Thứ Tư, 10 tháng 12, 2014


PARIS, ngày 3.12.2014 (PTTPGQT) – Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế xin hân hạnh giới thiệu Bạn đọc Lá Thư Trong Tuần – Tuần thứ Tám, loan báo tin vui về lễ Nhập tự Ngôi Chùa Phật Quang, toạ lạc tại 17101 A Street – Thành phố Huntington Beach – California 92647 – USA / Hoa Kỳ. làm cơ sở sinh hoạt cho Văn Phòng II Viện Hoá Đạo và Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất Hải ngoại tại Hoa Kỳ. Một mong ước vừa thành tựu, nhưng hành trình chưa chấm dứt, vì món nợ ngắn hạn còn phải trả. Do tấm lòng của Phật tử từ Hoa Kỳ, năm châu đến Việt Nam đã đóng góp tiền bạc hoặc cho vay không lãi để mùa chùa. Kế tiếp trong những tuần lễ tới là thực hiện các buổi Gây Quỹ qua các thành phố Dallas, Houston, Denver, Atlanta, Tampa, Oregon, v.v… để trả ngay cho những đại thí chủ cho mượn tiền ngắn hạn (phải trả trong 2 tháng tới) hay dài hạn (từ 3 đến 5 năm). Đây là nội dung hoan lạc trong niềm thâm tạ của Lá Thư số 8. Xin mời Bạn đọc vào Trang Thư thứ Tám :
 bodhi1

Lá Thư Trong Tuần – Tuần 8 :
Lời Thâm Tạ Trong Ngày Lễ Tạ Ơn


Lễ Tạ Ơn – Thanks Giving – mang nhiều ý nghĩa đẹp. Năm nay đối với nhiều Phật tử ngày lễ nầy đặc biệt ấm cúng. Chiều thứ tư 26.11.2014 đại diện của chùa Phật giáo Đài Loan chính thức trao chìa khoá cho Văn Phòng II Viện Hoá Đạo. Cơ sở chính thức trở thành ngôi chùa chung của Giáo Hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất sau nhiều tuần lễ băn khoăn, lo lắng của Phật tử xa gần. Cái lớn lao của ngôi chùa không phải ở diện tích hay cấu trúc mà là ở vòng tay rộng lớn của những người con Phật từ Âu Châu, Úc châu, Canada, Hoa kỳ và kể cả từ Việt Nam. Cái đẹp của ngôi chùa không phải ở hoa văn hoạ tiết, mà chính ý niệm về một ngôi chùa chung thật sự. Cái vui nhất của ngôi chùa là sự nở hoa trong bối cảnh đang có nhiều nghiệt ngã. Đúng là ngày 28.11, theo giao kèo, mới hoàn tất thủ tục giấy tờ, thế nhưng cả hai bên mua và bán đều mong sớm hơn, nên lễ nhập tự mới diễn ra vào tối thứ tư 26.11.2014. Nếu Thanks Giving cho chúng ta cơ hội để cảm ơn cuộc đời thì việc tạo mãi ngôi chùa Phật Quang, nam Cali, không biết có ngôn từ nào đủ để nói hết.

NHỚ ƠN PHẬT,
NGUYỆN THẮP SÁNG LỜI PHẬT DẠY
Nghĩ về một ngôi chùa hưng thịnh, nhiều người kỳ vọng một cơ sở tín ngưỡng thu hút đông đảo quần chúng Phật tử lui tới. Những hình thức sinh hoạt mang bản sắc tín ngưỡng dân gian thường được đại đa số ưa chuộng. Ở đây phải nói tới sự quân bình giữa khế cơ và khế lý. Ưu tiên của chúng ta vẫn là thắp sáng lời Phật dạy. Nói một cách giản dị thì toàn bộ sinh hoạt ngôi chùa và nếp sống tâm linh của người con Phật có thể tóm tắt qua bốn phương diện. Đối với tha nhân, Đức Phật dạy nên huân tập bốn đức: từ (thân thiện trong yêu thương), bi (trắc ẩn trước những khổ đau), hỷ (vui chung với hạnh phúc của người), xả (điềm đạm trước thuận nghịch). Đối với tự thân, thì Đức Phật dạy nên trau dồi năm pháp: tín (niềm tin chân chánh), tấn (nỗ lực một cách lợi lạc), niệm (sống tỉnh thức), định (tập trung một cách bền bỉ), tuệ (nhận thức hợp lý theo nhân quả). Đối với quan niệm về cứu cánh, thì người con Phật hướng cầu tự giác, giác tha, giác hạnh viên mãn. Nếu nói thêm về tôn chỉ hành hoạt của người Phật tử Việt mà Giáo Hội thường nêu rõ là hộ dân, hộ quốc và hộ pháp. Những giá trị căn bản giúp chúng ta không bị trôi dạt trước mọi phong ba bão tố và xây dựng được mái chùa đúng với lời Phật dạy.

NHỚ ƠN TIỀN NHÂN,
XIN BẢO LƯU NHỮNG GIÁ TRỊ NGÀN ĐỜI
Lịch sử một trăm năm qua của Phật giáo Việt Nam chứa đầy những trang bi tráng. Không phải chỉ có một Hoà thượng Thích Quảng Đức vị pháp thiêu thân, mà có nhiều, nhiều tăng ni Phật tử đã dùng mạng sống thắp sáng lương tri của nhân loại. Không phải chỉ có một Hoà thượng Thích Thiện Minh chết trong lao tù cộng sản, mà còn không biết bao nhiêu cái chết bất khuất trước bạo lực. Không phải chỉ một thiểu số thành viên Gia Đình Phật Tử hy sinh cả cuộc đời cho sự tồn tại của Giáo Hội, mà nhiều thế hệ đã tiếp nối trong muôn vàn khổ nạn. Không phải chỉ có một, hai bậc lãnh đạo Giáo Hội gần như cả nửa cuộc đời sống trong lưu đày quản thúc, mà có lúc tất cả sự tồn tại của Giáo Hội nằm sau song sắt của nhà tù. Thật khó để có thể nói hết những lao lung, nghiệt ngã mà người Phật tử Việt Nam đã gánh chịu trong một thế kỷ qua. Dù vậy có thể khẳng định một điều, là nhiều thành tựu hôm nay từ cơ sở vật chất đến giá trị phổ quát tinh thần đều là hoa trái của cây đại thụ Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, giáo hội dân lập hình thành trong lòng dân tộc giữa những điêu linh thăng trầm. Phải thấy được điều đó mới có thể hiểu được tại sao trong giai đoạn nhiều khó khăn mà Phật tử bốn phương vẫn có thể chung lòng tạo lập ngôi chùa Phật Quang để gìn giữ một điều, mà Đức Tăng Thống Thích Quảng Độ thường nhắc nhở là sự tồn tại của Giáo Hội.

NHỚ ƠN NHỮNG NGƯỜI HY SINH,
XIN LÀM TỐT NHỮNG GÌ CÓ ĐƯỢC
Trong sự vận động tạo lập ngôi chùa chung có một phần thưởng rất lớn cho những ai có trách nhiệm trực tiếp, là hình ảnh của những hy sinh vô bờ. Có bắt tay thực hiện mới thấy được những tấm lòng đối với Giáo Hội. Có cụ già trên 80 tuổi ngày ngày ra các khu chợ để xin tiền mua chùa. Có một Phật tử cao niên cầm 500 Mỹ kim nói trong nước mắt là chỉ giữ cháu nên không có tiền nhiều chỉ xin góp chút nầy vì thương Giáo Hội quá. Có Phật tử gởi về một chi phiếu với lá thư dài bày tỏ sự lo lắng không biết mình có mua được chùa không. Có một Phật tử từ miền Tây Bắc Hoa Kỳ mặc dù đã đóng góp công, của thật nhiều vậy mà vẫn tiếp tục nhắn tin nhiều lần  cho tới ngày cuối trước khi thủ tục mua chùa hoàn tất với dòng chữ : nếu còn thiếu thì thầy phải cho biết sớm; vị đó có lẽ không hiểu rằng chỉ chừng ấy là liều thuốc an thần vô giá trước bao khó khăn. Tấm lòng của tất cả giản dị, trong sáng và chứa đầy những hy sinh. Ngôi chùa được tạo lập trong một phương cách rất “chung”, bây giờ tiếp tục là làm thế nào tinh thần chung đó tiếp tục trong sự duy trì. Quá nhiều Phật tử đau lòng về những thủ đắc chùa chiền mang tính tư hữu. Chúng ta không thể để những tấm lòng như vậy bị cô phụ trong sự ra đời của ngôi chùa chung nầy.

GIÂY PHÚT NGHỈ NGƠI
KHÔNG CÓ NGHĨA LÀ HÀNH TRÌNH HOÀN TẤT
Trong số kinh phí tạo lập chùa một triệu ba trăm ngàn Mỹ kim thì có một phần ba là tiền cho mượn đoản kỳ. Số tiền nầy cần được hoàn lại trong vòng hai tháng sau khi tất cả tiệc gây quỹ hoàn tất. Mua được ngôi chùa là niềm hoan hỷ lớn. Chúng ta có thể thở phào thư giãn trong giây lát nhưng phải tiếp tục vận động. Không thể nói là hoàn tất thủ tục tạo mãi là không còn gì để khẩn trương. Cần phải tiếp tục vận động sự cúng dường để thanh thoả những khoản tiền mượn, tất cả đều không có lời. Ngay cả sự cho mượn dài hạn giúp trả hết số nợ ngắn hạn vẫn cực kỳ quan trọng. Sự phấn khởi khi đã mua được cơ sở làm chùa chung là niềm vui vô hạn nhưng điều đó chỉ thật sự viên mãn khi chúng ta hoàn trả hết tất cả tiền vay mượn của Phật tử xa gần vốn là những người đã lo lắng hy sinh rất nhiều. Một đoạn đường dài đã đi qua, chỉ cần cố gắng thêm chút nữa là tới đích điểm. Tấm lòng cao đẹp của bốn phương Phật tử chắc chắn sẽ trỗ hoa và cho chúng ta một mùa xuân đạo vị.
Hành trình trước mắt có nhiều chông gai, thử thách nhưng chúng ta biết rõ sẽ không cô đơn. Những chia sẽ lớn nhỏ xa gần quả thật cho chúng ta nhiều sức mạnh nội tại. Chúng ta vẫn còn đó Đức Tăng Thống, như tàng cao bóng cả che chở cho sự tồn tại của Giáo Hội, và vẫn còn đó những thiết tha không mệt mỏi của bao người Phật tử khắp nơi cho đại cuộc giải trừ quốc nạn, pháp nạn. Bất chợt vài dòng thơ ngắn trở thành vô cùng ý vị:
Cảm tạ cuộc đời cho tôi kỉnh lạy
Cảm tạ anh em bằng hữu chút tri lòng
Vẳng chuông sớm tôi thấy mình thức dậy
Gắng tu hoài dẫu thiên địa vô công

(Thi sĩ Minh Đức)
Xin thâm tạ tất cả những tấm lòng vì đạo, vì đời.
Minnesota, mùa lễ tạ ơn 2014
Tỳ kheo Thích Giác Đẳng

Thứ Hai, 8 tháng 12, 2014


KINH TẬP SUTTANIPÀTA
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt
Chương Bốn- Phẩm Tám
VIII) Kinh Pasùra (Sn 161)


824. Ở đây chính thanh tịnh,
Họ thuyết giảng như vậy,
Họ nói trong pháp khác,
Không có sự thanh tịnh,
Họ nói chỗ y chỉ,
Ở đây là thanh tịnh,
Họ rộng rãi an trú,
Trong sự thật của mình.
825. Những ai muốn tranh luận,
Sau khi vào hội chúng,
Họ công kích lẫn nhau,
Họ gọi nhau là ngu,
Họ đi đến người khác,
Và khởi lên tranh luận,
Họ muốn được tán thán,
Họ gọi chúng thiện xảo.
826. Ham mê thích tranh luận,
Ở giữa các hội chúng,
Ước muốn được tán thán,
Họ sợ hãi thất bại,
Khi bị đánh thất bại,
Họ trở thành rủn chí,
Bị chê, họ nổi giận,
Kẻ tìm lỗi người khác.
827. Khi các nhà thẩm sát,
Phê bình các câu hỏi,
Tuyên bố cuộc tranh luận,
Ði đến chỗ thất bại,
Kẻ nói lời hạ liệt,
Than khóc và sầu não,
Họ rên rỉ than van,
Nó đã đánh bại ta.
828. Giữa các vị Sa-môn,
Các tranh luận khởi lên,
Trong các tranh luận này,
Có chiến thắng chiến bại.
Do thấy rõ như vậy,
Không vui thích tranh luận
Dầu có được tán thán,
Cũng không lợi ích gì.
829. Hay trong tranh luận này,
Nó được lời tán thán,
Sau khi đã nói lên,
Chính giữa các hội chúng.
Do vậy nó vui cười,
Nó tự hào kiêu hãnh,
Ðạt được mục đích ấy,
Như tâm ý nói lên.
830. Cái làm nó cống cao,
Cũng là đất hại nó,
Tuy vậy nó vẫn nói,
Lời cống cao kiêu mạn,
Khi thấy được như vậy,
Hãy đừng có tranh luận,
Bậc thiện xảo nói rằng,
Thanh tịnh không do vậy.
831. Cũng như bậc anh hùng,
Nuôi dưỡng đồ ăn vua,
La hét muốn tìm cầu,
Một địch thủ anh hùng,
Ôi anh hùng hãy tránh,
Chỗ nào có vị ấy,
Từ trước đã không có,
Sự đấu tranh như vậy.
832. Những ai chấp tri kiến,
Tranh luận về kiến ấy,
Tuyên bố thuyết giảng rằng:
Chỉ đây là sự thật,
Ông hãy nói với họ,
Ở đây không tranh luận,
Ông hãy nói thêm rằng
Ở đây không địch thủ.
833. Cuộc chiến đấu đã tàn,
Những ai sống như vậy,
Không có sự va chạm,
Giữa kiến này kiến khác,
Hỡi này Pasùra!
Ông được gì nơi họ,
Với người không chấp thủ,
Một sự gì tối thượng?
834. Vậy Ông hãy đi đến,
Suy tư ngẫm nghĩ kỹ,
Với tâm ý suy tư,
Trên những loại tri kiến,
Hãy hoà đồng chung hợp,
Với bậc đã tẩy sạch,
Ông không có thể không
Cùng vị ấy tiến bước.

Thứ Sáu, 5 tháng 12, 2014


KINH TẬP SUTTANIPÀTA
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt

Chương Bốn- Phẩm Tám



(XI) Kinh Tranh luận (Sn 168)


Người hỏi:
862. Từ đâu được khởi lên,
Các tranh luận, đấu tranh,
Than van và sầu muộn,
Cùng với tánh xan tham,
Mạn và tăng thượng mạn,
Kể cả với hai lưỡi,
Từ đâu chúng sanh nhiều,
Mong Ngài hãy nói lên.
Thế Tôn:
863. Từ ái sanh khởi nhiều,
Các tranh luận, đấu tranh
Than van và sầu muộn,
Cùng với tánh xan tham,
Mạn và tăng thượng mạn,
Kể cả với hai lưỡi,
Các tranh luận, đấu tranh,
Ðều liên hệ xan tham,
Những lời nói hai lưỡi,
Khởi lên từ tranh luận.
Người hỏi:
864. Do những nhân duyên nào,
Khả ái sanh ở đời?
Hay những tham lam nào,
Ðược lưu hành ở đời?
Ước vọng và thành đạt,
Là do nhơn duyên nào?
Khiến loài Người được sanh,
Trong thời gian tương lai?
Thế Tôn:
865. Do ước muốn là nhân,
Khả ái sanh ở đời,
Hay với những tham lam,
Ðược lưu hành ở đời,
Ước vọng và thành đạt,
Do ước muốn làm nhân,
Khiến loài Người được sanh,
Trong thời gian tương lai.
Người hỏi:
866. Ước muốn sanh ở đời
Là do nhân duyên nào?
Hay cả những quyết định,
Do nhân nào được sanh?
Phẫn nộ và vọng ngữ,
Cùng với cả nghi hoặc,
Hoặc là những pháp nào,
Ðược Sa-môn nói đến?
Thế Tôn:

867. Khả ý, bất khả ý,
Ðược gọi vậy ở đời,
Do y chỉ nơi chúng,
Ước muốn được sanh khởi.
Sau khi thấy trong sắc,
Cả hữu và phi hữu,
Chúng sanh mới làm được,
Những quyết định ở đời.

868. Phẫn nộ và vọng ngữ,
Cùng với cả nghi hoặc,
Những pháp này lưu hành,
Khi pháp đôi có mặt,
Kẻ nghi hãy học tập,
Trên con đường chánh trí,
Sau khi biết các pháp,
Do Sa-môn thuyết giảng.
Người hỏi:
869. Khả ý, bất khả ý,
Là do nhân duyên nào,
Do cái gì không có,
Họ không có hiện hữu.
Còn về ý nghĩa này,
Về phi hữu và hữu,
Hãy nói cho chúng con,
Nguyên nhân gì chúng sanh?
Thế Tôn:
870. Do nhân duyên cảm xúc,
Khả ý, bất khả ý,
Nếu không có cảm xúc,
Họ cũng không hiện hữu,
Còn về ý nghĩa này,
Về phi hữu và hữu,
Ta nói cho Ông rõ,
Nguyên nhân này, chúng sanh.
Người hỏi:
871. Còn cảm xúc ở đời,
Do nhân gì sanh khởi,
Hay các loại chấp thủ,
Do từ đâu sanh nhiều,
Do cái gì không có,
Ngã sở hữu không có,
Cái gì không hiện hữu,
Khiến không có cảm xúc?
Thế Tôn:
872. Do duyên danh và sắc,
Nên có các cảm xúc,
Do nhân các ước muốn,
Nên có những chấp thủ,
Nếu ước muốn không có,
Ngã sở hữu cũng không,
Do sắc không hiện hữu,
Khiến không có cảm xúc.
Người hỏi:
873. Sở hành như thế nào,
Sắc pháp không hiện hữu,
An lạc và khổ đau,
Thế nào không có mặt,
Hãy nói lên cho con,
Không có như thế nào,
Chúng con muốn được biết,
Tâm ý con nói vậy.
Thế Tôn:
874. Không có tưởng các tưởng,
Không có tưởng vô tưởng,
Phi tưởng cũng không có,
Vô hữu tưởng cũng không.
Do sở hành như vậy,
Sắc pháp không hiện hữu,
Do nhân duyên các tưởng,
Hý luận được hình thành
.
Người hỏi:
875. Ngài đã nói chúng con,
Những điều chúng con hỏi,
Có điều nữa hỏi Ngài,
Mong Ngài trả lời cho,
Bậc Hiền trí nói rằng,
Như thế này tối thượng,
Nghĩa là ở đời này,
Sự thanh tịnh Dạ-xoa
Hay là chúng muốn nói,
Có điều gì khác nữa?
Thế Tôn:

876. Bậc Hiền trí nói rằng,
Như thế là tối thượng,
Nghĩa là ở đời này,
Sự thanh tịnh Dạ-xoa,
Như có người nói rằng,
Chính là sự hoại diệt,
Lại một số thiện nhân,
Nói rằng: "Không dư y".
877. Biết được những pháp ấy,
Ðều nương tựa y chỉ,
Biết vậy bậc ẩn sĩ,
Suy tư trên y chỉ,
Biết được, nên giải thoát,
Không đi đến tranh luận,
Bậc Hiền không tìm đến,
Cả hữu và phi hữu.
GIÁO TRÌNH KINH TẬP SUTTANIPÀTA

Chương Hai - Tiểu Phẩm

Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt
(V) Kinh Thanh Tịnh tám kệ (Sn 154)


790. Bà-la-môn không nói,
Ngoài Thánh đạo được tịnh,
Với điều được thấy nghe,
Giới đức, được thọ tưởng;
Với công đức, ác đức,
Vị ấy không nhiễm trước,
Từ bỏ mọi chấp ngã,
Không làm gì ở đời.

791. Từ bỏ tri kiến cũ,
Y chỉ tri kiến mới,
Ði đến sự tham đắm,
Không vượt qua ái dục;
Họ nắm giữ chấp trước,
Họ từ bỏ xa lánh,
Như khỉ thả cành này,
Rồi lại nắm cành khác,

792. Người tự mình chấp nhận,
Các chủng loại giới cấm,
Ði chỗ cao chỗ thấp,
Sống bị tưởng chi phối;
Người có trí rộng lớn,
Nhờ trí tuệ, quán pháp,
Có trí, không đi đến
Các pháp cao và thấp.

793. Vị ấy đạt thù thắng,
Trong tất cả các pháp,
Phàm có điều thấy, nghe,
Hay cảm thọ, tưởng đến;
Với vị tri kiến vậy,
Sống đời sống rộng mở,
Không bị ai ở đời,
Có thể chi phối được.

794. Họ không tác thành gì,
Họ không đề cao gì,
Họ không có nói lên,
Ðây tối thắng thanh tịnh,
Không dính líu tham đắm,
Mọi chấp trước triền phược,
Họ không tạo tham vọng,
Bất cứ đâu ở đời.

795. Với vị Bà-la-môn
Ðã vượt khỏi biên giới,
Sau khi biết và thấy,
Không có kiến chấp trước.
Tham ái không chi phối,
Cũng không tham, ly tham,
Vị ấy ở đời này,
Không chấp thủ gì khác.

Thứ Năm, 4 tháng 12, 2014


KINH TẬP SUTTANIPÀTA
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt

Chương Bốn- Phẩm Tám

(VII) Kinh Tissametteyya (Sn 160)

814. Tissa Metteyya,
Tôn giả nói như sau:
Thế Tôn hãy nói lên,
Sự tai hại của người,
Ðắm say về dâm dục,
Sau khi nghe, chúng con
Sẽ học tập lời Ngài,
Lời dạy về viễn ly.
815. Thế Tôn nói như sau:
Hỡi này Metteyya,
Ai đắm say dâm dục,
Quên mất lời giảng dạy,
Rơi vào đường tà vạy,
Nếp sống ấy không thánh.
816. Ai trước sống một mình,
Nay rơi vào dâm dục,
Như xe bị nghiêng ngã,
Người ấy ở trong đời,
Ðược gọi là phàm phu,
Ðược gọi là hạ liệt.

817. Tiếng tốt có từ trước,
Người ấy bị tổn giảm,
Thấy vậy hãy học tập,
Từ bỏ sự dâm dục.
818. Chi phối bởi suy tư,
Trầm ngâm như kẻ nghèo,
Nghe tiếng trách người khác,
Như kẻ bị thất vọng.
819. Bị người khác buộc tội,
Nó làm các đao kiếm,
Trở thành người tham lớn,
Chấp thủ điều vọng ngôn.
820. Ðược danh là Hiền trí,
An trú sống một mình,
Nếu rơi vào dâm dục,
Sầu não như kẻ ngu.
821. Thấy nguy hại như vậy,
Bậc ẩn sĩ trước sau,
Kiên trì sống cô độc,
Không thực hành dâm dục.
822. Hãy học tập viễn ly,
Ðây hạnh thánh tối thượng,
Không nghĩ mình tối thắng,
Dầu gần được Niết-bàn.
823. Sở hành bậc ẩn sĩ,
Trống không, không mong dục,
Bậc vượt khỏi bộc lưu,
Ðược các người ở đời,
Bị tham dục trói buộc,
Ganh tị và thèm muốn.

Thứ Tư, 3 tháng 12, 2014


KINH TẬP SUTTANIPÀTA
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt
Chương Bốn- Phẩm Tám
(V) Kinh Tối Thắng tám kệ (Sn 156)



799. Chớ có tác thành ra
Tri kiến ở trên đời,
Từ ở nơi chánh trí,
Hay từ nơi giới đức,
Không bận tâm so sánh,
Tự ngã bằng người khác,
Không có suy nghĩ đến,
Ðây "liệt " hay đây "thắng".
800. Ðoạn tận, từ bỏ ngã,
Không chấp thủ sự gì,
Không tác thành, dựng nên,
Nương tựa ở nơi trí,
Chân thật giữa tranh chấp
Không theo phe phái nào,
Vị ấy không đi theo
Một loại tri kiến nào.
801. Với ai, hay cực đoan,
Không có hướng nguyện gì,
Với hữu và phi hữu,
Hay đời này đời sau,
Vị ấy không an trú,
Tại một trú xứ nào,
Từ bỏ mọi chấp thủ,
Ðối với tất cả pháp.
802. Ðối vị ấy ở đây,
Những gì được thấy nghe,
Ðược cảm thọ tưởng đến,
Chút suy tưởng cũng không;
Vị Bà-la-môn ấy
Không chấp thủ tri kiến,
Không ai ở đời này
Có thể chi phối được.
803. Họ không tác thành gì,
Họ không đề cao gì,
Các pháp không được họ,
Chấp trước nắm giữ gì
Không một Phạm chí nào,
Bị giới cấm dắt dẫn,
Ði đến bờ bên kia,
Vị ấy không trở lui.

Thứ Hai, 1 tháng 12, 2014

GIÁO TRÌNH KINH TẬP SUTTANIPÀTA

Chương Bốn - Phẩm Tám

Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt

(VII) Kinh Tissametteyya (Sn 160)

814. Tissa Metteyya,
Tôn giả nói như sau:
Thế Tôn hãy nói lên,
Sự tai hại của người,
Ðắm say về dâm dục,
Sau khi nghe, chúng con
Sẽ học tập lời Ngài,
Lời dạy về viễn ly.

815. Thế Tôn nói như sau:
Hỡi này Metteyya,
Ai đắm say dâm dục,
Quên mất lời giảng dạy,
Rơi vào đường tà vạy,
Nếp sống ấy không thánh.

816. Ai trước sống một mình,
Nay rơi vào dâm dục,
Như xe bị nghiêng ngã,
Người ấy ở trong đời,
Ðược gọi là phàm phu,
Ðược gọi là hạ liệt.

817. Tiếng tốt có từ trước,
Người ấy bị tổn giảm,
Thấy vậy hãy học tập,
Từ bỏ sự dâm dục.

818. Chi phối bởi suy tư,
Trầm ngâm như kẻ nghèo,
Nghe tiếng trách người khác,
Như kẻ bị thất vọng.

819. Bị người khác buộc tội,
Nó làm các đao kiếm,
Trở thành người tham lớn,
Chấp thủ điều vọng ngôn.

820. Ðược danh là Hiền trí,
An trú sống một mình,
Nếu rơi vào dâm dục,
Sầu não như kẻ ngu.

821. Thấy nguy hại như vậy,
Bậc ẩn sĩ trước sau,
Kiên trì sống cô độc,
Không thực hành dâm dục.

822. Hãy học tập viễn ly,
Ðây hạnh thánh tối thượng,
Không nghĩ mình tối thắng,
Dầu gần được Niết-bàn.

823. Sở hành bậc ẩn sĩ,
Trống không, không mong dục,
Bậc vượt khỏi bộc lưu,
Ðược các người ở đời,
Bị tham dục trói buộc,
Ganh tị và thèm muốn.

Thứ Năm, 27 tháng 11, 2014

KINH TẬP SUTTANIPÀTA
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt

Chương Bốn- Phẩm Tám

(VI) Kinh Già (Sn 158)

804. Sinh mạng này ngắn thay,
Trong trăm năm, rồi chết,
Nếu ai sống hơn nữa,
Rồi cũng chết vì già.
805. Loài Người sầu vì ngã,
Mọi chấp thủ vô thường,
Trống không là đời này,
Thấy vậy sống không nhà.
806. Vì loài Người nghĩ rằng
Cái này là của tôi,
Cái ấy bị sự chết,
Làm hoại diệt hư tàn.
Biết vậy, bậc Hiền trí,
Không gọi, không hướng đến,
Cái này ngã của ta,
Cái này là của ta.
807. Như những gì hiện lên,
Trong giấc ngủ mộng mị,
Con người khi tỉnh dậy,
Không còn thấy được gì.
Cũng vậy ở đời này,
Người được ưa, ái luyến,
Rồi sẽ chết mất đi,
Không ai còn thấy được.
808. Các loại hạng người ấy
Ðược thấy và được nghe,
Nên họ được gọi tên,
Tên này hay tên khác.
Với người đã chết đi,
Chỉ được gọi tên không,
Vì chỉ có tên suông,
Sẽ được còn tồn tại.
809. Tham đắm cái của ta,
Họ không có từ bỏ,
Sầu khổ và than van,
Cùng xan tham keo kiết.
Do vậy bậc ẩn sĩ,
Sau khi bỏ chấp thủ,
Ðã sống một đời sống,
Thấy được sự an ổn.
810. Ðối với vị Tỷ-kheo
Sống thanh vắng một mình,
Sống tu tập tâm ý,
Hướng đến hạnh viễn ly,
Nếp sống vậy được nói,
Hòa hợp với vị ấy,
Và không nêu tự ngã,
Trong hiện hữu của mình.
811. Vị ẩn sĩ không tựa,
Không y chỉ một ai,
Không làm thành thương yêu,
Không tác thành ghét bỏ.
Do vậy trong sầu than,
Trong xan tham keo kiết,
Như nước trên lá cây,
Không dính ướt làm nhơ.
812. Giống như một giọt nước,
Không dính ướt hoa sen,
Như nước trên bông sen,
Khôn dính ướt làm nhơ.
Ðối với vật thấy nghe,
Ðược cảm thọ tưởng đến,
Cũng vậy bậc ẩn sĩ
Không dính ướt tham đắm.
813. Do vậy bậc tẩy sạch,
Không có suy tư đến,
Ðiều được thấy được nghe,
Ðược cảm thọ tưởng đến.
Vị ấy muốn thanh tịnh,
Không có dựa gì khác,
Vị ấy không tham đắm,
Cũng không có ly tham.

PARIS, ngày 23.11.2014 (PTTPGQT) – Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế xin hân hạnh giới thiệu Bạn đọc Lá Thư Trong Tuần – Tuần thứ Bảy, loan báo tin vui bất ngờ, tưởng như bất khả mà nay đã thành sự thật : Ngôi Chùa Phật Quang, làm cơ sở sinh hoạt cho Văn Phòng II Viện Hoá Đạo và Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất Hải ngoại tại Hoa Kỳ đã hoàn tất việc tạo mãi với số tiền chồng đủ cho phía bán Một triệu Ba trăm ngàn Mỹ kim (1,300,000.00 $US). Địa chỉ Chùa Phật Quang : 17111 A Street – Thành phố Huntington Beach – California 92647 – USA / Hoa Kỳ. Nhưng tin vui này chưa có nghĩa là mọi chuyện đã xong xuôi. Bởi còn cả một công trình nối tiếp phải thực hiện ở cấp độ nhanh và khẩn, mà Lá Thư số 7 đề cập. Xin mời Bạn đọc vào Trang Thư thứ Bảy :
bodhi1

Lá Thư Trong Tuần – Tuần 7 :
GIẤC MƠ NGÔI CHÙA CHUNG
ĐÃ HIỆN THỰC


Lá thư nầy đến trễ hai tuần. Rất nhiều email, điện thoại, tin nhắn xa gần nôn nóng hỏi thăm. Thật ra đã hai lá thư viết rồi mà không gởi. Lý do đơn giản : Đã viết thì phải nói về tình hình tài chánh. Nói tình hình nguy ngập thì dễ gây nãn lòng. Mà nói viễn ảnh lạc quan thì nhiều người sẽ lơi tay. Cách lựa chọn tốt nhất là im lặng trong ý thức tiên ưu. Hôm nay thì có thể nói khẳng định là tuần nầy sẽ hoàn tất thủ tục tạo mãi ngôi chùa chung với số tiền đã có được. Một đoạn đường quan trọng đã đi qua. Hành trình đó lưu lại không biết bao nhiêu tấm lòng, công sức và sự hy sinh. Chưa bao giờ trong lịch sử có một ngôi chùa tạo lập với thời gian và phương cách như ngôi chùa Phật Quang nầy.

MISSION IS NOT ACCOMPLISHED YET
Đúng là chúng ta đã hoàn tất một giai đoạn rất quan trọng nhưng không có nghĩa là không còn việc phải lo. Hãy nói về những con số. Giá tiền mua chùa là 1 triệu 250 ngàn. Tiền closing (kết thúc tạo mãi) và mua lại đồ dùng trong chùa gần 50 ngàn. Tổng cộng là 1 triệu 300 ngàn. Con số cúng dường và cho mượn cho tới nay được ghi nhận như sau : Cúng dường 470 ngàn ; cho mượn dài hạn 390 ngàn ; cho mượn ngắn hạn là 445 ngàn. Cho mượn ngắn hạn có nghĩa là sẽ hoàn trả ngay sau 9 tiệc gây quỹ (tổng cộng có 11 nơi gây quỹ tại Hoa Kỳ. Đã có ba nơi tổ chức trong vòng tháng qua. Còn lại 9 địa điểm sẽ tổ chức trong hai tháng tới). Tất cả là sự kết tinh của tâm huyết và tấm lòng vì Giáo Hội. Điều đáng nói là dù tiền cúng dường hay cho mượn không lời đều mang tính hưởng ứng của đại khối quần chúng hơn là một con số lớn đến từ cá nhân riêng lẽ (số tiền cúng dường lớn nhất từ một cá nhân là 50 ngàn. Số tiền cho mượn không lời lớn nhất là 58 ngàn). Phải mất 8 tuần lễ để vận động đủ số tiền cần hoàn tất việc tạo mãi.

MỘT SỐ GHI NHẬN ĐÁNG CHÚ Ý
trong việc tạo lập ngôi chùa chung, cho chúng ta những suy gẫm quý báu. Những huynh trưởng và đoàn sinh Gia Đình Phật Tử khắp nơi đóng góp vai trò cực kỳ quan trọng trong nỗ lực vận động. Hai Sư Bà trong Giáo Hội với sự kiên trì liên tục vận động cho thấy được tiềm lực của Ni Giới trong Phật sự chung. Những người Phật tử thầm lặng đã đóng góp phần lớn cho sự thành tựu hôm nay. Rất nhiều chùa viện, cá nhân ít bao giờ hay chưa bao giờ được nhắc tới trong sinh hoạt những năm qua bây giờ kê vai gánh vác. Tất cả tin vào sự lãnh đạo của Đức Đệ Ngũ Tăng Thống Thích Quảng Độ, và kiên định với hướng đi Hộ Dân, Hộ Quốc và Hộ Pháp của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất. Sự chung sức nầy cho thấy sức mạnh của tứ chúng chứ không riêng lẽ một thành phần nào. Thời điểm vận động cao nhất là tuần lễ tổ chức tiệc gây quỹ Seatle (ngày 15.11.2014). Trong hai ngày con số tài chánh hưởng ứng là 310 ngàn. Sự kiện tác động tinh thần mạnh nhất trong lần vận động nầy là Đại hội Thường niên tổ chức tại chùa Từ Bi, Arlington, Texas. Câu nói mà những người ra sức vận động không biết mệt mõi thường nói là “tuy cực nhọc nhưng nghĩ tới Đức Tăng Thống thì thấy mình phải cố gắng hơn nhiều”.

CÓ NHỮNG ĐIỀU THÚ VỊ VỀ NGÔI CHÙA CHUNG
Đây là ngôi chùa được đặt tên trước khi hiện hữu. Chính Đức Tăng Thống đã đặt tên là Chùa Phật Quang vào đầu năm 2014. Đây cũng là ngôi chùa mà sự đóng góp đã bắt đầu trước khi định hình rõ nét về nỗ lực tìm kiếm cơ sở. Tại lễ Húy nhật Đức Đệ tứ Tăng thống vào 20 phút cuối khi có câu hỏi về viễn ảnh một ngôi chùa của Giáo Hội tại Nam Cali, thì có rất nhiều người đã lên cúng dường liên tục. Những vị đó có lẽ không ngờ sự phát tâm của mình khởi đầu một hành trình mà 5 tháng sau đó ngôi chùa được hiện thực. Đây cũng là ngôi chùa mặc dù chưa mua xong đã được Đại hội Thường niên quyết định lựa chọn làm nơi tổ chức Đại lễ Phật đản chung năm 2015 của Giáo hội và sau đó là lễ Húy nhật Đức cố Đệ tứ Tăng thống. Và có lẽ đáng nói nhất là đây chính là ngôi chùa chung thật sự vì tạo lập bằng sự đóng góp của Phật tử tứ phương không vì một cá nhân, một địa phương, một đoàn thể nào. Ai ai cũng vì Giáo Hội, vì niềm tin vào những giá trị cao đẹp vượt lên mọi vị kỷ cá nhân.

GIAI ĐOẠN KẾ TIẾP ĐÒI HỎI NỖ LỰC NHIỀU HƠN
Việc tạo mãi một cơ sở, mới nhìn, thì yếu tố tài chánh là cực kỳ quan trọng. Kỳ thật điều quan trọng nhất là làm sao để không cô phụ những tấm lòng đã chung vai góp sức. Tất cả đều mong mõi là làm sao ngôi chùa sẽ vĩnh viễn thuộc chủ quyền của Giáo hội. Tất cả đều mong mõi là ngôi chùa được điều hành tốt xứng đáng với sự giao phó của Hội đồng Lưỡng viện trong nước. Tất cả đều mong là ngôi chùa chung sẽ vượt lên trên tất cả những hệ luỵ từ sự phân hoá mà tập trung cho hoạt động hoằng pháp, văn hóa, giáo dục và vì một tương lai quê hương được tự do, dân chủ. Cần phải tập trung vào những hoạt động thiết thực hơn là nặng lòng với những vui buồn nhất thời. “Thà thắp lên một ngọn nến hơn là nguyền rủa bóng tối”. Câu nói đó nên là phương châm hành động trong hoàn cảnh hiện nay. Chắc chắn ngôi chùa Phật Quang không phải chỉ quan trọng đối với Phật tử miền nam Cali mà chung của Giáo Hội. Trách nhiệm chung của chúng ta đối với ngôi chùa nầy thật không nhỏ.

XIN THẮP MỘT NÉN HƯƠNG TƯỞNG NIỆM ĐỨC PHÓ TĂNG THỐNG ĐẠI LÃO HOÀ THƯỢNG THÍCH HỘ GIÁC
Cuối tháng nầy là thời điểm hoàn tất thủ tục tạo mãi chùa Phật Quang. Cũng cuối tháng nầy là lễ Đại tường của Đức Phó Tăng Thống. Sự trùng hợp gợi nhắc những ý nghĩa đáng nhớ. Bản thân của Ngài có mặt với tổ chức Giáo hội từ lúc ban sơ cho tới khi Ngài trút hơi thở cuối cùng. Lúc sinh thời Ngài là người tin tưởng mạnh mẽ vào một điều, là tất cả những gì tốt đẹp của cuộc sống, đều đến từ lòng thành, từ thái độ vị tha chứ không từ thủ đoạn bất chính. Ngài cũng thường nhắc trong một thế giới vốn không hoàn hảo thì sự cảm thông, tha thứ và thương yêu là những chất liệu không thể thiếu. Ngài cũng thưòng kêu gọi sự công tâm với những ai không ưa thích mình. Không phải vì người ta bất đồng với mình thì họ là người xấu. Và có lẽ điều đặc biệt nhất của Ngài là thái độ cảm kích với những tử tế lớn nhỏ của cuộc đời. Ngay cả đối với những người mà hiện tại có bao thứ không vui, nhưng không vì vậy mà quên những đóng góp lớn lao hoặc thâm tình trong quá khứ. Nhiều Phật tử nói rằng Ngài đã gia hộ để chúng ta mua tạo lập ngôi chùa chung hôm nay. Việc đó không ai biết rõ thế nào. Nhưng chắc chắn một điều là nếu Ngài còn hiện tiền thì chắc chắn sẽ vô cùng hoan hỷ với sự hình thành ngôi chùa chung và sự chung vai góp sức của bốn phương Phật tử dẫn đến sự thành tựu nầy. Xin thành kính tưởng niệm Ngài.
Lá thư nầy được gởi đi với sự tán thán, tri ân khôn cùng đối với tất cả đóng góp, trợ duyên vì mục đích tạo mái chùa chung. Sự thành tựu nầy chắc chắn là một món quà tinh thần đầy ý nghĩa đối với Đức Tăng Thống sau bao nhiêu hy sinh lớn lao của Ngài đối với sự duy trì mạng mạch Giáo Hội. Ước mong đối với những ai đã trăn trở thâu đêm vì lo lắng cho việc vận động tài chánh trong gần ba tháng qua khi đọc thư nầy có được giấc ngủ an lành.
Pháp Luân,
ngày Đại tường Hoà thượng Thích Hộ Giác
Tỳ kheo Thích Giác Đẳng


Mọi sự giúp đỡ tài chánh xin gởi về :

Trong nước : Tiền bạc ủng hộ hay cho mượn xin gởi về :



HT. Thích Nguyên Lý

Chùa Từ Hiếu, 59 lô D, đường Dương Bá Trạc, P1. Q8

Thành phố Hồ Chí Minh

Điện thoại : 0908 217 533
Email : nguyenly2550@yahoo.com


Ở Hải ngoại : Tiền bạc ủng hộ hay cho mượn, xin viết Ngân phiếu đề tên“Van Phong II Vien Hoa Dao”và gửi về địa chỉ :


Văn Phòng II Viện Hoá Đạo GHPGVNTN

Chùa Pháp Luân

13913 S. Post Oak Rd, Suite B

Houston, TX 77045
Hoa Kỳ / USA
Tel : (281) 216 3588
Email : ghpgvntn@gmail.com


(Tất cả mọi ngân phiếu nhận được sẽ có hồi báo để làm bằng)
Tiền đóng góp của chư liệt vị sẽ được trừ thuế theo quy chế “Non-profit – Bất vụ lợi” của tổ chức GHPGVNTN. Hoặc trực tiếp gởi vào chương mục của Giáo hội :


VAN PHONG II VIEN HOA DAO

CHASE BANK

ACC. 610595337

SWIFT code CHASUS33
ROUTING No. 111000614

Thứ Hai, 24 tháng 11, 2014


KINH TẬP SUTTANIPÀTA

Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt

Chương Bốn- Phẩm Tám

(II) Kinh Hang Ðộng tám kệ (Sn 151)



776. Ta thấy ở trên đời,
Loài Người run, sợ hãi,
Ði đến khát ái này,
Trong những loại sanh hữu.
Phàm những người thấp kém,
Than van trước miệng chết,
Chưa viễn ly khát ái,
Ðối với hữu, phi hữu.
777. Hãy nhìn những người ấy,
Run sợ trong tự ngã,
Như cá chỗ ít nước,
Trong dòng sông khô cạn,
Thấy được sự kiện này,
Hãy sống không của ta,
Không làm sự việc gì,
Khiến tham đắm các hữu.
778. Hãy nhiếp phục ước muốn,
Ðối với hai cực đoan,
Nhờ liễu tri các xúc,
Không còn có tham đắm,
Cái gì tự ngã trách,
Cái ấy không có làm,
Bậc trí không bị nhớp,
Bởi những gì thấy nghe.
779. Do liễu tri các tưởng,
Vượt qua khỏi bộc lưu,
Bậc Mâu-ni không nhiễm,
Ðối với mọi chấp thủ,
Với mũi tên rút ra,
Sở hành không phóng dật,
Không cầu mong đời này,
Không mong ước đời sau.