Thứ Năm, 22 tháng 4, 2010

Câu chuyện trong ngày 23-4-2010
BA CÂU HỎI MỘT CÂU TRẢ LỜI
"Trong đạo học, tính cách trả lời quan trọng như chính câu trả lời"

I. Nibbàna (Niết-bàn) (S.iv,251)

1) Một thời, Tôn giả Sàriputta trú ở giữa dân chúng Magadha (Ma-kiệt-đà), làng Nàlaka.

2) Rồi du sĩ Jambukhàdaka đi đến Tôn giả Sàriputta; sau khi đến, nói lên với Tôn giả Sàriputta những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên.

3) Ngồi một bên, du sĩ Jambukhàdaka nói với Tôn giả Sàriputta:

-- "Niết-bàn, Niết-bàn", này Hiền giả Sàriputta, như vậy được nói đến. Này Hiền giả, thế nào là Niết-bàn?

-- Này Hiền giả, đoạn tận tham, đoạn tận sân, đoạn tận si, đây gọi là Niết-bàn.

4) -- Này Hiền giả, có con đường nào, có đạo lộ nào đưa đến chứng đắc Niết-bàn?

-- Này Hiền giả, có con đường có đạo lộ đưa đến chứng đắc Niết-bàn ấy.

5) -- Này Hiền giả, con đường ấy là gì, đạo lộ ấy là gì đưa đến chứng đắc Niết-bàn?

-- Này Hiền giả, đây là con đường Thánh đạo Tám ngành đưa đến chứng đắc Niết-bàn ấy, tức là chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Này Hiền giả, đây là con đường, đây là đạo lộ đưa đến chứng đắc Niết-bàn ấy.

6) -- Này Hiền giả, hiền thiện là con đường, hiền thiện là đạo lộ đưa đến chứng đắc Niết-bàn. Thật là vừa đủ, này Hiền giả, để không phóng dật.

II. A-La-Hán (S.iv,251)

1-2) ...

3) -- "A-la-hán, A-la-hán", này Hiền giả Sàriputta, được gọi là như vậy. Này Hiền giả, thế nào là A-la-hán?

-- Này Hiền giả, đoạn tận tham, đoạn tận sân, đoạn tận si, đây gọi là A-la-hán.

4) -- Này Hiền giả, có con đường nào, có đạo lộ nào đưa đến chứng đắc A-la-hán ấy?

-- Này Hiền giả, có con đường, có đạo lộ đưa đến chứng đắc A-la-hán ấy.

5) -- Này Hiền giả, con đường ấy là gì, đạo lộ ấy là gì đưa đến chứng đắc A-la-hán ấy?

-- Này Hiền giả, đây là con đường Thánh đạo Tám ngành, tức là chánh tri kiến... chánh định... Này Hiền giả, đây là con đường, đây là đạo lộ đưa đến chứng đắc A-la-hán ấy.

6) -- Này Hiền giả, hiền thiện là con đường, hiền thiện là đạo lộ đưa đến chứng đắc A-la-hán. Thật là vừa đủ, này Hiền giả, để không phóng dật.

III. Vị Thuyết Pháp (S.iv,252)

1-2) ...

3) -- Thưa Hiền giả, những ai là những vị thuyết thuận pháp ở đời? Những ai là những vị khéo thực hành ở đời? Những ai là những vị khéo đến ở đời?

4) -- Này Hiền giả, những ai thuyết pháp để đoạn tận tham, những ai thuyết pháp để đoạn tận sân, những ai thuyết pháp để đoạn tận si; những vị ấy là những vị thuyết thuận pháp ở đời.

5) Này Hiền giả, những ai thực hành đoạn tận tham, thực hành đoạn tận sân, thực hành đoạn tận si; những vị ấy là những vị khéo thực hành ở đời.

6) Những ai đoạn tận tham, cắt đứt tận gốc rễ, làm cho như thân cây ta-la, làm cho không thể tái sanh, làm cho không thể sanh khởi trong tương lai; những ai đoạn tận sân, cắt đứt tận gốc rễ, làm cho như thân cây ta-la, làm cho không thể tái sanh, làm cho không thể sanh khởi trong tương lai; những ai đoạn tận si, cắt đứt tận gốc rễ, làm cho như thân cây ta-la, làm cho không thể tái sanh, làm cho không thể sanh khởi trong tương lai; những vị ấy là những vị khéo đến ở đời.

7) -- Này Hiền giả, có con đường nào, có đạo lộ nào đưa đến đoạn tận tham, sân và si ấy?

-- Này Hiền giả, có con đường, có đạo lộ đưa đến đoạn tận tham, sân và si ấy.

8) -- Này Hiền giả, con đường ấy là gì, đạo lộ ấy là gì đưa đến đoạn tận tham, sân và si ấy?

-- Này Hiền giả, đây là Thánh đạo Tám ngành đưa đến đoạn tận tham, sân và si ấy; tức là chánh tri kiến... chánh định. Này Hiền giả, đây là con đường, đây là đạo lộ đưa đến đoạn tận tham, sân và si ấy.

9) -- Này Hiền giả, hiền thiện là con đường, hiền thiện là đạo lộ đưa đến đoạn tận tham, sân và si ấy. Thật là vừa đủ, này Hiền giả Sàriputta, để không phóng dật.

Tương Ưng Bộ. HT Thích Minh Châu dịch

Thảo luận:
1. Định nghĩa về niết bàn của Ngài Sàriputta có làm cứu cánh của người tu Phật trở nên hạn hẹp không?
2. Có thứ hạnh phúc nào đến từ phiền não không?
3. Từ "A La Hán" trong truyền thống Bắc Truyền và Nam truyền khác nhau thế nào?
4. Tại sao trong tứ đế thì "đạo đế" được hiểu là "con đường thoát khổ" chứ không phải là "nhân sanh chân hạnh phúc"?

Đố vui:
Trong ba điều dưới đây, điều nào khó làm nhất;
a. Làm việc lành
b. Tránh việc ác
c. Giữ tâm thanh tịnh
d. Tuỳ người

Thứ Tư, 21 tháng 4, 2010

Câu chuyện trong ngày 22-4-2010
NÊN CHẾT THẾ NÀO
"Ai cũng chết nhưng không phải tất cả cái chết đều giống nhau"

7. VII. Tật Bệnh (S.iv,210)

1) Một thời Thế Tôn trú ở Vesali, Ðại Lâm, tại giảng đường của Ngôi nhà có Nóc nhọn.

2) Rồi Thế Tôn, vào buổi chiều, từ chỗ tịnh cư đứng dậy, đi đến gian phòng chữa bệnh; sau khi đến, ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:

-- Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo phải chánh niệm, tỉnh giác khi thời đã đến (khi mệnh chung). Ðây là lời giáo giới của Ta cho các Ông.

3) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo chánh niệm?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo chánh niệm. Sống quán thọ trên các cảm thọ... quán tâm trên tâm... quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo chánh niệm.

4) Và như thế nào, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo tỉnh giác?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi đi tới, khi đi lui đều tỉnh giác; khi nhìn thẳng, khi nhìn quanh đều tỉnh giác; khi co tay, khi duỗi tay, đều tỉnh giác; khi mang y kép, bình bát, thượng y đều tỉnh giác; khi ăn, uống, nhai, nếm đều tỉnh giác; khi đi đại tiện, tiểu tiện đều tỉnh giác; khi đi, đứng, ngồi, nằm, thức, nói, im lặng đều tỉnh giác. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo tỉnh giác.

5) Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo cần phải chánh niệm tỉnh giác khi thời đã đến. Ðây là lời giáo giới của Ta cho các Ông.

6) Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo sống chánh niệm, tỉnh giác, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần như vậy, lạc thọ khởi lên. Vị ấy tuệ tri như sau: "Lạc thọ này khởi lên nơi ta. Lạc thọ ấy có duyên, không phải không duyên. Do duyên gì? Do duyên chính thân này, nhưng thân này là vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Do duyên thân khởi lên, và duyên này là vô thường, hữu vi, thời lạc thọ được khởi lên, làm sao thường trú được?". Vị ấy trú, quán vô thường đối với thân và lạc thọ. Vị ấy trú, quán tiêu vong (vaya). Vị ấy trú, quán ly tham. Vị ấy trú, quán đoạn diệt. Vị ấy trú, quán từ bỏ. Do vị ấy trú, quán vô thường; do vị ấy trú, quán tiêu vong; do vị ấy trú, quán ly tham; do vị ấy trú, quán đoạn diệt; do vị ấy trú, quán từ bỏ đối với thân và lạc thọ của vị ấy, nên tham tùy miên đối với thân và lạc thọ được đoạn diệt.

7) Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo sống chánh niệm, tỉnh giác, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần như vậy, khổ thọ khởi lên. Vị ấy tuệ tri như sau: "Khổ thọ này khởi lên nơi ta. Khổ thọ ấy có duyên, không phải không duyên. Do duyên gì? Do duyên chính thân này. Nhưng thân này là vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Do duyên thân khởi lên, và duyên này là vô thường, hữu vi, thời khổ thọ được khởi lên, làm sao thường trú được?". Vị ấy trú, quán vô thường đối với thân và khổ thọ. Vị ấy trú, quán tiêu vong. Vị ấy trú, quán ly tham. Vị ấy trú, quán đoạn diệt. Vị ấy trú, quán từ bỏ. Do vị ấy trú, quán vô thường; do vị ấy trú, quán tiêu vong; do vị ấy trú, quán ly tham; do vị ấy trú, quán đoạn diệt; do vị ấy trú, quán từ bỏ đối với thân và khổ thọ của vị ấy, nên sân tùy miên đối với thân và khổ thọ được đoạn diệt.

8) Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo sống chánh niệm, tỉnh giác, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần như vậy, bất khổ bất lạc thọ khởi lên. Vị ấy tuệ tri như sau: "Bất khổ bất lạc thọ này khởi lên nơi ta. Bất khổ bất lạc thọ ấy có duyên, không phải không duyên. Do duyên gì? Do duyên chính thân này. Nhưng thân này là vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Do duyên thân khởi lên, và duyên này là vô thường, hữu vi, do duyên sanh, thời bất khổ bất lạc thọ được khởi lên làm sao sẽ thường trú được?" Vị ấy trú, quán vô thường đối với thân và bất khổ bất lạc thọ. Vị ấy trú, quán tiêu vong. Vị ấy trú, quán ly tham. Vị ấy trú, quán đoạn diệt. Vị ấy trú, quán từ bỏ. Do vị ấy trú, quán vô thường; do vị ấy trú, quán tiêu vong; do vị ấy trú, quán ly tham; do vị ấy trú, quán đoạn diệt; do vị ấy trú, quán từ bỏ đối với thân và bất khổ bất lạc thọ của vị ấy, nên vô minh tùy miên đối với thân và bất khổ bất lạc thọ được đoạn diệt.

9) Nếu vị ấy cảm thọ cảm giác lạc thọ, vị ấy tuệ tri: "Thọ ấy là vô thường". Vị ấy tuệ tri: "Ta không chấp trước thọ ấy". Vị ấy tuệ tri: "Ta không hoan hỷ thọ ấy". Nếu vị ấy cảm thọ khổ thọ... Nếu vị ấy cảm thọ bất khổ bất lạc thọ, vị ấy tuệ tri: "Thọ ấy là vô thường". Vị ấy tuệ tri: "Ta không chấp trước thọ ấy". Vị ấy tuệ tri: "Ta không hoan hỷ thọ ấy".

10) Nếu vị ấy cảm thọ cảm giác lạc thọ, vị ấy cảm giác thọ ấy như người không bị trói buộc. Nếu vị ấy cảm thọ cảm giác khổ thọ, vị ấy cảm thọ cảm giác thọ ấy như người không bị trói buộc. Nếu vị ấy cảm thọ cảm giác bất khổ bất lạc thọ, vị ấy cảm thọ cảm giác thọ ấy như người không bị trói buộc.

11) Khi vị ấy cảm thọ một cảm thọ cùng tận sức chịu đựng của thân, vị ấy tuệ tri: "Ta đang cảm thọ một cảm thọ cùng tận đến sức chịu đựng của thân". Khi vị ấy cảm thọ một cảm thọ cùng tận chịu đựng của sinh mạng, vị ấy tuệ tri: "Ta đang cảm thọ một cảm thọ cùng tận đến sức chịu đựng của sinh mạng". Vị ấy tuệ tri rằng: "Sau khi thân hoại mạng chung, ở đây, một cảm thọ cảm giác không có gì đáng hoan hỷ, sẽ đi đến lắng dịu".

12) Ví như, này các Tỷ-kheo, do duyên dầu và do duyên tim bấc, một ngọn đèn dầu được cháy đỏ. Khi dầu và tim bấc khô cạn, cháy hết, không được tiếp nhiên liệu thêm, ngọn đèn ấy bị tắt. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, khi Tỷ-kheo cảm thọ một cảm thọ cùng tận đến sức chịu đựng của thân, vị ấy tuệ tri: "Ta đang cảm thọ một cảm thọ cùng tận đến sức chịu đựng của thân". Khi vị ấy đang cảm thọ một cảm thọ cùng tận đến sức chịu đựng của sinh mạng, vị ấy tuệ tri: "Ta đang cảm thọ một cảm thọ cùng tận đến sức chịu đựng của sinh mạng". Vị ấy tuệ tri rằng: "Sau khi thân hoại mạng chung, ở đây, mọi cảm thọ không có gì đáng hoan hỷ, sẽ đi đến lắng dịu".

Thảo luận:

1. Nghĩ nhiều về sự chết có làm tinh thần bị suy nhược không?
2. Nên có thái độ thế nào đối với những cảm giác trong lòng?
3. Người tu có cần nghĩ nhiều về kiếp sau không?
4. Với người đang hấp hối thì điều gì đáng khuyên nhắc?

Đố vui:

Tâm thái nào dưới đây được Đức Phật khuyến khích với người hấp hối:
a. Nhất tâm cầu nguyện
b. Chánh niệm tỉnh giác
c. Xuôi theo tự nhiên
d. Cả ba câu trên

Thứ Ba, 20 tháng 4, 2010

Câu chuyện trong ngày 21-4-2010
NGƯỜI SỐNG MỘT MÌNH
"Tâm viễn ly mới là điều đáng nói hơn là thân viễn ly"

63.I. Bởi Migajàla (S.iv,35)

1) Nhân duyên ở Sàvatthi...

2) Tôn giả Migajàla đi đến Thế Tôn...

3) Ngồi xuống một bên, Tôn giả Migajàla bạch Thế Tôn:

-- "Sống một mình! Sống một mình!", bạch Thế Tôn, được nói đến như vậy. Bạch Thế Tôn, cho đến như thế nào là sống một mình? Và cho đến như thế nào là sống có người thứ hai?

4) -- Này Migajàla, có những sắc do mắt nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Nếu Tỷ-kheo hoan hỷ, tán dương và trú với lòng tham luyến sắc ấy ; do vị ấy hoan hỷ, tán dương và trú với lòng tham luyến sắc ấy nên hỷ (nandi) khởi lên. Do hỷ có mặt nên dục tham (sàràgo) có mặt. Do dục tham có mặt nên triền phược có mặt. Bị trói buộc bởi hỷ triền phược, này Migajàla, nên Tỷ-kheo được gọi là người sống có người thứ hai.

5-8) ... có những tiếng do tai nhận thức... có những hương do mũi nhận thức... có những vị do lưỡi nhận thức... có những xúc do thân nhận thức...

9) Này Migajàla, có những pháp do ý nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Nếu Tỷ-kheo hoan hỷ, tán dương và trú với lòng tham luyến pháp ấy ; do vị ấy hoan hỷ, tán dương và trú với lòng tham luyến pháp ấy nên hỷ khởi lên. Do hỷ có mặt nên dục tham có mặt. Do dục tham có mặt nên triền phược có mặt. Bị trói buộc bởi hỷ triền phược, này Migajàla, nên Tỷ-kheo được gọi là người sống có người thứ hai.

10) Tỷ-kheo sống như vậy, này Migajàla, dầu cho đến ở các trú xứ xa vắng, các khóm rừng, các khu rừng, ít tiếng động, ít ồn ào, khỏi hơi thở quần chúng (vijanavàtàni), vắng người, thích hợp với tịnh; dầu vậy, vẫn được gọi là sống với người thứ hai.

11) Vì sao? Vì rằng ái, người thứ hai, chưa được đoạn tận cho nên được gọi là sống có người thứ hai.

12-14) Và này Migajala, có các sắc do mắt nhận thức, khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Nếu Tỷ-kheo không hoan hỷ, không tán dương và trú với lòng không tham luyến pháp ấy; thời do vị ấy không hoan hỷ, không tán dương và trú với lòng không tham luyến pháp ấy, nên hỷ đoạn diệt; thời do hỷ không có mặt nên dục tham không có mặt. Do dục tham không có mặt nên triền phược không có mặt. Do không bị trói buộc bởi hỷ triền phược, này Migajàla, nên Tỷ-kheo được gọi là người trú một mình.

15-16) ...Này Migajàla, có những vị do lưỡi nhận thức...

17) Này Migajàla, có những pháp do ý nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Nếu Tỷ-kheo không hoan hỷ, không tán dương và trú với tâm không tham luyến pháp ấy; thời do vị ấy không hoan hỷ, không tán dương, trú với tâm không tham luyến pháp ấy nên hỷ đoạn diệt. Do hỷ không có mặt nên dục tham không có mặt. Do dục tham không có mặt nên triền phược không có mặt. Do không bị trói buộc bởi hỷ triền phược, này Migajàla, nên Tỷ-kheo được gọi là người trú một mình.

18) Tỷ-kheo sống như vậy, này Migajàla, dầu có ở giữa làng tràn đầy những Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ, vua chúa, đại thần của vua, các ngoại đạo và các đệ tử các ngoại đạo, vị ấy vẫn được gọi là vị sống một mình.

19) Vì sao? Vì rằng ái, người thứ hai, được đoạn tận, do vậy được gọi là sống một mình.

Tương Ưng Bộ. HT Thích Minh Châu dịch


Thảo luận:

1. Nếu một người bực bội với đám đông nên sống một mình thì điều gì phải cẩn thận để có thể sống đúng nghĩa "người sống một mình"?
2. Phật Pháp có quan niệm nào giống như chữ "nhàn" của Lão Trang không?
3. Sự tiết chế các căn sẽ "đưa hành giả về đâu"?
4. Trạng thái "hỷ" có đồng nghĩa với "hạnh phúc" thường được dùng không?

Đố vui:
Có một bài kinh quen thuộc mà trong đó Đức Phật dạy các thầy tỳ kheo nên gìn giữ truyền thống "bậc đạo sư sống viễn ly và các đệ tử tuỳ thuận sống viễn ly". Bài kinh đó có tên là;
a. Kinh Nhất Thiết Lậu Hoặc
b. Kinh Phạm Võng
c. Kinh Pháp Tự
d. Kinh Đại Bát Niết Bàn

Câu chuyện trong ngày 20-4-2010
NHÂN SANH TÀ KIẾN VÀ CHÁNH KIẾN
"Phải cẩn thận với xu thế của đám đông, có thể mình bị thuyết phục dễ dàng mà không biết."
HAI PHÁP KHIẾN TÀ KIẾN SANH KHỞI
8. Có hai duyên này, này các Tỷ-kheo, khiến tà kiến sanh khởi. Thế nào là hai? Tiếng nói của người khác và không như lý tác ý. Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là hai duyên khiến tà kiến sanh khởi.
HAI PHÁP KHIẾN CHÁNH KIẾN SANH KHỞI
9. Có hai duyên này, này các Tỷ-kheo, khiến chánh kiến sanh khởi. Thế nào là hai? Tiếng nói của người khác và như lý tác ý. Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là hai duyên khiến chánh kiến sanh khởi.

Tăng Chi Bộ, HT Thích Minh Châu dịch

Thảo luận:

1. Có những tà kiến nào nằm ngoài thường kiến và đoạn kiến không?
2. Tại sao Đức Phật dạy tà kiến là nhân duyên đưa vào khổ cảnh?
3. Xin cho một thí dụ cụ thể thế nào như lý tác ý tạo nên chánh kiến?
4. Quan điểm của đa số có phải lúc nào cũng đúng hơn thiểu số không?

Đố vui:

Trong anh ngữ có từ ngữ thường dùng là "cool" ( tạm dịch là "bảnh", "cách điệu', "độc đáo", "phớt tỉnh...). Cách dùng từ nầy thường không thay đổi nhưng "cái gì thật sự là cool" thì tuỳ vào mỗi cá nhân hay trào lưu. Câu hỏi là: điều nào dưới đây được xem sự thuyết phục bởi trào lưu trong quan niệm "cool":

a. Ý nghĩa của chữ cool
b. Cái gì được gọi là cool
c. Cách dùng từ cool
d. Người dùng từ cool

Thứ Hai, 19 tháng 4, 2010

Câu chuyện trong ngày 19-4-2010
HAI PHÁP KHIẾN SÂN SANH KHỞI
Đằng sau cơn thịnh nộ dường như đột khởi luôn luôn có những nhân duyên đáng suy gẩm"

7. Có hai duyên này, này các Tỷ-kheo, khiến sân sanh khởi. Thế nào là hai? Chướng ngại tướng và không như lý tác ý. Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là hai duyên khiến sân sanh khởi.

Tăng Chi Bộ, HT Thích Minh Châu dịch

Thảo luận:

1. Phải chăng chỉ có sự nóng nảy, bực bội mới gọi là sân?
2. Nếu tịnh tướng là duyên sanh tham, chướng ngại tướng là duyên sanh sân vậy tướng nào là cảnh của tâm bình thường?
3. Phải chăng khả năng suy nghĩ một cách như lý tác ý khó áp dụng với sân hơn là tham?
4. Nếu duyên sanh tham và sân có cả chủ quan lẫn khách quan thì lỗi thuộc về ai?

Đố vui:

Có người thợ săn tên Kodha buổi sáng vào rừng săn bắn. Trên đường gặp một tỳ kheo chợt nghĩ có lẽ hôm nay đi săn không may mắn. Quả thật cả ngày không săn được gì. Chiều về lại gặp thầy tỳ kheo ban sáng nên Kodha nổi giận xua chó cắn. Vị tỳ kheo sợ hãi leo lên cây thoát hiểm vô tình chiếc y trên người rơi xuống trùm lên người thợ săn. Bầy chó tưởng là vị tỳ kheo rơi xuống nên xúm lại cắn chết người chủ. Bi kịch đó gây ra tại nguyên nhân nào?

a. Tại vị tỳ kheo xuất hiện không đúng lúc
b. Tại Kodha có những ý nghĩ không chánh đáng
c. Tại bầy chó thíếu tinh mắt
d. Tại sự săn bắn không kết quả

Chủ Nhật, 18 tháng 4, 2010

Câu chuyện trong ngày 18-4-2010
HAI PHÁP KHIẾN THAM SANH KHỞI
"Nói đến phiền não không thể không nói tới yếu tố tâm lý"

6. Có hai duyên này, này các Tỷ-kheo, khiến tham sanh khởi. Thế nào là hai? Tịnh tướng và không như lý tác ý. Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là hai duyên khiến tham sanh khởi.

Kinh Tăng Chi Bộ, HT Thích Minh Châu dịch

Thảo luận:
1. Chữ tịnh tướng (subha) mang ý nghĩa chính xác là gì?
2. Một cuộc sống lúc nào cũng tìm kiếm và xây dựng điều tốt đẹp phải chăng là thiên về tịnh tướng?
3. Dựa trên cái gì để suy nghĩ mới được gọi là như lý tác ý?
4. Phải chăng người sống bằng như lý tác ý là người sống lạc quan?

Đố vui:
Có bốn người cùng trong cảnh ngộ là mất mát tài sản. Mỗi người có cách suy nghĩ và phản ứng riêng. Người nào dưới đây được xem là có "như lý tác ý":

a. Một người suy nghĩ: đã là chuyện xui xẻo thì có muốn tránh cũng không được
b. Một người suy nghĩ: Tán tài thì tiêu tai. Lấy của để đổi mạng.
c. Một người suy nghĩ: Đây là dịp tốt đế quán vô thường, khổ não, vô ngã
d. Một người suy nghĩ: Cái cũ không đi thì cái mới sao tới được.

Thứ Sáu, 16 tháng 4, 2010

Câu chuyện trong ngày 16-4-2010
HAI HẠNG NGƯỜI KHÓ LÀM CHO THỎA MÃN
"Càng thâu góp, càng phung phí thì con người càng khó thỏa mãn"
4. Có hai hạng người này, này các Tỷ-kheo, khó làm cho thỏa mãn. Thế nào là hai? Người cất chứa các lợi dưỡng và người phung phí các lợi dưỡng. Hai hạng người này, này các Tỷ-kheo, là hai hạng người khó làm cho thỏa mãn.
TĂNG CHI BỘ. HT Thích Minh Châu dịch

Thảo luận:
1. Sự khó thỏa mãn có là một nhân tố khiến đời sống kém an lạc?
2. Tại sao sự phung phí là dấu hiệu của sự không thỏa mãn?
3. Phải chăng sự tích tập tài sản là dấu hiệu nhân loại không sống an lạc?
4. Phải chăng đời sống xuất gia ngày xưa bắt đầu từ việc từ bỏ tư hữu?

Đố vui:
Thời Đức Phật tại thế có một vị hoàng tử sau khi xuất gia cảm thấy sự hoan hỷ với đời sống không bạc tiền, danh vị. Vị đó tên là:
a. Anuruddha
b. Bhagu
c. Ananda
d. Devadatta

Thứ Năm, 15 tháng 4, 2010


Câu chuyện trong ngày 15-4-2010
HAI HẠNG NGƯỜI KHÓ TÌM KHÁC
"Không bao giờ thỏa mãn, theo Phật Pháp, là căn bệnh trầm kha nhất của tất cả chúng sanh"

3. Có hai hạng người này, này các Tỷ-kheo, khó tìm được ở đời. Thế nào là hai? Người thỏa mãn và người làm người khác thỏa mãn. Hai hạng người này, này các Tỷ-kheo, khó tìm được ở đời.

TĂNG CHI BỘ. HT Thích Minh Châu dịch

Thảo luận:
1. Trong kinh Ratthapala sutta (M ii) có nói về "thế gian vốn khiếm khuyết nô lệ cho khát ái", phải chăng đó là lý do chủ quan khiến chúng sanh đau khổ?
2. Chữ " thỏa mãn" ở đây có đồng nghĩa với chữ "tri túc" không?
3. Tại sao sự "dị dưỡng" (dễ nuôi) là một trong những sự thực hành quan trọng của đời sống xuất gia?
4. Làm sao để trở thành người không đòi hỏi nhiều?


Đố vui:
Có nhiều người nói rằng "nếu tôi được chừng đó tôi sẽ không đòi hỏi gì hơn". Theo cái nhìn Phật học thì người đó:
a. Không thật sự hiểu rõ về bản chất của chúng sanh là rất khó thỏa mãn.
b. Giả dối
c. Không cẩn trọng trong lời nói.
d. Câu a và b

Thứ Tư, 14 tháng 4, 2010

Câu chuyện trong ngày 14-4-2010
HAI HẠNG NGƯỜI KHÓ TÌM
"Loài người thường là sinh vật vô ơn. Người thiện trí thì khác"

2. Có hai hạng người này, này các Tỷ-kheo, khó tìm được ở đời. Thế nào là hai? Người thi ân không cầu báo đáp và người biết nhớ ơn và tìm cách đáp đền. Hai hạng người này, này các Tỷ-kheo, khó tìm được ở đời.
TĂNG CHI BỘ. HT Thích Minh Châu dịch

Thảo luận:
1. Phải chăng lòng từ bi chính là động lực khiến người ta thi ân mà không cầu báo đáp?
2. Tại sao người ta thường không thích nhắc về những gì tốt người khác làm cho mình mà thường nhắc tới những điều không tốt?
3. Theo lý nhân quả thì nếu mang ơn mà không đền đáp thì kiếp sau có làm trâu ngựa đền đáp chăng?
4. Nếu những thâm ân mà không giờ đền đáp hết thì nên báo ân thế nào?


Đố vui:
Theo lời Phật dạy thì có một ân lớn khó có thể đền đáp nhưng nếu có thể dùng món quà chánh pháp để báo ân. Ân sâu đó chính là:
a. Ân người cứu mạng
b. Ân thầy dạy dỗ
c. Ân sâu cha mẹ
d. Ân tình chồng vợ

Thứ Ba, 13 tháng 4, 2010

HAI THỨ HY VỌNG KHÓ TỪ BỎ
"Có những thứ bản năng cố hữu ở mỗi chúng ta mà mỗi người phải thành thật thừa nhận"

1.- Có hai hy vọng này, này các Tỷ-kheo, khó được từ bỏ. Thế nào là hai? Hy vọng được lợi dưỡng và hy vọng được sống. Hai pháp này, này các Tỷ-kheo, là hai hy vọng khó được từ bỏ.

KINH TĂNG CHI. HT Thích Minh Châu dịch


Thảo luận:
1. Hy vọng và ước nguyện giống hay khác nhau?
2. Có nên sống với hy vọng không?
3. Phải chăng hy vọng thường làm người ta thất vọng?
4. Phải chăng người sống với hy vọng đối ngược lại với "người sống trong hiện tại"?

Đố vui:
Người nào dưới đây, theo Phật pháp sống an lạc nhất?
a. Người luôn sống với tâm tư tràn đầy hy vọng
b. Người sống không biết gì về ngày mai
c. Người sống với sự tỉnh táo đối với những gì xẩy ra nơi thân và tâm của mình
d. Người có nhiều may mắn bất ngờ