tỳ kheo Thích Giác Đẳng
Tỳ kheo Thích Giác Đẳng
Kinh
Phật Tự Thuyết (Cảm Hứng Ngữ)
Udàna
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt
Chương Sáu
Phẩm Sanh Ra Ðã Mù-Jaccandhavaggo
BÀI 7 KINH SUBHŪTI-Subhūtisuttaṃ
(VII) (Ud 71)
Như vầy tôi nghe:
Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, khu vườn của ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ, Tôn Giả Subhùti ngồi không xa Thế Tôn bao nhiêu, ngồi kiết-già lưng thẳng, nhập định không tầm. Thế Tôn thấy Tôn giả Subhùti ngồi không xa bao nhiêu, ngồi kiết-già lưng thẳng, nhập định không tầm. Thế Tôn sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy nỗi lên lời cảm hứng:
7. Với ai, tầm quét sạch,Chương Sáu Phẩm Sanh Ra Ðã Mù-Jaccandhavaggo. BÀI 8. KINH NGƯỜI KỸ NỮ
Nội tâm khéo cắt đứt,
Không còn chút dư tàn
Vượt qua ái nhiễm ấy,
Ðạt được tưởng vô sắc,
Vượt khỏi bốn ách nạn,
Không đi đến thọ sanh.
Gaṇikāsuttaṃ
(VIII) (Ud 71)Như vầy tôi nghe:
Một thời Thế Tôn trú ở Vương Xá, tại Trúc Lâm, chỗ nuôi dưỡng các con sóc. Lúc bấy giờ, ở Vương xá, có hai nhóm say đắm một ngưòi kỹ nữ, tâm bị ám ảnh, họ cạnh tranh, đấu tranh nhau. Họ đi đến đánh nhau bằng nắm tay, đánh nhau bằng cục đất, đánh nhau bằng gậy gộc, đánh nhau bằng kiếm. Họ đi đến chết, đi đến đau khổ gần như chết. Rồi nhiều Tỷ-kheo, vào buổi sáng đắp y, cầm bát, đi vào Vương Xá để khất thực. Khất thực ở Vương Xá xong, sau buổi ăn, khi đi khất thực trở về, các Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn, sau khi đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
- Bạch Thế Tôn, ở Vương Xá có hai nhóm say đắm một người kỷ nữ... họ đi đến chết, đi đến đâu khổ gần như chết.
Rồi Thế Tôn sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy, nói lên lời cảm hứng:
8. Phàm cái gì đạt được,Chương Sáu Phẩm Sanh Ra Ðã Mù-Jaccandhavaggo. BÀI 9. KINH ĐẾN GẦN RỒI VƯỢT QUA
Cái gì cần phải đạt,
Cả hai vướng bụi trần,
Với kẻ bị bệnh hoạn,
Học tập chưa thuần thục,
Kẻ tinh chuyên học tập,
Sống giữ gìn giới cấm,
Tinh chuyên chú Phạm hạnh,
Ðây là một cực đoan,
Ðây là một chủ thuyết,
Trong dục không lỗi lầm,
Là cực đoan thứ hai,
Cả hai cực đoan này,
Làm mộ phần tăng trưởng,
Chính do các tà kiến,
Làm tăng trưởng mộ phần.
Những ai không thắng tri,
Cả hai cực đoan này,
Có kẻ bị chìm đắm,
Có kẻ chạy quá mau,
Những ai thắng tri chúng,
Không có suy tư vậy,
Không có tự quá mạn,
Họ không có luân chuyển,
Ðể được tuyên bố lên.
Upātidhāvantisuttaṃ
(IX) (Ud 72)Như vầy tôi nghe:
Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, khu vườn của ông Anàathapindika. Lúc bấy giờ, Thế Tôn đang ngồi giữa trời, trong đêm tối mù mịt, với những cây đèn dầu đang chói sáng. Lúc bấy giờ, nhiều loại côn trùng có cánh tiếp tục rơi vào trong những đèn dầu ấy và gặp phải tai nạn, gặp phải hoại diệt, gặp phải tai nạn hoại diệt. Thế Tôn thấy nhiều loại côn trùng có cánh tiếp tục rơi vào...
Rồi Thế Tôn, sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy nói lên lời cảm hứng:
9. Họ chạy gấp vượt qua,Chương Sáu Phẩm Sanh Ra Ðã Mù-Jaccandhavaggo. BÀI 10. KINH SỰ HIỆN KHỞI CỦA NHƯ LAI
Nhưng bỏ mất lối cây,
Họ làm cho tăng trưởng,
Các trói buộc mới mẻ,
Như các loại côn trùng,
Rơi vào trong ánh sáng,
Có người sống dựa vào
Ðiều được thấy được nghe.
Uppajjantisuttaṃ
(X) (Ud 73)Như vầy tôi nghe:
Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavena, khu vườn ông Anàthapindika. Rồi Tôn giả Ananda, đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:
- Bạch Thế Tôn, cho đến khi nào, các Như Lai không hiện hữu ở đời, bậc A-la-hán, Chánh-Ðẳng-Giác, cho đến khi ấy các du sĩ ngoại đạo được cung kính, được tôn trọng, được đảnh lễ, được cúng dường, được tôn kính, nhận được các vật dụng như y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh. Nhưng đến khi các Như Lai hiện hữu ở đời, bậc A-la-hán, Chánh-Ðẳng-Giác, cho đến khi ấy, các du sĩ ngoại đạo, không được cung kính, không được tôn trọng, không được đảnh lễ, không được cúng dường, không nhận được các vật dụng như y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh. Bạch Thế Tôn, nay Thế Tôn được cung kính, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường, tôn trọng, nhận được các vật dụng như y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh; chúng Tỷ-kheo cũng như vậy.
- Ðúng như vậy, này Ananda. Cho đến khi nào, các Như Lai không xuất hiện ở đời... dược phẩm trị bệnh. Nhưng đến khi các Như Lai xuất hiện ở đời... dược phẩm trị bệnh. Này Ananda nay Thế Tôn được cung kính... chúng Tỷ-kheo cũng vậy.
Sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy, Thế Tôn nói lên lời cảm hứng:
10. Con đôm đốm chiếu sáng,
Khi mặt trời chưa mọc,
Khi mặt trời mọc lên,
Ánh sáng đôm đốm diệt,
Cũng vậy là ánh sáng,
Của các nhà ngoại đạo,
Khi bậc Chánh Ðẳng Giác
Chưa xuất hiện ở đời,
Các nhà ưa biện luận.
Không có được ánh sáng,
Cũng vậy đệ tử chúng,
Còn các nhà tà kiến,
Họ không được giải thoát,
Khỏi các sự đau khổ.
Thứ Ba, 24 tháng 2, 2015
Kinh Phật Tự Thuyết (Cảm Hứng Ngữ)Udàna
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt
Chương Sáu:Phẩm Sanh Ra Ðã
Mù-Jaccandhavaggo
BÀI 3. KINH QUÁN XÉT LẠI - Paccavekkhaṇasuttaṃ
(III) (Ud 65)Như vầy tôi nghe:
Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, khu vườn ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ Thế Tôn ngồi quán sát của pháp bất thiện của mình được trừ diệt, và các pháp thiện của mình được tu tập, làm cho tăng trưởng. Rồi Thế Tôn sau khi biết các pháp bất thiện của mình đã được trừ diệt và các pháp thiện của mình được tu tập, được làm cho sung mãn, ngay trong lúc ấy, nói lên lời cảm hứng này:
3. Trước có nay không có,
Trước không có nay có,
Ðã không và sẽ không,
Và nay hiện không có.
4. KINH NGOẠI ĐẠO - THỨ NHẤT
Paṭhamanānātitthiyasuttaṃ
(IV) (Ud 66)Như vầy tôi nghe:
Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, khu vườn ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ một số đông các ngoại đạo sai khác. Các Sa-môn, Bà-la-môn, các du sĩ ngoại đạo đều vào Sàvatthi để khất thực. Họ có quan điểm khác nhau, có kham nhẫn khác nhau, có sở thích khác nhau, y cứ nương tựa vào quan điểm khác nhau. Một số Sa-môn, Bà-la-môn, luận thuyết như sau: "Thế giới là thường còn, chỉ đây là sự thật, ngoài ra là hư vọng". Một số Sa-môn, Bà-la-môn luận thuyết như sau, quan điểm như sau: "Thế giới là vô thường, chỉ đây là sự thật, ngoài ra là hư vọng". Một số Sa-môn, Bà-la-môn luận thuyết như sau, quan điểm như sau: "Thế giới là có biên tế, chỉ đây là sự thật, ngoài ra là hư vọng". Một số Sa-môn, Bà-la-môn luận thuyết như sau, có quan điểm như sau: "Thế giới là vô biên, chỉ đây là sự thật, ngoài ra là hư vọng". Một số Sa-môn, Bà-la-môn luận thuyết như sau, quan điểm như sau: "Sanh mạng và thân thể là một, chỉ đây là sự thật, ngoài ra là hư vọng". Một số Sa-môn, Bà-la-môn luận thuyết như sau, quan điểm như sau: "Sanh mạng và thân thể là khác, chỉ đây là sự thật, ngoài ra là hư vọng". Một số Sa-môn, Bà-la-môn luận thuyết như sau, quan điểm như sau: "Như Lai có tồn tại sau khi chết, chỉ đây là sự thật, ngoài ra là hư vọng". Một số Bà-la-môn, Bà-la-môn luận thuyết như sau, quan điểm như sau: "Như Lai không có tồn tại sau khi chết, chỉ đây là sự thật, ngoài ra là hư vọng". Một số Bà-la-môn, Bà-la-môn luận thuyết như sau, quan điểm như sau: "Như Lai có tồn tại và không có tồn tại sau khi chết, chỉ đây là sự thật, ngoài ra là hư vọng". Một số Bà-la-môn, Bà-la-môn luận thuyết như sau, quan điểm như sau: "Như Lai không có tồn tại và không không tồn tại sau khi chết, chỉ đây là sự thật, ngoài ra là hư vọng". Họ sống cạnh tranh, luận tranh, đấu tranh, đả thương nhau bằng binh khí miệng lưỡi: "Như thế này là pháp. Như thế này là pháp. Như thế này không phải pháp. Như thế này không phải pháp".
Rồi nhiều Tỷ-kheo vào buổi sáng đắp y, cầm bát đi vào Sàvatthi, để khất thực, Khất thực ở Sàvatthi xong sau buổi ăn, khi đi khất thực trở về, đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
- Ở đây, bạch Thế Tôn, một số đông ngoại đạo sai khác, các Sa-môn, Bà-la-môn, các du sĩ ngoại đạo đều vào Sàvatthi để khất thực..."... như thế này không phải pháp, như thế này là pháp".
- Này các Tỷ-kheo, các du sĩ ngoại đạo là những người mù, không có mắt, không biết mục đích, không biết phải mục đích, không biết pháp, không biết phi pháp. Do họ không biết mục đích, do họ không biết không phải mục đích, do không biết pháp, do không biết phi pháp, họ sống cạnh tranh, luận tranh, đấu tranh... như thế này là pháp. Này các Tỷ-kheo, thưở xưa tại thành Sàvatthi này, có một ông vua. Này các Tỷ-kheo, ông vua ấy bảo một người: "Này người kia, phàm có bao nhiêu những người sanh ra đã mù ở Sàvatthi hãy nhóm lại một chỗ tất cả " - "Thưa vâng, Ðại vương". Này các Tỷ-kheo, người ấy vâng đáp ông vua ấy, phàm có bao nhiêu những người sanh ra đã mù ở Sàvatthi, người ấy giữ lại tất cả, rồi đi đến ông vua ấy, sau khi đến thưa với vị vua: "Thưa Ðại vương, phàm có bao nhiêu những người sanh ra đã mù ở Sàvatthi đã được tụ tập lại".
- Này khanh, hãy đưa ra một con voi cho những người mù.
Thưa vâng, Ðại vương. Này các Tỷ-kheo, người ấy vâng đáp ông vua ấy, đưa ra một con voi cho những người mù: "Này các người mù, đây là con voi". Với một số người mù, ông ta đưa cái đầu và nói: "Này các người mù, đây là con voi". Ðối với một số người mù, ông ta đưa cái lỗ tai con voi và nói: "Này các người mù, đây là con voi". Ðối với một số người mù, ông ta đưa các ngà con voi và nói: "Này các người mù, đây là con voi". Ðối với một số người mù, ông ta đưa cái vòi con voi và nói: "Này các người mù, đây là con voi". Ðối với một số người mù, ông ta đưa cái thân con voi và nói: "Này các người mù, đây là con voi". Ðối với một số người mù, ông ta đưa cái chân... Ðối với một số người mù, ông ta đưa cái lưng... Ðối với một số người mù, ông ta đưa cái đuôi... Ðối với một số người mù, ông ta đưa cái lông đuôi và nói: "Này các người mù, đây là con voi". Này các Tỷ-kheo, rồi người ấy sau khi đưa con voi cho các người mù, đi đến ông vua ấy, sau khi đến tâu với vua: "Thưa Ðại vương, con voi đã được các người mù thấy, nay Ðại vương hãy làm những gì Ðại vương nghĩ là hợp thời! " Rồi này các Tỷ-kheo, ông vua đi đến các người mù ấy, sau khi đến nói với họ: "Này các người mù, các ông đã thấy con voi chưa? " - "Thưa Ðại vương, chúng tôi đã thấy con voi". - Này các người mù, hãy nói con voi là như thế nào? " Này các Tỷ-kheo, những ai thấy đầu con voi, họ nói như sau: "Thưa Ðại vương, con voi là như thế này, như cái ghè! " Này các Tỷ-kheo, những ai được thấy cái tai con voi, họ nói như sau: "Thưa Ðại vương, con voi là như thế này, như cái rổ sàng gạo. " Này các Tỷ-kheo, những ai được thấy cái ngà con voi, họ nói như sau: "Thưa Ðại vương, con voi là như thế này, như cái lưỡi cày. " Những ai... được thấy cái vòi..."... như cái cày". Những ai... được thấy cái thân..."... như cái kho chứa. " Những ai... được thấy cái chân..."... như cái cột. " Những ai... được thấy cái lưng..."... như cái cối. " Những ai... được thấy cái đuôi, họ nói như sau: "Thưa Ðại vương, con voi là như thế này, như cái chày". Những ai được thấy cái nhóm lông đuôi, chúng nói như sau: "Thưa Ðại vương, con voi là như thế này, như cái chổi " - "Con voi các ông nói như vậy không phải là con voi. Con voi không phải như vậy. Con voi không phải vậy. Như thế này là con voi". Cho đến khi họ đánh lộn nhau bằng tay. Rồi này các Tỷ-kheo, ông vua ấy hoan hỷ. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, các du sĩ ngoại đạo là những người mù, không có mắt... như vậy là pháp.
Rồi Thế Tôn, sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy, nói lên lời cảm hứng:
4. Có một số Sa-môn,
Cùng với Bà-la-môn,
Họ chấp trước, giành giật,
Trong các luận thuyết này,
Họ tranh luận tranh chấp,
Họ nhìn chỉ một phía.
5. KINH NGOẠI ĐẠO - THỨ NHÌ
Dutiyanānātitthiyasuttaṃ
(V) (Ud 69)Như vầy tôi nghe:
Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, khu vườn ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ, nhiều ngoại đạo sai khác, các Sa-môn, Bà-la-môn, các di sĩ trú ở Sàvatthi. Họ có quan điểm khác nhau. Họ có kham nhẫn khác nhau. Họ có sở thích khác nhau. Họ y cứ nương tựa vào quan điểm khác nhau. Một số Sa-môn, Bà-la-môn luận thuyết như sau, quan điểm như sau: "Tự ngã và thế giới là thường còn, chỉ đây là sự thật, ngoài ra là hư vọng". Một số Sa-môn, Bà-la-môn... "Tự ngã và thế giới là vô thường"... "Tự ngã và thế giới là thường còn và vô thường"... "Tự ngã và thế giới là không thường còn và không vô thường... " "Tự ngã và thế giới do tự mình tạo ra"... "Tự ngã và thế giới do người khác tạo ra"... "Tự ngã và thế giới do tự mình và người khác tạo ra"... "Tự ngã và thế giới do không tự mình tạo ra, không do người khác tạo ra, do vô nhân sanh, tự nhiên"... "Lạc khổ, tự ngã và thế giới là thường còn"... "Lạc khổ, tự ngã và thế giới là vô thường"... "Lạc khổ, tự ngã và thế giới là thường còn và vô thường"... "Lạc khổ, tự ngã và thế giới là không thường còn và không vô thường"... Có một số Sa-môn, Bà-la-môn có luận thuyết như sau, quan điểm như sau: "Lạc khổ, tự ngã và thế giới là không tự mình tạo ra, không người khác tạo ra do vô nhân sanh". Họ sống cạnh tranh, luận tranh, đấu tranh, đả thương nhau, bằng binh khí miệng lưỡi: "Như thế này là pháp. Như thế này không phải là pháp. Như thế này không phải pháp, như thế này là pháp".
Rồi nhiều Tỷ-kheo vào buổi sáng đắp y, cầm y bát vào Vương Xá để khất thực. Khất thực ở Vương Xá xong, sau buổi ăn, đi khất thực trở về, đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
- Ở đây, bạch Thế Tôn, có nhiều ngoại đạo sai khác, các Sa-môn, Bà-la-môn, các du sĩ, trú ở Sàvatthi... họ sống cạnh tranh, luận tranh, đấu tranh, đả thương nhau bằng binh khí miệng lưỡi: "Như thế này là pháp. Như thế này không phải pháp. Như thế này không phải pháp, như thế này là pháp".
- Này các Tỷ-kheo, các du sĩ ngoại đạo là những người mù, không có mắt, không biết mục đích, không biết không phải mục đích, không biết pháp, không biết phi pháp. Do họ không biết mục đích, do họ không biết không phải mục đích, do không biết pháp, do không biết phi pháp, họ sống cạnh tranh, luận tranh, đấu tranh, đã thương nhau bằng binh khí miệng lưỡi: "Như thế này là pháp. Như thế này không phải pháp. Như thế này không phải pháp. Như thế này là pháp".
Rồi Thế Tôn, sau khi hiểu biết ý nghĩa này ngay trong lúc ấy, nói lên lời cảm hứng:
5. Có một số Sa-môn,(VI) (Ud 70)
Cùng với Bà-la-môn,
Họ chấp trước giành giật,
Trong các luận thuyết này,
Họ bị chìm đắm xuống,
Khi đang còn giữa dòng,
Họ không đạt đến được,
Ðất cứng trên bờ kia.
(Giống như kinh VI, 5, tức là kinh trước, với đoạn kết luận khác nhau như sau:)Rồi Thế Tôn sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy, nói lên lời cảm hứng này:
6. Có người ở đời này,(VII) (Ud 71)
Chấp người làm là ta,
Trói buộc với tư tưởng,
Người làm là người khác,
Họ không biết sự này,
Họ thấy là mũi tên,
Ai nhìn mũi tên này,
Với thận trọng cần thiết,
Người ấy không còn chấp,
"Người làm chính là ta",
Người ấy cũng không chấp,
"Người làm là người khác",
Loài người ở đời này,
Bị kiêu nạn khiếp phục,
Bị cột bởi kiêu mạn,
Bị trói bởi kiêu mạn,
Trong các loài chủ thuyết,
Họ cạnh tranh, luận tranh,
Họ không thể vượt qua,
Luân chuyển trong sanh tử.
Như vầy tôi nghe:
Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, khu vườn của ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ, Tôn Giả Subhùti ngồi không xa Thế Tôn bao nhiêu, ngồi kiết-già lưng thẳng, nhập định không tầm. Thế Tôn thấy Tôn giả Subhùti ngồi không xa bao nhiêu, ngồi kiết-già lưng thẳng, nhập định không tầm. Thế Tôn sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy nỗi lên lời cảm hứng:
7. Với ai, tầm quét sạch,(VIII) (Ud 71)
Nội tâm khéo cắt đứt,
Không còn chút dư tàn
Vượt qua ái nhiễm ấy,
Ðạt được tưởng vô sắc,
Vượt khỏi bốn ách nạn,
Không đi đến thọ sanh.
Như vầy tôi nghe:
Một thời Thế Tôn trú ở Vương Xá, tại Trúc Lâm, chỗ nuôi dưỡng các con sóc. Lúc bấy giờ, ở Vương xá, có hai nhóm say đắm một ngưòi kỹ nữ, tâm bị ám ảnh, họ cạnh tranh, đấu tranh nhau. Họ đi đến đánh nhau bằng nắm tay, đánh nhau bằng cục đất, đánh nhau bằng gậy gộc, đánh nhau bằng kiếm. Họ đi đến chết, đi đến đau khổ gần như chết. Rồi nhiều Tỷ-kheo, vào buổi sáng đắp y, cầm bát, đi vào Vương Xá để khất thực. Khất thực ở Vương Xá xong, sau buổi ăn, khi đi khất thực trở về, các Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn, sau khi đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
- Bạch Thế Tôn, ở Vương Xá có hai nhóm say đắm một người kỷ nữ... họ đi đến chết, đi đến đâu khổ gần như chết.
Rồi Thế Tôn sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy, nói lên lời cảm hứng:
8. Phàm cái gì đạt được,(IX) (Ud 72)
Cái gì cần phải đạt,
Cả hai vướng bụi trần,
Với kẻ bị bệnh hoạn,
Học tập chưa thuần thục,
Kẻ tinh chuyên học tập,
Sống giữ gìn giới cấm,
Tinh chuyên chú Phạm hạnh,
Ðây là một cực đoan,
Ðây là một chủ thuyết,
Trong dục không lỗi lầm,
Là cực đoan thứ hai,
Cả hai cực đoan này,
Làm mộ phần tăng trưởng,
Chính do các tà kiến,
Làm tăng trưởng mộ phần.
Những ai không thắng tri,
Cả hai cực đoan này,
Có kẻ bị chìm đắm,
Có kẻ chạy quá mau,
Những ai thắng tri chúng,
Không có suy tư vậy,
Không có tự quá mạn,
Họ không có luân chuyển,
Ðể được tuyên bố lên.
Như vầy tôi nghe:
Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, khu vườn của ông Anàathapindika. Lúc bấy giờ, Thế Tôn đang ngồi giữa trời, trong đêm tối mù mịt, với những cây đèn dầu đang chói sáng. Lúc bấy giờ, nhiều loại côn trùng có cánh tiếp tục rơi vào trong những đèn dầu ấy và gặp phải tai nạn, gặp phải hoại diệt, gặp phải tai nạn hoại diệt. Thế Tôn thấy nhiều loại côn trùng có cánh tiếp tục rơi vào...
Rồi Thế Tôn, sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy nói lên lời cảm hứng:
9. Họ chạy gấp vượt qua,(X) (Ud 73)
Nhưng bỏ mất lối cây,
Họ làm cho tăng trưởng,
Các trói buộc mới mẻ,
Như các loại côn trùng,
Rơi vào trong ánh sáng,
Có người sống dựa vào
Ðiều được thấy được nghe.
Như vầy tôi nghe:
Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavena, khu vườn ông Anàthapindika. Rồi Tôn giả Ananda, đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:
- Bạch Thế Tôn, cho đến khi nào, các Như Lai không hiện hữu ở đời, bậc A-la-hán, Chánh-Ðẳng-Giác, cho đến khi ấy các du sĩ ngoại đạo được cung kính, được tôn trọng, được đảnh lễ, được cúng dường, được tôn kính, nhận được các vật dụng như y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh. Nhưng đến khi các Như Lai hiện hữu ở đời, bậc A-la-hán, Chánh-Ðẳng-Giác, cho đến khi ấy, các du sĩ ngoại đạo, không được cung kính, không được tôn trọng, không được đảnh lễ, không được cúng dường, không nhận được các vật dụng như y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh. Bạch Thế Tôn, nay Thế Tôn được cung kính, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường, tôn trọng, nhận được các vật dụng như y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh; chúng Tỷ-kheo cũng như vậy.
- Ðúng như vậy, này Ananda. Cho đến khi nào, các Như Lai không xuất hiện ở đời... dược phẩm trị bệnh. Nhưng đến khi các Như Lai xuất hiện ở đời... dược phẩm trị bệnh. Này Ananda nay Thế Tôn được cung kính... chúng Tỷ-kheo cũng vậy.
Sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy, Thế Tôn nói lên lời cảm hứng:
10. Con đôm đốm chiếu sáng,
Khi mặt trời chưa mọc,
Khi mặt trời mọc lên,
Ánh sáng đôm đốm diệt,
Cũng vậy là ánh sáng,
Của các nhà ngoại đạo,
Khi bậc Chánh Ðẳng Giác
Chưa xuất hiện ở đời,
Các nhà ưa biện luận.
Không có được ánh sáng,
Cũng vậy đệ tử chúng,
Còn các nhà tà kiến,
Họ không được giải thoát,
Khỏi các sự đau khổ.
Thứ Hai, 23 tháng 2, 2015
LÁ THƯ XUÂN
Vạn Vật Hồi Sinh
Mùa xuân thường được liên tưởng tới muôn hoa rộn nở, cây cỏ đâm chồi nẩy lộc sau giấc ngủ đông dài. Một thi sĩ viết: bởi người vui muôn vật phải vui theo. Nhưng với mùa xuân thì ngược lại. Thiên nhiên với bao thứ hồi sinh làm cho tâm hồn con người hân hoan, hy vọng. Có lẽ vì vậy nền văn hoá nào cũng chọn dịp xuân về là khởi đầu năm mới. Người Việt chúng ta không thể ăn tết mà không có hoa. Ngoài những thứ hoa lúc nào cũng có như hoa cúc, hoa lan .. thì có những thứ hoa chỉ có vào dịp xuân về nên trở thành tiêu biểu như hoa mai, hoa đào. Có những người khéo léo có thể khiến hoa nở vào đúng ba ngày tới như hoa thủy tiên chẳng hạn. Nếu xuân về với không khí ấm áp mang lại sự bừng dậy của cây cỏ thì con người cũng có nhiều lý do để nói thông điệp của tân niên là hy vọng.
Sự bắt đầu từ cái rất nhỏ bé
Hồi nhỏ có đọc đâu đó nói về sự bí ẩn và mầu nhiệm của những hạt giống. Dù rất nhỏ bé nhưng chứa đựng một công thức của thiên nhiên mang tính quyết định về màu sắc, chiều kích, hương vị của cái cây lớn lên sau nầy. Kiến thức về DNA cho biết những quyết định tánh hàm tàng trong những tế bào cực vi. Theo thói thường thì chúng ta thường đáng giá sự vật qua chiều kích ngoại hình. Kỳ thực chính bản chất, nói rõ hơn là chủng tử, mới là yếu tố mang quyết định quan trọng. Đức Phật khi nói về sự hưng thịnh của giáo pháp đã đạy rằng: Ngày nào còn có những tỳ kheo, tỳ kheo ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ thông hiểu tinh tường lời dạy của Như Lai thì ngày đó giáo pháp còn hưng thịnh. Ngài không nói về số lượng mà nói về phẩm chất. Trong nỗ lực tái lập cơ sở của Giáo Hội tại miền nam California, chùa Phật Quang, mặc dù một số lớn người bi quan là rất khó khăn chung cuộc thành tựu nhờ vào những Phật tử phát tâm dõng mãnh. Đa số những người nầy có điểm giống nhau: có ý thức rất rõ về Giáo hội. Không phải ở sự lôi kéo, vận động nhất thời mà chính cái nhìn rất chân xác của những người nầy đã cho họ quyết định tiếp tục hành trình dưới sự lãnh đạo của Đức Đệ Ngũ Tăng Thống. Điều nầy nhắc nhở một điểm rất quan trọng: thời nào cũng vậy sự hiểu biết sâu sắc vẫn quan trọng hơn khuynh hướng bè phái. Trọng tâm của Giáo Hội là truyền đạt những thông điệp rõ ràng về đường hộ pháp, hộ dân và hộ quốc chức không phải chỉ có hình thức bên ngoài.
Hãy tạo môi trường thích hợp hơn là đòi hỏi
Những người làm vườn cho chúng ta một bài học rất quan trọng: bàn tay con người có thể gieo trồng, vun phân, tưới nước nhưng cây nở hoa, kết trái còn tuỳ thuộc ở thiên nhiên. Chúng ta không thể bắt thiên nhiên hoàn toàn theo ý mình và cũng không thể nói là tất cả cố gắng của con người đều giá trị. Krisnamurti chia sẽ quan quan điểm: giáo dục là đặt để con người đúng vị trí để thấy biết sự vật chứ không phải là nhồi nhét bắt buộc người ta phải suy nghĩ như mình. Có qua nhiều những đòi hỏi: quý thầy phải thế nầy, phật tử phải thế kia. Nói cho cùng không ai có thể bắt buộc ai. Tạo một môi trường lành mạnh, hoan hỷ, lợi lạc thì những hạt giống lành sẽ đơm hoa kết trái.
Chúng ta hãy thử thay đổi quan niệm thay vì nghĩ ra Giáo hội phải nhồi nặn các thành viên hay Phật tử thành những mẫu người thế nầy hay thế kia thì nên quan niệm là làm thế nào những con người thiện trí qua cơ cấu tổ chức của giáo hội có thể hiện được thiện chí và khả năng của mình. Những hạt giống lành sẽ lớn mạnh nhanh chóng và tự kết thành hoa trái nếu có môi trường thích hợp.
Hoa nở không trọng khinh giàu nghèo.
Người xưa nói rằng:
Hoa khai bất trạch bần gia địa
Tiết trúng lai thời viên mãn khai.
Hoa nở không chọn nhà nghèo (giàu), đúng thời đúng tiết thì hoa nở.
Cái đẹp đó của đại tự nhiên cũng là cái đẹp của đạo lý. Ở đâu có thành tâm, thiện ý thì ở đó có thành tựu đáng hoan hỷ. Con người thường quen nhìn mọi thứ theo lề thói: phải như vậy mới được như vậy. Lâu ngày thành đóng khung, chủ quan tạo ra bao nhiêu ngăn ngại cho sự phát triển. Một xã hội cởi mở, công bằng, tạo cơ hội bình đẳng cho tất cả thì luôn luôn phát triển nhanh chóng. Thời bình minh của Đạo Phật chỉ trong gian hai thế kỷ đã bao trùm khắp Nam Á và những quốc gia lân cận vì sự bao dung rộng mở của một nền đạo bao dung rộng mở cho tất cả. Một ngàn bảy trăm năm sau Đạo Phật biến mất tại Ấn Độ không phải đơn giản vì Hồi Giáo xâm lăng mà do sự cố chấp cực đoan, xa rời quần chúng của giới Tăng sĩ.
Sức mạnh thật sự của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất nằm ở điểm đây là một cơ cấu giáo hội rộng mở cho tất cả từ sự dung thông hai truyền thống chủ lưu của Phật giáo. Đánh mất yếu tính đó tạo thành sự thiếu vắng của cốt lõi tồn tại. Tất cả thành viên của Giáo hội phải tự nhận trách nhiệm thể hiện sự thân thiện, hoà ái, kính trọng với tất cả vì đó là bản sắc của tinh thần hoà hợp.
Tất cả chỉ nằm trong luật tuần hoàn
Bài học lịch sử của nhân loại cho thấy một điều hiển nhiên là sự thịnh suy là một định luật tuần hoàn. Hết thịnh tới suy, hết suy tới thịnh. Cũng nhưng bốn mùa luân chuyển xuân, hạ, thu, đông. Ý nghĩa quan trọng nhất của định luật vô thường là vạn hữu không đứng yên mà sanh diệt vần xoay. Thiền sư Vạn Hạnh đời Lý để lại câu thơ truyền đời:
Nhậm vận thịnh suy vô bố úy
Thịnh suy như lộ thảo đầu phô
Xá chi suy thịnh việc đời
Thịnh suy như giọt sương rơi đầu cành (Võ Đình dịch)
Sự hưng thịnh không nên là điều ru ngủ. Sự suy vi không nên là lý do để nản lòng. Tiếp tục và tiếp tục hành trình là phương châm của tất cả người con Phật. Cho đến thời điểm nầy, trải qua nhiều thăng trầm, có lẽ ai cũng có đủ bình tâm để cười nhẹ trước những bể dâu. Nụ cười đó trong những ngày đầu năm có thể xua tan những phiền não trong lòng và cho tâm tư hoà nhịp cùng muôn hoa đang thắm nở.
Xin cho mùa xuân trở về, vạn vật hồi sinh khởi từ chủng tử bồ đề trong tâm của mỗi chúng ta.
Tỳ Kheo Thích Giác Đẳng
Chủ Nhật, 22 tháng 2, 2015
KINH PHẬT TỰ THUYẾT - UDÀNA
CHƯƠNG 6 - PHẨM PHẨM SANH RA ÐÃ MÙ
HT Minh Châu dịch Việt
(I) (Ud 62) 1. KINH BUÔNG BỎ THỌ HÀNH
Như vầy tôi nghe:
Một thời Thế Tôn trú ở Vesàli tại Ðại Lâm chỗ ngôi nhà có nóc nhọn. Rồi Thế Tôn vào buổi sáng, đắp y, cầm bát, đi vào Vesàli để khất thực. Khất thực ở Vesàli xong, sau buổi ăn, khi đi khất thực trở về, Thế Tôn gọi Tôn giả Ananda:
- Này Ananda, hãy cầm tọa cụ, Ta sẽ đi đến điện Càpàla để nghỉ ban ngày.
- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Tôn giả Ananda vâng đáp Thế Tôn, cầm tọa cụ và đi sau lưng Thế Tôn. Thế Tôn đi đến đền Càpàla, khi đến, ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn, Thế Tôn nói với Tôn giả Ananda:
- Này Ananda, khả ái thay Vesàli! Khả ái thay Vesàli! Khả ái thay đền Udena! Khả ái thay đền Gotamaka! Khả ái thay đền Sattambaka! Khả ái thay đền Bahuputta! Khả ái thay đền Sàrandada! Khả ái thay đền Càpàla!
Này Ananda, những ai đã tụ tập Bốn như ý túc, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ địa, được an trú, tích lũy, khéo thực hành, nếu muốn, người ấy có thể sống đến một kiếp hay phần kiếp còn lại. Này Ananda, nay Như Lai đã tu tập Bốn như ý túc, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ địa, được an trú, tích lũy, khéo thực hành. Này Ananda, nếu muốn Như Lai có thể sống đến một kiếp hay phần còn lại!
Nhưng Tôn giả Ananda không thể nhận hiểu sự gợi ý quá rõ ràng, sự hiện tướng quá rõ ràng của Thế Tôn, không thỉnh cầu Thế Tôn: "Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy ở lại cho đến trọn kiếp! Thiện Thệ hãy ở lại cho đến trọn kiếp, vì lợi ích cho chúng sanh, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài Trời và loài Người". Vì tâm Tôn giả bị Ma vương ám ảnh. Lần thứ hai... Lần thứ ba Thế Tôn nói với Tôn giả Ananda: "Này Ananda, khả ái thay Vesàli! Khả ái thay đền Udena! Khả ái thay đền Gotamaka! Khả ái thay đền Sattambaka! Khả ái thay đền Bahyputta! Khả ái thay đền Sàrandada! Khả ái thay đền Càpàla!... " Nhưng Tôn giả Ananda không thể nhận hiểu sự gợi ý quá rõ ràng, sự hiện tướng quá rõ ràng của Thế Tôn, không thỉnh cầu Thế Tôn: "Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy ở lại cho đến trọn kiếp! Thiện Thệ hãy ở lại cho đến trọn kiếp, vì lợi ích cho chúng sanh, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài Trời và loài Người!". Vì tâm Tôn giả bị Ma vương ám ảnh. Rồi Thế Tôn nói với Tôn giả Ananda:
- Này Ananda, hãy đi và làm những gì Thầy nghĩ là hợp thời!.
- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Tôn giả Ananda vâng đáp Thế Tôn, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân phía hữu hướng về Ngài rồi ngồi xuống một gốc cây không xa bao nhiêu.
Tôn giả Ananda ra đi không bao lâu, Ác ma đi đến Thế Tôn, sau khi đến liền đứng một bên. Ðứng một bên, Ác ma nói với Thế Tôn:
- Bạch Thế Tôn, nay Thế Tôn hãy diệt độ! Thiện thệ hãy diệt độ. Bạch Thế Tôn, nay đã đến thời Thế Tôn diệt độ. Bạch Thế Tôn, đấy là lời Thế Tôn đã nói:
- Này Ác ma, Ta sẽ chưa diệt độ, khi nào những Tỷ-kheo của Ta chưa trở thành những đệ tử có tài năng được huấn luyện, đạt được tự tín, an ổn khỏi các khổ ách, nghe nhiều, trì pháp, thực hành Chánh pháp và tuỳ pháp, sống chánh hạnh, sống tùy pháp, sau khi học hỏi giáo lý từ Thầy của mình; khi nào họ chưa có thể tuyên bố, diễn giảng, trình bày, xác định, khai mở, phân tích rõ ràng Chánh pháp; khi nào có tà đạo khởi lên, họ chưa có thể, sau khi chất vấn, khéo hàng phục một cách đúng pháp, chưa có thể thuyết pháp thần diệu.
- Bạch Thế Tôn, nay có những Tỷ-kheo, đệ tử của Thế Tôn có tài năng, được huấn luyện, đạt được tự tín, an ổn khỏi các khổ ách, nghe nhiều, trì pháp, thực hành Chánh pháp và tùy pháp, sống chánh hạnh, sống tùy pháp; sau khi học hỏi giáo lý từ Thầy của mình, họ tuyên bố diễn giảng trình bày, xác định, khai mở, phân tích và giải thích rõ ràng Chánh pháp. Khi có tà đạo khởi lên, sau khi chất vấn, họ khéo hàng phục một cách đúng pháp, thuyết pháp thần diệu. Bạch Thế Tôn, nay Thế Tôn hãy diệt độ; Thiện Thệ hãy diệt độ. Bạch Thế Tôn, nay đã đến thời Thế Tôn diệt độ Bạch Thế Tôn, đây là lời Thế Tôn đã nói.
- Này Ác ma, Ta sẽ không diệt độ khi nào những Tỷ-kheo ni của Ta... Những nam cư sĩ của Ta... Những nữ cư sĩ của Ta chưa trở thành những đệ tử có tài năng... chưa có thể thuyết pháp thần diệu.
- Bạch Thế Tôn, nay có những Tỷ-kheo ni... Những nam cư sĩ... Những nữ cư sĩ đệ tử của Thế Tôn có tài năng, được huấn luyện, đạt được tự tín... có thể thuyết pháp thần diệu. Như vậy, nay Thế Tôn hãy diệt độ, Thiện Thệ hãy diệt độ! Bạch Thế Tôn,nay đã đến thời Thế Tôn diệt độ! Bạch Thế Tôn, đây là lời Thế Tôn đã nói.
- Này Ác ma, Ta sẽ không diệt độ khi nào Phạm hạnh Ta giảng dạy chưa được thành tựu, thành đạt, phổ biến, quảng bá, biến mãn, nghĩa là được khéo giảng dạy, cho chư Thiên và loài Người.
- Bạch Thế Tôn, nay Phạm hạnh Thế Tôn giảng dạy đã được thành tựu, thịnh đạt, phổ biến, quảng bá, biến mãn, nghĩa được khéo giảng dạy cho chư Thiên và loài Người. Như vậy, nay Thế Tôn hãy diệt độ; Thiện Thệ hãy diệt độ! Bạch Thế Tôn! Nay đã đến thời Thế Tôn diệt độ! Khi được nói vậy, Thế Tôn nói với Ác ma:
- Này Ác ma, hãy yên tâm, không bao lâu Như Lai sẽ diệt độ. Sau ba tháng bắt đầu từ hôm nay, Như Lai sẽ diệt độ.
Và tại đền Càpàla, Thế Tôn chánh niệm tỉnh giác, từ bỏ thọ hành, không duy trì mạng sống lâu hơn nữa. Khi Thế Tôn từ bỏ thọ hành, thời đại địa chấn động, ghê rợn, lông tóc dựng ngược, sấm trời vang dậy.
Thế Tôn sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy, nói lên lời cảm hứng:
1. Bậc ẩn sĩ từ bỏ,
Các hành động sanh hữu,
Sanh hữu có cân lượng,
Sanh hữu không cân lượng,
Ưa thích hướng nội tâm,
Thật định tỉnh an tịnh,
Phá đổ ngã sanh hữu,
Như cởi thoát áo giáp.
Thứ Ba, 17 tháng 2, 2015
Kinh
Phật Tự Thuyết (Cảm Hứng Ngữ)
Udàna
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt
Chương
Năm
PHẨM TRƯỞNG LÃO SOṆA- Soṇavaggo
BÀI 9. KINH NHẠO BÁNG-Sadhāyamānasuttaṃ
(IX) (Ud 60)
Như vậy tôi nghe:
Một thời Thế Tôn bộ hành giữa dân chúng Kosala cùng với đại chúng Tỷ-kheo. Lúc bấy giờ, nhiều thanh niên Bà-la-môn, không xa Thế Tôn bao nhiêu, dùng những lời nhiếc mắng vượt đà quá xa. Thế Tôn thấy nhiều thanh niên, không xa bao nhiêu, dùng những lời nhiếc mắng, vượt đà quá xa.
Rồi Thế Tôn, sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy, nói lên lời cảm hứng:
9. Lời nói của kẻ trí,Chương Năm - PHẨM TRƯỞNG LÃO SOṆA - BÀI 10. KINH PANTHAKA
Khi bối rối luống cuống,
Rơi vào nhiều đề tài,
Nhiều lãnh vực sai khác,
Họ muốn miệng mở rộng,
Cái gì dắt dẫn họ,
Họ đâu có biết rõ.
Cūḷapanthakasuttaṃ
(X) (Ud 61)Như vầy tôi nghe:
Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, khu vườn ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ, Tôn giả Cùlapanthaka ngồi không xa Thế Tôn bao nhiêu, ngồi kiết già, lưng thẳng để niệm trước mặt. Thế Tôn thấy Tôn giả Cùlapanthaka ngồi không xa bao nhiêu, ngồi kiết già, lưng thẳng để niệm trước mặt.
Thế Tôn, sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy, nói lên lời cảm hứng:
10. Với thân, tâm an trú,
Ðứng, ngồi hay nằm xuống,
Tỷ-kheo an trú niệm,
Trước sau được thù thắng,
Trước sau được thù thắng,
Vượt tầm mắt ác ma.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)