Thứ Sáu, 12 tháng 12, 2014

LÁ THƯ TRONG TUẦN SỐ 9
TÂM CÔNG

Thời niên thiếu có hai lần đọc được kế sách tâm công của Nguyễn Trãi nhưng không lưu ý nhiều. Sau nầy một lần nghe Giáo sư Võ Văn Ái thuyết trình thấy thú vị với ý tưởng đó. Đại khái tâm công là một thứ tâm lý chiến, nói theo ngôn ngữ hôm nay, nhưng không theo cách bá đạo. Đó là cách thay đổi cái nhìn của đối phương, cũng từ đó thay đổi cục diện. Phương cách nầy đặc biệt thích hợp với hoàn cảnh “mạnh dùng sức, yếu dùng mưu” và cũng gần gũi với tinh thần nhân ái. Trong một thế giới mà phần đông tin vào sức mạnh của đồng tiền và vũ lực thì điều nầy có vẻ miễn cưỡng nhưng đọc lại lịch sử của nhân loại thì không có phương cách bạo tàn nào mà xây dựng được điều đáng ca ngợi đâu. Trong công cuộc vận động giải trừ quốc nạn và pháp nạn của người Phật tử Việt Nam ngày nay kế sách tâm công là điều cần nghiền ngẫm.

TẤT CẢ BẮT ĐẦU TỪ CÁI NHÌN CỦA CHÍNH MÌNH

Trong chiến tranh người ta thường đặt để ưu tiên hàng đầu là chiến thắng kẻ thù bằng mọi giá, kể cả nung nấu hận thù. Thực tế thì hận thù không phải chỉ tiêu diệt đối phương mà còn là độc tố tàn hại chính mình. Không nhận thức được điều đó rất dễ biến cuộc sống của người khác và chính mình thành địa ngục. Cách suy nghĩ mang lại lợi lạc luôn luôn từ thiện tâm. Không có tâm lành thì khó thực hiện được tâm công. Ông Nelson Mandela, nhà lãnh đạo đưa Nam Phi ra khỏi nạn kỳ thị chủng tộc cực đoan, có thời bị giam ở Robben Island ngoài khơi Cape Town. Ông bị ngược đãi đủ điều trong sự giam cầm do người da trắng điều hành. Dù vậy từ nhà tù khổ sai ông Nelson đã viết cho những người cộng sự của mình : chúng ta không chỉ tranh đấu vì sự bình đẳng, công lý cho người da đen mà là của toàn thể dân chúng thuộc mọi màu da trên quê hương nầy. Cái nhìn đó sáng suốt, cao cả và đẹp. Chúng ta không thể vận động cho nhân quyền bằng ngôn từ thiếu nhân tính; không thể yêu chuộng tự do bằng thái độ áp đặt; không thể xây dựng dân chủ bằng sự độc đoán. Phải tin vào điều thiện mới không bị lôi cuốn bởi ác niệm.

MUỐN DÙNG TÂM CÔNG TRƯỚC HẾT NÊN CÔNG TÂM

Loài người ghét sự bất công nhưng lại thường cư xử bất công. Chúng ta rất dễ gán ghép một cách sai lầm đối với người khác. Trong hoàn cảnh có những xích mích buồn phiền thì hầu như rất dễ dàng quy trách cho người đối lập về những khó khăn phiền phức của mình. Cổ Học Tinh Hoa ghi lại câu chuyện một người mất búa nghi người hàng xóm lấy của mình. Người nầy nhìn người hàng xóm từ cách đi, đứng, ăn nói, cử chỉ nhất nhất đều giống hành vi kẻ trộm. Sau nầy tìm được cái búa trong nhà thì nhìn lại người hàng xóm không có vẻ gì là người xấu. Những nền pháp trị tốt trên thế giới đều có đặc điểm chung là luôn bênh vực quyền lợi của người bị cáo khi sự việc có điểm tồn nghi. Khổ nạn của trần gian không phải chỉ hiện hữu ở chiến trường, ở tòa án mà ngay trong cuộc sống hằng ngày. Thái độ tôn trọng sự thật sẽ xoa vơi rất nhiều sự nghiệt ngã của cuộc đời. Phương tiện truyền thông với kỹ thuật nhanh chóng, tiện lợi ngày nay thường khi lợi bất cập hại. Những tiếng nói trung thực, chân xác thường bị lấn át bởi bao thứ điên đảo vọng tưởng. Dành cho người sự phán xét công minh cũng là cho mình cơ hội tránh ngộ nhận đáng tiếc. Một tâm thái hiền thiện luôn cho chúng ta điều kiện tốt nhất để hành động.

SỨC MẠNH VÔ HÌNH NHƯNG NĂNG LỰC KHÔN CÙNG

Nói về tâm thái con người thì phải nói là sức mạnh nội tại không dễ đo lường. Nếu nhìn thật kỹ sẽ thấy rõ năng lực tinh thần chi phối lớn lao công việc hằng ngày. Việc tạo lập ngôi chùa Phật Quang là một hành trình mà tấm lòng của Phật tử bốn phương chứng minh được khả năng vượt thắng trở lực. Thời điểm xác lập được sự tin tưởng của mọi người về tính khả thi của sự vận động tài chính là đại hội thường niên tại chùa Từ Bi, Arlington. Trong vòng 40 phút, quý đại biểu xa gần phát tâm cúng dường và cho mượn số tiền hơn 140 ngàn. Mặc dù con số ấy vẫn chưa đủ vào đâu nhưng ai ai cũng phấn khởi là chắc chắn sẽ mua được ngôi chùa. Một câu chuyện khác cũng cho chúng ta bài học tương tự. Trong những giờ phút khó khăn nhất trong cuộc vận động mua chùa thì một Phật tử miền bắc Dallas phát tâm gánh vác. Đi từ xa hơn 5 giờ lái xe để nhận tiền. Trời lạnh. Ngồi trong nhà vừa ăn bát cháo nóng vừa nghe đạo hữu đó nói về sự thiết tha làm sao mua được ngôi chùa chung của Giáo Hội. Chỉ đôi lời giản dị đã đủ để nói hết tâm tư. Đủ để khẳng định ngày nào còn những người như vậy Giáo Hội còn tồn tại. Hôm qua lại được biết một chuyện cảm động khác. Tháng trước nhận được số tiền gần 7 ngàn Mỹ kim do Phật tử chùa Quán Âm, Nam Úc gởi cúng quỹ tạo mãi chùa Phật Quang. Không ngờ được trong số đó có 2000 Úc Kim của cụ Pháp Chính Lê Huy Phúc. Đang bệnh nặng đọc Lá Thư Trong Tuần về tin Giáo Hội, cụ ân cần dặn con trai của mình gởi tiền cúng dường. Cụ mất ngày 31.10.2014, bốn tuần lễ trước khi ngôi chùa chung hoàn tất thủ tục tạo mãi. Tối qua ngồi trong chánh điện chùa Phật Quang tụng kinh cho cụ thầm mong cụ đang ở cảnh giới nào đó biết rằng nguyện vọng mua chùa đã hoàn thành. Sống ở đời chỉ cần có tấm lòng.

VẪN CÒN CÓ ĐIỀU ĐÁNG NÓI VỀ NHỮNG CON SỐ

Mặc dù ngôi chùa chung đã chính thức ra đời nhưng vẫn còn có con số tài chánh cần nói. Cuối tuần rồi Dallas và Houston gây quỹ. Tổng kết số thu từ lúc khởi sự tổ chức tiệc gây quỹ ở Dallas là 159 ngàn Mỹ Kim. Tổng số thu ở Houston là 323 ngàn Mỹ Kim. Có thể nói là thành công viên mãn. Quan trọng là quý Phật tử vẫn quan tâm ủng hộ nhiều sau khi đã mua được chùa vì biết rằng vẫn còn có nợ ngắn hạn phải trả. Nếu quý vị đã mua vé số thì những con số đây nên biết:
Lô Độc Đắc: 024336. Lô Hạng Nhất: 009842. Lô Hạng Nhì: 017764. Lô Hạng Ba: 018929. Mười Lô An Ủi:012300; 036125; 049292; 034725; 035945; 050350; 041739; 041596; 033544; 029562. Báo cáo tổng kết tiền thu từ vé số gây quỹ là 82 ngàn Mỹ kim.
Xin chúng ta nhất tâm cầu nguyện và hồi hướng phước lành cho cụ Lê Huy Phúc pháp danh Pháp Chính. Sanh ngày 15.5.1918, mệnh chung ngày 31.10.2014 hưởng thọ 97 tuổi. Mong cụ ở cảnh giới giới nào cũng sung mãn phước lành và sớm viên thành quả vị giác ngộ giải thoát.
Chùa Phật Quang, Huntington Beach 11.12.2014
Tỳ kheo Thích Giác Đẳng

Thứ Năm, 11 tháng 12, 2014


KINH TẬP SUTTANIPÀTA
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt

Chương Bốn - Phẩm Tám 

(VIII) Kinh Pasùra (Sn 161)



824. Ở đây chính thanh tịnh,
Họ thuyết giảng như vậy,
Họ nói trong pháp khác,
Không có sự thanh tịnh,
Họ nói chỗ y chỉ,
Ở đây là thanh tịnh,
Họ rộng rãi an trú,
Trong sự thật của mình.
825. Những ai muốn tranh luận,
Sau khi vào hội chúng,
Họ công kích lẫn nhau,
Họ gọi nhau là ngu,
Họ đi đến người khác,
Và khởi lên tranh luận,
Họ muốn được tán thán,
Họ gọi chúng thiện xảo.
826. Ham mê thích tranh luận,
Ở giữa các hội chúng,
Ước muốn được tán thán,
Họ sợ hãi thất bại,
Khi bị đánh thất bại,
Họ trở thành rủn chí,
Bị chê, họ nổi giận,
Kẻ tìm lỗi người khác.
827. Khi các nhà thẩm sát,
Phê bình các câu hỏi,
Tuyên bố cuộc tranh luận,
Ði đến chỗ thất bại,
Kẻ nói lời hạ liệt,
Than khóc và sầu não,
Họ rên rỉ than van,
Nó đã đánh bại ta.
828. Giữa các vị Sa-môn,
Các tranh luận khởi lên,
Trong các tranh luận này,
Có chiến thắng chiến bại.
Do thấy rõ như vậy,
Không vui thích tranh luận
Dầu có được tán thán,
Cũng không lợi ích gì.
829. Hay trong tranh luận này,
Nó được lời tán thán,
Sau khi đã nói lên,
Chính giữa các hội chúng.
Do vậy nó vui cười,
Nó tự hào kiêu hãnh,
Ðạt được mục đích ấy,
Như tâm ý nói lên.
830. Cái làm nó cống cao,
Cũng là đất hại nó,
Tuy vậy nó vẫn nói,
Lời cống cao kiêu mạn,
Khi thấy được như vậy,
Hãy đừng có tranh luận,
Bậc thiện xảo nói rằng,
Thanh tịnh không do vậy.
831. Cũng như bậc anh hùng,
Nuôi dưỡng đồ ăn vua,
La hét muốn tìm cầu,
Một địch thủ anh hùng,
Ôi anh hùng hãy tránh,
Chỗ nào có vị ấy,
Từ trước đã không có,
Sự đấu tranh như vậy.
832. Những ai chấp tri kiến,
Tranh luận về kiến ấy,
Tuyên bố thuyết giảng rằng:
Chỉ đây là sự thật,
Ông hãy nói với họ,
Ở đây không tranh luận,
Ông hãy nói thêm rằng
Ở đây không địch thủ.
833. Cuộc chiến đấu đã tàn,
Những ai sống như vậy,
Không có sự va chạm,
Giữa kiến này kiến khác,
Hỡi này Pasùra!
Ông được gì nơi họ,
Với người không chấp thủ,
Một sự gì tối thượng?
834. Vậy Ông hãy đi đến,
Suy tư ngẫm nghĩ kỹ,
Với tâm ý suy tư,
Trên những loại tri kiến,
Hãy hoà đồng chung hợp,
Với bậc đã tẩy sạch,
Ông không có thể không
Cùng vị ấy tiến bước.

Thứ Tư, 10 tháng 12, 2014


KINH TẬP SUTTANIPÀTA
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt

98. Kinh Vàsettha


Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn trú ở Icchanankala (Y-xa-năng -gia-la), tại khu rừng Icchanankala.
Lúc bấy giờ có rất nhiều Bà-la-môn danh tiếng và giàu có trú tại Icchanankala như Bà-la-môn Canki, Bà-la-môn Tarukkha, Bà-la-môn Pokkharasati, Bà-la-môn Janussoni, Bà-la-môn Todeyya cùng rất nhiều Bà-la-môn danh tiếng và giàu có khác. Rồi trong khi các thanh niên Bà-la-môn Vasettha và Bharadvaja đang tản bộ du hành, câu chuyện sau đây được khởi lên: "Thế nào là một vị Bà-la-môn?"
Thanh niên Bharadvaja nói như sau:
-- Nếu ai thiện sanh từ mẫu hệ và phụ hệ, huyết thống thanh tịnh cho đến bảy đời tổ phụ, không bị một vết nhơ nào, không bị một dèm pha nào về vấn đề huyết thống thọ sanh, như vậy là làm một vị Bà-la-môn.
Thanh niên Vasettha nói như sau:
-- Nếu ai có giới hạnh và thành tựu các cấm giới, như vậy là một vị Bà-la-môn.
Thanh niên Bà-la-môn Bharadvaja không thể thuyết phục thanh niên Bà-la-môn Vasettha, và thanh niên Bà-la-môn Vasettha không thể thuyết phục thanh niên Bharadvaja. Rồi thanh niên Bà-la-môn Vasettha nói với thanh niên Bà-la-môn Bharadvaja:
-- Này Bharadvaja, Sa-môn Gotama này là Thích tử, xuất gia từ dòng họ Thích-ca, nay đang trú ở Icchanankala, tại khu rừng Icchanankala. Tiếng đồn tốt đẹp sau đây được truyền đi về Tôn giả Gotama: "Ðây là Thế Tôn... Phật, Thế Tôn". Này Tôn giả Bharadvaja, chúng ta hãy đến Sa-môn Gotama, sau khi đến hãy hỏi Tôn giả Gotama về nghĩa lý này, và Sa-môn Gotama trả lời như thế nào, chúng ta sẽ như vậy thọ trì.
-- Thưa vâng.
Thanh niên Bà-la-môn Bharadvaja vâng đáp thanh niên Vasettha. Rồi thanh niên Bà-la-môn Vasettha và Bharadvaja cùng đi đến Thế Tôn, sau khi đến, nói lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, thanh niên Bà-la-môn Vasettha dùng những bài kệ bạch Thế Tôn:
Chúng con cả hai người,
Ðược tôn xưng, tự nhận,
Là những bậc thông thái
Cả ba tập Vệ-đà.
Con là đệ tử Ngài,
Pokkharasati,
Còn vị thanh niên này,
Ðệ tử Tarukkha.
Ba Vệ-đà nói gì,
Chúng con đều thông đạt,
Văn cú và văn phạm,
Chúng con đều thấu hiểu,
Thuyết giảng và giải thích,
Thật giống bậc Ðạo sư.
Tôn giả Gotama,
Giữa hai người chúng con
Có sự tranh luận này,
Về huyết thống thọ sanh.
Bharadvaja nói:
"Chính do sự thọ sanh".
Con nói: "Do hành động,
Mới thành Bà-la-môn".
Mong bậc có Pháp nhãn,
Hiểu cho là như vậy.
Cả hai người chúng con,
Không thể thuyết phục nhau.
Chúng con đến hỏi Ngài,
Bậc Chánh Giác tôn xưng.
Như trăng được tròn đầy,
Quần chúng đến chấp tay,
Ðảnh lễ và chiêm ngưỡng.
Cũng vậy, ở trong đời,
Quần chúng đến đảnh lễ,
Gotama Tôn giả.
Chúng con đến hỏi Ngài,
Bậc Pháp nhãn thế gian,
Bà-la-môn do sanh,
Hay chính do hành động?
Chúng con không được biết,
Hãy nói chúng con biết.
Ðức Thế Tôn bèn nói:
Này Ông Vasettha,
Ta trả lời cho Ông,
Thuận thứ và như thật,
Sự phân loại do sanh,
Của các loại hữu tình,
Chính do sự sanh đẻ,
Do sanh, có dị loại.
Hãy xem cỏ và cây,
Dầu chúng không nhận thức,
Chúng có tướng thọ sanh,
Do sanh, có dị loại.
Hãy xem loại côn trùng,
Bướm đêm, các loại kiến,
Chúng có tướng thọ sanh,
Do sanh, có dị loại.
Hãy xem loại bốn chân,
Loại nhỏ và loại lớn,
Chúng có tướng thọ sanh,
Do sanh, có dị loại.
Hãy xem loài bò sát,
Loại rắn, loại lưng dài,
Chúng có tướng thọ sanh,
Do sanh, có dị loại.
Hãy xem các loại cá,
Loại sinh sống trong nước,
Chúng có tướng thọ sanh,
Da sanh, có dị loại.
Hãy xem các loại chim,
Loại có cánh trên trời,
Chúng có tướng thọ sanh,
Do sanh, có dị loại.
Tùy theo sự thọ sanh,
Chúng có tướng tùy sanh.
Trong thế giới loài Người,
Tướng sanh không có nhiều.
Không ở đầu mái tóc,
Không ở tai, ở mắt,
Không ở miệng, ở mũi,
Không ở môi, ở mày,
Không ở cổ, ở nách,
Không ở bụng, ở lưng,
Không ở ngực, ở vú,
Không âm hộ, hành dâm.
Không ở tay, ở chân,
Không ở ngón, ở móng,
Không ở cổ chân, vế,
Không ở sắc, ở tiếng.
Không tướng, do tùy sanh,
Tùy sanh, loại sai khác.
Trên tự thân con người,
Không có gì đặc biệt.
Chỉ tùy theo danh xưng,
Loài Người được kêu gọi.
Ðối người tự sinh sống.
Chăn bò, lo ruộng đất,
Vasettha hãy biết,
Kẻ ấy là nông phu,
Không phải Bà-la-môn.
Ai sống theo nghề nghiệp,
Vasettha hãy biết,
Kẻ ấy là công thợ,
Không phải Bà-la-môn.
Ai sống nghề buôn bán,
Vasettha hãy biết,
Kẻ ấy là thương nhân,
Không phải Bà-la-môn.
Ai sống hầu hạ người,
Vasettha hãy biết,
Kẻ ấy là nô bộc,
Không phải Bà-la-môn.
Ai sống lấy của người,
Vasettha hãy biết,
Kẻ ấy là kẻ trộm,
Không phải Bà-la-môn.
Ai sống nghề cung tên,
Vasettha hãy biết,
Kẻ ấy là nhà binh,
Không phải Bà-la-môn.
Ai sống nghề tế tự,
Vasettha hãy biết,
Kẻ ấy là tế quan,
Không phải Bà-la-môn.
Ai sống giữa loài Người,
Thọ hưởng làng, quốc độ,
Vasettha hãy biết,
Kẻ ấy là vua chúa,
Không phải Bà-la-môn.
Và Ta không có gọi,
Kẻ ấy Bà-la-môn.
Chỉ vì do thọ sanh,
Dầu vị ấy cao sang,
Dầu vị ấy giàu có,
Nhưng còn ham thế lợi.
Không tham lam thế lợi,
Không chấp thủ sở hữu,
Kẻ ấy Ta mới gọi,
Chánh danh Bà-la-môn.
Vị đoạn tận kiết sử,
Không ai không sợ hãi,
Siêu việt mọi chấp trước,
Thoát ly các hệ phược,
Kẻ ấy Ta mới gọi,
Chánh danh Bà-la-môn.
Cắt dây thừng, dây ách,
Dây cương, cùng dây trói,
Quăng đi cây chắn ngang,
Kẻ ấy Ta mới gọi,
Bậc sáng suốt, giác ngộ,
Chánh danh Bà-la-môn.
Ai không lỗi, chịu đựng,
Nhiếc mắng cùng đánh trói,
Trang bị với nhẫn lực,
Kẻ ấy Ta mới gọi,
Chánh danh Bà-la-môn.
Không phẫn nộ, giữ luật,
Có giới hạnh không kiêu,
Nhiếp phục, thân tối hậu,
Kẻ ấy Ta mới gọi,
Chánh danh Bà-la-môn.
Như nước trên lá sen,
Hột cải trên đỉnh nhọn,
Không tham luyến dục vọng,
Kẻ ấy Ta mới gọi,
Chánh danh Bà-la-môn.
Ai biết ngay đời này
Khổ vì ngã đoạn tận,
Gánh nặng được đặt xuống,
Xa lìa các hệ phược,
Kẻ ấy Ta mới gọi,
Chánh danh Bà-la-môn.
Tuệ thâm sâu, có trí
Thiện xảo đạo phi đạo,
Ðích tối thượng đạt được,
Kẻ ấy Ta mới gọi,
Chánh danh Bà-la-môn.
Ai không còn liên hệ,
Cả tại gia, xuất gia,
Không nhà trú, thiểu dục,
Kẻ ấy Ta mới gọi,
Chánh danh Bà-la-môn.
Bỏ gậy đối chúng sanh,
Kẻ yếu cùng kẻ mạnh,
Không giết, không hại ai,
Kẻ ấy Ta mới gọi,
Chánh danh Bà-la-môn.
Giữa kẻ thù, không thù,
Giữa hung bạo, an tịnh,
Giữa chấp thủ, không chấp,
Kẻ ấy Ta mới gọi,
Chánh danh Bà-la-môn.
Dối, tham, sân, mạn, phú,
Ai bỏ rơi được chúng,
Như hột cải rơi khỏi.
Ðầu nhọn của mũi kim,
Kẻ ấy Ta mới gọi,
Chánh danh Bà-la-môn.
Ai dạy thật nhỏ nhẹ,
Nói lên lời chơn thực,
Không xúc chạm một ai,
Kẻ ấy Ta mới gọi,
Chánh danh Bà-la-môn.
Dài ngắn hay lớn nhỏ,
Thanh tịnh hay bất tịnh,
Ở đời vật dài ngắn,
Lớn, nhỏ, tịnh, bất tịnh,
Không lấy vật không cho,
Kẻ ấy Ta mới gọi,
Chánh danh Bà-la-môn.
Với ai không tham cầu,
Ðời này và đời sau,
Từ bỏ mọi tham cầu,
Ðoạn rời mọi hệ phược,
Kẻ ấy Ta mới gọi,
Chánh danh Bà-la-môn.
Ai không có chấp tàng,
Với trí đoạn nghi hoặc,
Ðạt nhập đáy bất tử.
Kẻ ấy Ta mới gọi,
Chánh danh Bà-la-môn.
Ở đời ai vượt khỏi,
Mọi buộc ràng thiện ác,
Không sầu, không bụi uế,
Kẻ ấy Ta mới gọi,
Chánh danh Bà-la-môn.
Ai không uế, thanh tịnh,
Không gợn, sáng như trăng,
Hỷ, hữu được đoạn trừ,
Kẻ ấy Ta mới gọi,
Chánh danh Bà-la-môn.

Ai vượt qua hiểm lộ,
Ác lộ, luân hồi, si,
Vượt khỏi, đến bờ kia,
Thiền tư, không dao động,
Ðoạn trừ mọi nghi hoặc,
An tịnh, không chấp trước,
Kẻ ấy Ta mới gọi,
Chánh danh Bà-la-môn.

Ở đời, bỏ dục vọng,
Không nhà, sống xuất gia,
Ðoạn trừ dục và hữu,
Kẻ ấy Ta mới gọi,
Chánh danh Bà-la-môn.
Ở đời, bỏ tham ác,
Không nhà, sống xuất gia,
Ðoạn trừ ác và hữu,
Kẻ ấy Ta mới gọi,
Chánh danh Bà-la-môn.
Ai từ bỏ nhân ách,
Vượt qua cả thiên ách,
Ðoạn trừ mọi ách nạn,
Thoát ly mọi hệ phược,
Kẻ ấy Ta mới gọi,
Chánh danh Bà-la-môn.
Từ bỏ lạc, bất lạc,
Thanh lương, không y trú,
Chiến thắng mọi thế giới,
Bậc anh hùng dũng mãnh,
Kẻ ấy Ta mới gọi,
Chánh danh Bà-la-môn.
Ai biết thật hoàn toàn,
Sự sanh diệt chúng sanh,
Không tham trước, Thiện Thệ,
Giác ngộ, đạt chánh giác,
Kẻ ấy Ta mới gọi,
Chánh danh Bà-la-môn.
Không biết chỗ sở thủ,
Thiên, Nhân, Càn-thát-bà,
Lậu hoặc được đoạn trừ,
Bậc Ứng Cúng, La-Hán,
Kẻ ấy Ta mới gọi,
Chánh danh Bà-la-môn.
Ai không có chấp trước,
Ðời trước, sau, đời này,
Không chấp, không sở hữu,
Kẻ ấy Ta mới gọi,
Chánh danh Bà-la-môn.
Ngưu vương, bậc Tối thắng,
Anh hùng, bậc Ðại sĩ,
Bậc Chinh phục, Bất động,
Tắm sạch, bậc Giác Ngộ,
Kẻ ấy Ta mới gọi,
Chánh danh Bà-la-môn.
Ai biết được đời trước,
Thấy được thiện, ác thú,
Ðạt được sanh diệt đoạn,
Kẻ ấy Ta mới gọi,
Chánh danh Bà-la-môn.
Ðiều thế giới cho gọi,
Là "tên" và "gia tộc",
Chỉ tục danh, thông danh,
Danh từ khởi nhiều chỗ.
Ðã lâu đời chấp trước,
Tà kiến của kẻ ngu,
Kẻ ngu tự tuyên bố,
Bà-la-môn do sanh.
Không phải do sanh đẻ,
Ðược gọi Bà-la-môn,
Không phải do sanh đẻ,
Gọi phi Bà-la-môn.
Chính do sự hành động
Ðược gọi Bà-la-môn,
Chính do sự hành động
Gọi phi Bà-la-môn.
Hành động làm nông phu,
Hành động làm công thợ,
Hành động làm lái buôn,
Hành động làm nô bộc.
Hành động làm ăn trộm,
Hành động làm nhà binh.
Hành động làm tế quan,
Hành động làm vua chúa.
Kẻ trí thấy hành động,
Như thật là như vậy.
Thấy rõ lý duyên khởi,
Biết rõ nghiệp dị thục.
Do nghiệp, đời luân chuyển
Do nghiệp, người luân hồi.
Nghiệp trói buộc chúng sanh,
Như trục xe quay bánh.
Do khổ hạnh, Phạm hạnh,
Tiết chế và chế ngự,
Tác thành Bà-la-môn.
Bà-la-môn như vậy,
Mới thật là tối thượng,
Ba Vệ-đà thành tựu,
An tịnh, tái sanh đoạn,
Vesettha nên biết,
Kẻ ấy được Phạm thiên,
Ðược Thiên chủ Sakka,
Biết đến thật tường tận.
Khi được nghe nói vậy, hai thanh niên Bà-la-môn Vasettha và Bharadvaja bạch Thế Tôn:

-- Thật vi diệu thay, tôn giả Gotama ! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama ! Như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho người bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc; cũng vậy, Chánh pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày, giải thích. Thưa Tôn giả Gotama, nay con xin quy y Tôn giả Gotama, quy y Pháp và quy y chúng Tỷ-kheo. Mong Tôn giả Gotama nhận chúng con làm cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, chúng con trọn đời quy ngưỡng.

PARIS, ngày 3.12.2014 (PTTPGQT) – Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế xin hân hạnh giới thiệu Bạn đọc Lá Thư Trong Tuần – Tuần thứ Tám, loan báo tin vui về lễ Nhập tự Ngôi Chùa Phật Quang, toạ lạc tại 17101 A Street – Thành phố Huntington Beach – California 92647 – USA / Hoa Kỳ. làm cơ sở sinh hoạt cho Văn Phòng II Viện Hoá Đạo và Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất Hải ngoại tại Hoa Kỳ. Một mong ước vừa thành tựu, nhưng hành trình chưa chấm dứt, vì món nợ ngắn hạn còn phải trả. Do tấm lòng của Phật tử từ Hoa Kỳ, năm châu đến Việt Nam đã đóng góp tiền bạc hoặc cho vay không lãi để mùa chùa. Kế tiếp trong những tuần lễ tới là thực hiện các buổi Gây Quỹ qua các thành phố Dallas, Houston, Denver, Atlanta, Tampa, Oregon, v.v… để trả ngay cho những đại thí chủ cho mượn tiền ngắn hạn (phải trả trong 2 tháng tới) hay dài hạn (từ 3 đến 5 năm). Đây là nội dung hoan lạc trong niềm thâm tạ của Lá Thư số 8. Xin mời Bạn đọc vào Trang Thư thứ Tám :
 bodhi1

Lá Thư Trong Tuần – Tuần 8 :
Lời Thâm Tạ Trong Ngày Lễ Tạ Ơn


Lễ Tạ Ơn – Thanks Giving – mang nhiều ý nghĩa đẹp. Năm nay đối với nhiều Phật tử ngày lễ nầy đặc biệt ấm cúng. Chiều thứ tư 26.11.2014 đại diện của chùa Phật giáo Đài Loan chính thức trao chìa khoá cho Văn Phòng II Viện Hoá Đạo. Cơ sở chính thức trở thành ngôi chùa chung của Giáo Hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất sau nhiều tuần lễ băn khoăn, lo lắng của Phật tử xa gần. Cái lớn lao của ngôi chùa không phải ở diện tích hay cấu trúc mà là ở vòng tay rộng lớn của những người con Phật từ Âu Châu, Úc châu, Canada, Hoa kỳ và kể cả từ Việt Nam. Cái đẹp của ngôi chùa không phải ở hoa văn hoạ tiết, mà chính ý niệm về một ngôi chùa chung thật sự. Cái vui nhất của ngôi chùa là sự nở hoa trong bối cảnh đang có nhiều nghiệt ngã. Đúng là ngày 28.11, theo giao kèo, mới hoàn tất thủ tục giấy tờ, thế nhưng cả hai bên mua và bán đều mong sớm hơn, nên lễ nhập tự mới diễn ra vào tối thứ tư 26.11.2014. Nếu Thanks Giving cho chúng ta cơ hội để cảm ơn cuộc đời thì việc tạo mãi ngôi chùa Phật Quang, nam Cali, không biết có ngôn từ nào đủ để nói hết.

NHỚ ƠN PHẬT,
NGUYỆN THẮP SÁNG LỜI PHẬT DẠY
Nghĩ về một ngôi chùa hưng thịnh, nhiều người kỳ vọng một cơ sở tín ngưỡng thu hút đông đảo quần chúng Phật tử lui tới. Những hình thức sinh hoạt mang bản sắc tín ngưỡng dân gian thường được đại đa số ưa chuộng. Ở đây phải nói tới sự quân bình giữa khế cơ và khế lý. Ưu tiên của chúng ta vẫn là thắp sáng lời Phật dạy. Nói một cách giản dị thì toàn bộ sinh hoạt ngôi chùa và nếp sống tâm linh của người con Phật có thể tóm tắt qua bốn phương diện. Đối với tha nhân, Đức Phật dạy nên huân tập bốn đức: từ (thân thiện trong yêu thương), bi (trắc ẩn trước những khổ đau), hỷ (vui chung với hạnh phúc của người), xả (điềm đạm trước thuận nghịch). Đối với tự thân, thì Đức Phật dạy nên trau dồi năm pháp: tín (niềm tin chân chánh), tấn (nỗ lực một cách lợi lạc), niệm (sống tỉnh thức), định (tập trung một cách bền bỉ), tuệ (nhận thức hợp lý theo nhân quả). Đối với quan niệm về cứu cánh, thì người con Phật hướng cầu tự giác, giác tha, giác hạnh viên mãn. Nếu nói thêm về tôn chỉ hành hoạt của người Phật tử Việt mà Giáo Hội thường nêu rõ là hộ dân, hộ quốc và hộ pháp. Những giá trị căn bản giúp chúng ta không bị trôi dạt trước mọi phong ba bão tố và xây dựng được mái chùa đúng với lời Phật dạy.

NHỚ ƠN TIỀN NHÂN,
XIN BẢO LƯU NHỮNG GIÁ TRỊ NGÀN ĐỜI
Lịch sử một trăm năm qua của Phật giáo Việt Nam chứa đầy những trang bi tráng. Không phải chỉ có một Hoà thượng Thích Quảng Đức vị pháp thiêu thân, mà có nhiều, nhiều tăng ni Phật tử đã dùng mạng sống thắp sáng lương tri của nhân loại. Không phải chỉ có một Hoà thượng Thích Thiện Minh chết trong lao tù cộng sản, mà còn không biết bao nhiêu cái chết bất khuất trước bạo lực. Không phải chỉ một thiểu số thành viên Gia Đình Phật Tử hy sinh cả cuộc đời cho sự tồn tại của Giáo Hội, mà nhiều thế hệ đã tiếp nối trong muôn vàn khổ nạn. Không phải chỉ có một, hai bậc lãnh đạo Giáo Hội gần như cả nửa cuộc đời sống trong lưu đày quản thúc, mà có lúc tất cả sự tồn tại của Giáo Hội nằm sau song sắt của nhà tù. Thật khó để có thể nói hết những lao lung, nghiệt ngã mà người Phật tử Việt Nam đã gánh chịu trong một thế kỷ qua. Dù vậy có thể khẳng định một điều, là nhiều thành tựu hôm nay từ cơ sở vật chất đến giá trị phổ quát tinh thần đều là hoa trái của cây đại thụ Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, giáo hội dân lập hình thành trong lòng dân tộc giữa những điêu linh thăng trầm. Phải thấy được điều đó mới có thể hiểu được tại sao trong giai đoạn nhiều khó khăn mà Phật tử bốn phương vẫn có thể chung lòng tạo lập ngôi chùa Phật Quang để gìn giữ một điều, mà Đức Tăng Thống Thích Quảng Độ thường nhắc nhở là sự tồn tại của Giáo Hội.

NHỚ ƠN NHỮNG NGƯỜI HY SINH,
XIN LÀM TỐT NHỮNG GÌ CÓ ĐƯỢC
Trong sự vận động tạo lập ngôi chùa chung có một phần thưởng rất lớn cho những ai có trách nhiệm trực tiếp, là hình ảnh của những hy sinh vô bờ. Có bắt tay thực hiện mới thấy được những tấm lòng đối với Giáo Hội. Có cụ già trên 80 tuổi ngày ngày ra các khu chợ để xin tiền mua chùa. Có một Phật tử cao niên cầm 500 Mỹ kim nói trong nước mắt là chỉ giữ cháu nên không có tiền nhiều chỉ xin góp chút nầy vì thương Giáo Hội quá. Có Phật tử gởi về một chi phiếu với lá thư dài bày tỏ sự lo lắng không biết mình có mua được chùa không. Có một Phật tử từ miền Tây Bắc Hoa Kỳ mặc dù đã đóng góp công, của thật nhiều vậy mà vẫn tiếp tục nhắn tin nhiều lần  cho tới ngày cuối trước khi thủ tục mua chùa hoàn tất với dòng chữ : nếu còn thiếu thì thầy phải cho biết sớm; vị đó có lẽ không hiểu rằng chỉ chừng ấy là liều thuốc an thần vô giá trước bao khó khăn. Tấm lòng của tất cả giản dị, trong sáng và chứa đầy những hy sinh. Ngôi chùa được tạo lập trong một phương cách rất “chung”, bây giờ tiếp tục là làm thế nào tinh thần chung đó tiếp tục trong sự duy trì. Quá nhiều Phật tử đau lòng về những thủ đắc chùa chiền mang tính tư hữu. Chúng ta không thể để những tấm lòng như vậy bị cô phụ trong sự ra đời của ngôi chùa chung nầy.

GIÂY PHÚT NGHỈ NGƠI
KHÔNG CÓ NGHĨA LÀ HÀNH TRÌNH HOÀN TẤT
Trong số kinh phí tạo lập chùa một triệu ba trăm ngàn Mỹ kim thì có một phần ba là tiền cho mượn đoản kỳ. Số tiền nầy cần được hoàn lại trong vòng hai tháng sau khi tất cả tiệc gây quỹ hoàn tất. Mua được ngôi chùa là niềm hoan hỷ lớn. Chúng ta có thể thở phào thư giãn trong giây lát nhưng phải tiếp tục vận động. Không thể nói là hoàn tất thủ tục tạo mãi là không còn gì để khẩn trương. Cần phải tiếp tục vận động sự cúng dường để thanh thoả những khoản tiền mượn, tất cả đều không có lời. Ngay cả sự cho mượn dài hạn giúp trả hết số nợ ngắn hạn vẫn cực kỳ quan trọng. Sự phấn khởi khi đã mua được cơ sở làm chùa chung là niềm vui vô hạn nhưng điều đó chỉ thật sự viên mãn khi chúng ta hoàn trả hết tất cả tiền vay mượn của Phật tử xa gần vốn là những người đã lo lắng hy sinh rất nhiều. Một đoạn đường dài đã đi qua, chỉ cần cố gắng thêm chút nữa là tới đích điểm. Tấm lòng cao đẹp của bốn phương Phật tử chắc chắn sẽ trỗ hoa và cho chúng ta một mùa xuân đạo vị.
Hành trình trước mắt có nhiều chông gai, thử thách nhưng chúng ta biết rõ sẽ không cô đơn. Những chia sẽ lớn nhỏ xa gần quả thật cho chúng ta nhiều sức mạnh nội tại. Chúng ta vẫn còn đó Đức Tăng Thống, như tàng cao bóng cả che chở cho sự tồn tại của Giáo Hội, và vẫn còn đó những thiết tha không mệt mỏi của bao người Phật tử khắp nơi cho đại cuộc giải trừ quốc nạn, pháp nạn. Bất chợt vài dòng thơ ngắn trở thành vô cùng ý vị:
Cảm tạ cuộc đời cho tôi kỉnh lạy
Cảm tạ anh em bằng hữu chút tri lòng
Vẳng chuông sớm tôi thấy mình thức dậy
Gắng tu hoài dẫu thiên địa vô công

(Thi sĩ Minh Đức)
Xin thâm tạ tất cả những tấm lòng vì đạo, vì đời.
Minnesota, mùa lễ tạ ơn 2014
Tỳ kheo Thích Giác Đẳng

Thứ Hai, 8 tháng 12, 2014


KINH TẬP SUTTANIPÀTA
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt
Chương Bốn- Phẩm Tám
VIII) Kinh Pasùra (Sn 161)


824. Ở đây chính thanh tịnh,
Họ thuyết giảng như vậy,
Họ nói trong pháp khác,
Không có sự thanh tịnh,
Họ nói chỗ y chỉ,
Ở đây là thanh tịnh,
Họ rộng rãi an trú,
Trong sự thật của mình.
825. Những ai muốn tranh luận,
Sau khi vào hội chúng,
Họ công kích lẫn nhau,
Họ gọi nhau là ngu,
Họ đi đến người khác,
Và khởi lên tranh luận,
Họ muốn được tán thán,
Họ gọi chúng thiện xảo.
826. Ham mê thích tranh luận,
Ở giữa các hội chúng,
Ước muốn được tán thán,
Họ sợ hãi thất bại,
Khi bị đánh thất bại,
Họ trở thành rủn chí,
Bị chê, họ nổi giận,
Kẻ tìm lỗi người khác.
827. Khi các nhà thẩm sát,
Phê bình các câu hỏi,
Tuyên bố cuộc tranh luận,
Ði đến chỗ thất bại,
Kẻ nói lời hạ liệt,
Than khóc và sầu não,
Họ rên rỉ than van,
Nó đã đánh bại ta.
828. Giữa các vị Sa-môn,
Các tranh luận khởi lên,
Trong các tranh luận này,
Có chiến thắng chiến bại.
Do thấy rõ như vậy,
Không vui thích tranh luận
Dầu có được tán thán,
Cũng không lợi ích gì.
829. Hay trong tranh luận này,
Nó được lời tán thán,
Sau khi đã nói lên,
Chính giữa các hội chúng.
Do vậy nó vui cười,
Nó tự hào kiêu hãnh,
Ðạt được mục đích ấy,
Như tâm ý nói lên.
830. Cái làm nó cống cao,
Cũng là đất hại nó,
Tuy vậy nó vẫn nói,
Lời cống cao kiêu mạn,
Khi thấy được như vậy,
Hãy đừng có tranh luận,
Bậc thiện xảo nói rằng,
Thanh tịnh không do vậy.
831. Cũng như bậc anh hùng,
Nuôi dưỡng đồ ăn vua,
La hét muốn tìm cầu,
Một địch thủ anh hùng,
Ôi anh hùng hãy tránh,
Chỗ nào có vị ấy,
Từ trước đã không có,
Sự đấu tranh như vậy.
832. Những ai chấp tri kiến,
Tranh luận về kiến ấy,
Tuyên bố thuyết giảng rằng:
Chỉ đây là sự thật,
Ông hãy nói với họ,
Ở đây không tranh luận,
Ông hãy nói thêm rằng
Ở đây không địch thủ.
833. Cuộc chiến đấu đã tàn,
Những ai sống như vậy,
Không có sự va chạm,
Giữa kiến này kiến khác,
Hỡi này Pasùra!
Ông được gì nơi họ,
Với người không chấp thủ,
Một sự gì tối thượng?
834. Vậy Ông hãy đi đến,
Suy tư ngẫm nghĩ kỹ,
Với tâm ý suy tư,
Trên những loại tri kiến,
Hãy hoà đồng chung hợp,
Với bậc đã tẩy sạch,
Ông không có thể không
Cùng vị ấy tiến bước.

Thứ Sáu, 5 tháng 12, 2014


KINH TẬP SUTTANIPÀTA
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt

Chương Bốn- Phẩm Tám



(XI) Kinh Tranh luận (Sn 168)


Người hỏi:
862. Từ đâu được khởi lên,
Các tranh luận, đấu tranh,
Than van và sầu muộn,
Cùng với tánh xan tham,
Mạn và tăng thượng mạn,
Kể cả với hai lưỡi,
Từ đâu chúng sanh nhiều,
Mong Ngài hãy nói lên.
Thế Tôn:
863. Từ ái sanh khởi nhiều,
Các tranh luận, đấu tranh
Than van và sầu muộn,
Cùng với tánh xan tham,
Mạn và tăng thượng mạn,
Kể cả với hai lưỡi,
Các tranh luận, đấu tranh,
Ðều liên hệ xan tham,
Những lời nói hai lưỡi,
Khởi lên từ tranh luận.
Người hỏi:
864. Do những nhân duyên nào,
Khả ái sanh ở đời?
Hay những tham lam nào,
Ðược lưu hành ở đời?
Ước vọng và thành đạt,
Là do nhơn duyên nào?
Khiến loài Người được sanh,
Trong thời gian tương lai?
Thế Tôn:
865. Do ước muốn là nhân,
Khả ái sanh ở đời,
Hay với những tham lam,
Ðược lưu hành ở đời,
Ước vọng và thành đạt,
Do ước muốn làm nhân,
Khiến loài Người được sanh,
Trong thời gian tương lai.
Người hỏi:
866. Ước muốn sanh ở đời
Là do nhân duyên nào?
Hay cả những quyết định,
Do nhân nào được sanh?
Phẫn nộ và vọng ngữ,
Cùng với cả nghi hoặc,
Hoặc là những pháp nào,
Ðược Sa-môn nói đến?
Thế Tôn:

867. Khả ý, bất khả ý,
Ðược gọi vậy ở đời,
Do y chỉ nơi chúng,
Ước muốn được sanh khởi.
Sau khi thấy trong sắc,
Cả hữu và phi hữu,
Chúng sanh mới làm được,
Những quyết định ở đời.

868. Phẫn nộ và vọng ngữ,
Cùng với cả nghi hoặc,
Những pháp này lưu hành,
Khi pháp đôi có mặt,
Kẻ nghi hãy học tập,
Trên con đường chánh trí,
Sau khi biết các pháp,
Do Sa-môn thuyết giảng.
Người hỏi:
869. Khả ý, bất khả ý,
Là do nhân duyên nào,
Do cái gì không có,
Họ không có hiện hữu.
Còn về ý nghĩa này,
Về phi hữu và hữu,
Hãy nói cho chúng con,
Nguyên nhân gì chúng sanh?
Thế Tôn:
870. Do nhân duyên cảm xúc,
Khả ý, bất khả ý,
Nếu không có cảm xúc,
Họ cũng không hiện hữu,
Còn về ý nghĩa này,
Về phi hữu và hữu,
Ta nói cho Ông rõ,
Nguyên nhân này, chúng sanh.
Người hỏi:
871. Còn cảm xúc ở đời,
Do nhân gì sanh khởi,
Hay các loại chấp thủ,
Do từ đâu sanh nhiều,
Do cái gì không có,
Ngã sở hữu không có,
Cái gì không hiện hữu,
Khiến không có cảm xúc?
Thế Tôn:
872. Do duyên danh và sắc,
Nên có các cảm xúc,
Do nhân các ước muốn,
Nên có những chấp thủ,
Nếu ước muốn không có,
Ngã sở hữu cũng không,
Do sắc không hiện hữu,
Khiến không có cảm xúc.
Người hỏi:
873. Sở hành như thế nào,
Sắc pháp không hiện hữu,
An lạc và khổ đau,
Thế nào không có mặt,
Hãy nói lên cho con,
Không có như thế nào,
Chúng con muốn được biết,
Tâm ý con nói vậy.
Thế Tôn:
874. Không có tưởng các tưởng,
Không có tưởng vô tưởng,
Phi tưởng cũng không có,
Vô hữu tưởng cũng không.
Do sở hành như vậy,
Sắc pháp không hiện hữu,
Do nhân duyên các tưởng,
Hý luận được hình thành
.
Người hỏi:
875. Ngài đã nói chúng con,
Những điều chúng con hỏi,
Có điều nữa hỏi Ngài,
Mong Ngài trả lời cho,
Bậc Hiền trí nói rằng,
Như thế này tối thượng,
Nghĩa là ở đời này,
Sự thanh tịnh Dạ-xoa
Hay là chúng muốn nói,
Có điều gì khác nữa?
Thế Tôn:

876. Bậc Hiền trí nói rằng,
Như thế là tối thượng,
Nghĩa là ở đời này,
Sự thanh tịnh Dạ-xoa,
Như có người nói rằng,
Chính là sự hoại diệt,
Lại một số thiện nhân,
Nói rằng: "Không dư y".
877. Biết được những pháp ấy,
Ðều nương tựa y chỉ,
Biết vậy bậc ẩn sĩ,
Suy tư trên y chỉ,
Biết được, nên giải thoát,
Không đi đến tranh luận,
Bậc Hiền không tìm đến,
Cả hữu và phi hữu.
GIÁO TRÌNH KINH TẬP SUTTANIPÀTA

Chương Hai - Tiểu Phẩm

Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt
(V) Kinh Thanh Tịnh tám kệ (Sn 154)


790. Bà-la-môn không nói,
Ngoài Thánh đạo được tịnh,
Với điều được thấy nghe,
Giới đức, được thọ tưởng;
Với công đức, ác đức,
Vị ấy không nhiễm trước,
Từ bỏ mọi chấp ngã,
Không làm gì ở đời.

791. Từ bỏ tri kiến cũ,
Y chỉ tri kiến mới,
Ði đến sự tham đắm,
Không vượt qua ái dục;
Họ nắm giữ chấp trước,
Họ từ bỏ xa lánh,
Như khỉ thả cành này,
Rồi lại nắm cành khác,

792. Người tự mình chấp nhận,
Các chủng loại giới cấm,
Ði chỗ cao chỗ thấp,
Sống bị tưởng chi phối;
Người có trí rộng lớn,
Nhờ trí tuệ, quán pháp,
Có trí, không đi đến
Các pháp cao và thấp.

793. Vị ấy đạt thù thắng,
Trong tất cả các pháp,
Phàm có điều thấy, nghe,
Hay cảm thọ, tưởng đến;
Với vị tri kiến vậy,
Sống đời sống rộng mở,
Không bị ai ở đời,
Có thể chi phối được.

794. Họ không tác thành gì,
Họ không đề cao gì,
Họ không có nói lên,
Ðây tối thắng thanh tịnh,
Không dính líu tham đắm,
Mọi chấp trước triền phược,
Họ không tạo tham vọng,
Bất cứ đâu ở đời.

795. Với vị Bà-la-môn
Ðã vượt khỏi biên giới,
Sau khi biết và thấy,
Không có kiến chấp trước.
Tham ái không chi phối,
Cũng không tham, ly tham,
Vị ấy ở đời này,
Không chấp thủ gì khác.

Thứ Năm, 4 tháng 12, 2014


KINH TẬP SUTTANIPÀTA
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt

Chương Bốn- Phẩm Tám

(VII) Kinh Tissametteyya (Sn 160)

814. Tissa Metteyya,
Tôn giả nói như sau:
Thế Tôn hãy nói lên,
Sự tai hại của người,
Ðắm say về dâm dục,
Sau khi nghe, chúng con
Sẽ học tập lời Ngài,
Lời dạy về viễn ly.
815. Thế Tôn nói như sau:
Hỡi này Metteyya,
Ai đắm say dâm dục,
Quên mất lời giảng dạy,
Rơi vào đường tà vạy,
Nếp sống ấy không thánh.
816. Ai trước sống một mình,
Nay rơi vào dâm dục,
Như xe bị nghiêng ngã,
Người ấy ở trong đời,
Ðược gọi là phàm phu,
Ðược gọi là hạ liệt.

817. Tiếng tốt có từ trước,
Người ấy bị tổn giảm,
Thấy vậy hãy học tập,
Từ bỏ sự dâm dục.
818. Chi phối bởi suy tư,
Trầm ngâm như kẻ nghèo,
Nghe tiếng trách người khác,
Như kẻ bị thất vọng.
819. Bị người khác buộc tội,
Nó làm các đao kiếm,
Trở thành người tham lớn,
Chấp thủ điều vọng ngôn.
820. Ðược danh là Hiền trí,
An trú sống một mình,
Nếu rơi vào dâm dục,
Sầu não như kẻ ngu.
821. Thấy nguy hại như vậy,
Bậc ẩn sĩ trước sau,
Kiên trì sống cô độc,
Không thực hành dâm dục.
822. Hãy học tập viễn ly,
Ðây hạnh thánh tối thượng,
Không nghĩ mình tối thắng,
Dầu gần được Niết-bàn.
823. Sở hành bậc ẩn sĩ,
Trống không, không mong dục,
Bậc vượt khỏi bộc lưu,
Ðược các người ở đời,
Bị tham dục trói buộc,
Ganh tị và thèm muốn.

Thứ Tư, 3 tháng 12, 2014


KINH TẬP SUTTANIPÀTA
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt
Chương Bốn- Phẩm Tám
(V) Kinh Tối Thắng tám kệ (Sn 156)



799. Chớ có tác thành ra
Tri kiến ở trên đời,
Từ ở nơi chánh trí,
Hay từ nơi giới đức,
Không bận tâm so sánh,
Tự ngã bằng người khác,
Không có suy nghĩ đến,
Ðây "liệt " hay đây "thắng".
800. Ðoạn tận, từ bỏ ngã,
Không chấp thủ sự gì,
Không tác thành, dựng nên,
Nương tựa ở nơi trí,
Chân thật giữa tranh chấp
Không theo phe phái nào,
Vị ấy không đi theo
Một loại tri kiến nào.
801. Với ai, hay cực đoan,
Không có hướng nguyện gì,
Với hữu và phi hữu,
Hay đời này đời sau,
Vị ấy không an trú,
Tại một trú xứ nào,
Từ bỏ mọi chấp thủ,
Ðối với tất cả pháp.
802. Ðối vị ấy ở đây,
Những gì được thấy nghe,
Ðược cảm thọ tưởng đến,
Chút suy tưởng cũng không;
Vị Bà-la-môn ấy
Không chấp thủ tri kiến,
Không ai ở đời này
Có thể chi phối được.
803. Họ không tác thành gì,
Họ không đề cao gì,
Các pháp không được họ,
Chấp trước nắm giữ gì
Không một Phạm chí nào,
Bị giới cấm dắt dẫn,
Ði đến bờ bên kia,
Vị ấy không trở lui.

Thứ Hai, 1 tháng 12, 2014

GIÁO TRÌNH KINH TẬP SUTTANIPÀTA

Chương Bốn - Phẩm Tám

Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt

(VII) Kinh Tissametteyya (Sn 160)

814. Tissa Metteyya,
Tôn giả nói như sau:
Thế Tôn hãy nói lên,
Sự tai hại của người,
Ðắm say về dâm dục,
Sau khi nghe, chúng con
Sẽ học tập lời Ngài,
Lời dạy về viễn ly.

815. Thế Tôn nói như sau:
Hỡi này Metteyya,
Ai đắm say dâm dục,
Quên mất lời giảng dạy,
Rơi vào đường tà vạy,
Nếp sống ấy không thánh.

816. Ai trước sống một mình,
Nay rơi vào dâm dục,
Như xe bị nghiêng ngã,
Người ấy ở trong đời,
Ðược gọi là phàm phu,
Ðược gọi là hạ liệt.

817. Tiếng tốt có từ trước,
Người ấy bị tổn giảm,
Thấy vậy hãy học tập,
Từ bỏ sự dâm dục.

818. Chi phối bởi suy tư,
Trầm ngâm như kẻ nghèo,
Nghe tiếng trách người khác,
Như kẻ bị thất vọng.

819. Bị người khác buộc tội,
Nó làm các đao kiếm,
Trở thành người tham lớn,
Chấp thủ điều vọng ngôn.

820. Ðược danh là Hiền trí,
An trú sống một mình,
Nếu rơi vào dâm dục,
Sầu não như kẻ ngu.

821. Thấy nguy hại như vậy,
Bậc ẩn sĩ trước sau,
Kiên trì sống cô độc,
Không thực hành dâm dục.

822. Hãy học tập viễn ly,
Ðây hạnh thánh tối thượng,
Không nghĩ mình tối thắng,
Dầu gần được Niết-bàn.

823. Sở hành bậc ẩn sĩ,
Trống không, không mong dục,
Bậc vượt khỏi bộc lưu,
Ðược các người ở đời,
Bị tham dục trói buộc,
Ganh tị và thèm muốn.