Thứ Ba, 26 tháng 1, 2010

Câu chuyện trong ngày 28-1-2010
NÊN BIẾT THƯƠNG MÌNH ĐÚNG CÁCH
"Ai cũng yêu thương bản thân nhưng ít người thương mình đúng cách"

IV. Thân Ái (S.i,71)
1) Ở tại Sàvatthi.
2) Ngồi xuống một bên, vua Pasenadi nước Kosala bạch Thế Tôn:
-- Bạch Thế Tôn, ở đây khi con đang ngồi yên tịnh một mình, tư tưởng này khởi lên nơi con: "Ðối với những ai, tự ngã là thân ái? Ðối với những ai, tự ngã là kẻ thù?" Và rồi bạch Thế Tôn, con suy nghĩ như sau:

3) "Những ai sống thân làm ác, sống miệng nói ác, sống ý nghĩ ác; đối với người ấy, tự ngã là kẻ thù. Dầu họ có nói: "Tự ngã là thân ái của chúng tôi", nhưng tự ngã đối với họ là kẻ thù. Vì sao vậy? Những gì kẻ thù làm cho kẻ thù, tự ngã của họ làm cho tự ngã của họ như vậy. Do vậy, đối với họ, tự ngã là kẻ thù.

4) Những ai sống thân làm thiện, sống miệng nói thiện, sống ý nghĩ thiện, đối với họ, tự ngã là thân ái. Dầu cho họ có nói: "Tự ngã là kẻ thù của chúng tôi", nhưng tự ngã đối với họ là thân ái. Vì sao vậy? Những gì kẻ thân ái làm cho kẻ thân ái, tự ngã của họ làm cho tự ngã của họ như vậy. Do vậy, đối với họ, tự ngã là kẻ thân ái."

5) -- Như vậy là phải, thưa Ðại vương. Như vậy là phải, thưa Ðại vương. Thưa Ðại vương, những ai sống thân làm ác... Do vậy, đối với họ, tự ngã là kẻ thù. Thưa Ðại vương, những ai sống thân làm thiện... Do vậy, đối với họ, tự ngã là kẻ thân ái.

6)
Nếu những ai biết được,
Tự ngã là thân ái,
Họ sẽ không liên hệ,
Với các điều ác hạnh.
Kẻ làm điều ác hạnh,
Khó được chơn hạnh phúc,
Bị thần chết cầm tù,
Từ bỏ thân làm người.
Kẻ có nghiệp như vậy,
Cái gì là của mình?
Lấy cái gì đem đi?
Cái gì theo dõi họ,
Như bóng theo dõi hình?
Ở đây kẻ bị chết,
Làm các nghiệp công đức,
Làm các nghiệp ác đức,
Lấy cả hai đem đi.
Cả hai của kẻ ấy,
Như bóng theo dõi hình.
Cả hai theo kẻ ấy,
Do vậy hãy làm lành,
Tích lũy cho đời sau,
Công đức cho đời sau,
Là hậu cứ cho người.

Phật Pháp Vấn Đáp: 28-1-2010
MA QUỶ CÓ ĐÁNG SỢ KHÔNG?
1
Hỏi: Phải chăng từ ngữ "phi nhân" trong kinh điển chỉ cho ma quỷ?
Phi nhân thường được dùng chỉ cho các hạng hóa sanh không phải loại người. Trong đó kể cả chư thiên, dạ xoa, a tu la, ngạ quỹ sống trên địa cầu giữa nhân loại.

Hỏi: Phi nhân có thể hại người không?
Có thể và cũng không thể. Tùy thuộc vào nhiều nguyên nhân. Câu hỏi nầy giống như hỏi chúng ta đi đường có thể bị trộm cướp không. Thông thường chuyện đó ít xẩy ra nhưng không phải là không xẩy ra.

Hỏi: Làm sao để ma quỷ khỏi nhiễu hại?
Không nên tự ám ảnh chính mình. Trong kinh điển thường nói đến ba cách ngăn ngừa phi nhân quấy nhiễu: thường niệm tưởng ân đức Phật, tu tập tâm từ, năng hồi hướng phước cho chư thiên.

PHẬT PHÁP VẤN ĐÁP 27-1-2010

Những Hiểu Biết sai lạc về hàng Thinh Văn Đệ Tử Phật

1.
Hỏi: Phải chăng cộng đồng Tăng chúng hay Tăng Bảo chỉ cho hàng thinh văn đệ tử Phật?

Đáp: Đúng vậy. Những ai được Đức Chánh Đẳng Giác khai thị dù trực tiếp (được diện kiến nghe pháp) hay gián tiếp (như tất cả tăng sĩ ngày nay) đều là bậc thinh văn. Chữ thinh văn - savaka - có nghĩa là bậc giác ngộ nhờ lắng nghe, hay bậc biết lắng nghe, bậc có khả năng hấp thụ diệu pháp. Tất cả thành viên Tăng già hay Tăng bảo có thành tựu đạo quả đều là bậc thinh văn đệ tử Phật (Bhagavato savaka sangho). Những quan niệm ngược lại điều nầy thường do sự thiếu hiểu biết. Trong trường hợp nầy là sự thiếu hiểu biết tai hại.

2
Hỏi: Phải chăng hàng thinh văn chỉ tu cho mình mà không có hạnh nguyện độ sanh?

Đáp: Đây là sự thiếu hiểu biết nông nổi khác. Vai trò hoằng pháp của Tăng bảo được Đức Phật xem là rộng lớn lâu dài không ai so sánh được. Không có tinh thần hoằng pháp độ sanh của Tăng bảo thì Phật giáo không tồn tại đến hôm nay. Đọc những lời trình bạch của Ngài Đại Ca Diếp trước Đức Phật thì hiểu được điều nầy.

3
Hỏi: phải chăng người Phật tử tu hạnh thượng thừa không nên qui ngưỡng hàng thinh văn?

Đáp: Có một điều ít người biết đến là chính bản thân Đức Phật cũng tôn kính Pháp Bảo và Tăng Bảo nói gì đến những người Phật tử. Không may là Bà La Môn giáo đã thành công trong việc tạo nên sự khinh thị trong một số truyền thống Phật giáo đối với chư thinh văn đệ tử Phật.

PHẬT PHÁP VẤN ĐÁP, THỨ BA 26-1-2010

SỰ VÔ THƯỜNG NÊN ĐƯỢC NHẬN THỨC THẾ NÀO

1
Hỏi: Chiều kích của thời gian và không gian ảnh hưởng sự nhận thức về vô thường ra sao?
Đáp: Sự thay đổi mau chậm của sự vật ảnh hưởng lớn sự nhận thức của tâm về trạng thái vô thường. Thí dụ những biến đổi địa chất thường quá chậm khiến người ta cảm thấy núi non dường như luôn luôn bất động; hay sự tuôn chảy không ngừng nghỉ của dòng sông khiến chúng ta cảm giác như giòng nước lúc nào cũng vậy. Thiền quán và tuệ quán giúp hành giả nhận thức sự vô thường chân xác hơn.

2
Hỏi: Sự "nhàm chán đối với các hành" trong các bản dịch Việt ngữ nên được hiểu như thế nào?
Đáp: Nói một cách khác là không ái chấp, dính mắc với các pháp hữu vi. Chữ nhàm chán trong tiếng Việt thường mang tính tiêu cực. Trong ngữ cảnh của kinh văn nên hiểu là "không nên tha thiết với điều không đáng tha thiết"

3
Hỏi: Phải chăng khi nhận thức về vô thường chỉ nên nhận thức trực tiếp thí dụ như quán sát hơn thở, sự thay đổi của các oai nghi (tư thế).. hơn là suy diễn?
Không hẳn như vậy. Trong pháp quán niệm xứ có nhiều phần dựa trên sự suy luận. Trí tuệ có thể sắc bén do cả ba phương diện: học hỏi, suy tư và quán chiếu. Giống như trong khoa học vật lý ngày nay có rất nhiều định lý dựa trên tư duy chứ không thể bằng dụng cụ đo đạt.



Thứ Hai, 25 tháng 1, 2010

Câu chuyện trong ngày, 28-1-2010

ĐỨC TRỌNG QUỶ THẦN KINH


V. Cây Lao (Satti) (Tạp, Ðại 2, 344c) Sakti, S.(Hoernh, 1.44-45) (S.ii,265)

1) ... Trú ở Sàvatthi.

2) -- Ví như, này các Tỷ-kheo, một cây lao có lưỡi sắc bén. Rồi một người đến và nói: "Với tay hay với nắm tay, tôi sẽ bẻ gập đôi lưỡi sắc bén của cây lao này, tôi sẽ đánh phía cạnh cho nó quặp dài lại, tôi sẽ uốn cong nó lại".

3) Này các Tỷ-kheo, các Ông nghĩ thế nào? Người ấy có thể với tay hay nắm tay bẻ gập đôi lưỡi sắc bén của cây lao này, đánh phía cạnh cho nó quặp dài lại, uốn cong nó lại không?

-- Thưa không, bạch Thế Tôn.

4) Vì sao?

Bạch Thế Tôn, không dễ gì, với tay hay nắm tay bẻ gập đôi lưỡi sắc bén của cây lao này, đánh phía cạnh cho nó quặp dài lại, uống cong nó lại, mà không khiến cho người ấy mệt nhọc và bị não hại.

5) -- Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, khi một ai (vị Tỷ-kheo) tu tập từ tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ địa, an trú, tích lũy và khéo thực hiện, thời một phi nhân nào nghĩ rằng, có thể đánh ngã một tâm như vậy, kẻ phi nhân ấy ở đây sẽ mệt nhọc và bị não hại.

6) Do vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập như sau: "Chúng tôi sẽ tu tập từ tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ địa, an trú, tích lũy và khéo thực hiện".

Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập.

Câu chuyện trong ngày, 27-1-2010

NGHĨ CHO HẬU THẾ XÁ GÌ HUYỄN THÂN

V. Trở Về Già (Tạp 41.23, Lực Lão, Ðại 2, 301c Tăng 41.5, Ðại 2, 746a Biệt Tạp 6.10, Ðại 2, 416b) (S.ii,202)

1) Như vầy tôi nghe.

Tại Ràjagaha, Veluvana...

2) Rồi Tôn giả Mahà Kassapa đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.

3) Thế Tôn nói với Tôn giả Mahà Kassapa đang ngồi một bên:

-- Này Kassapa, Ông đã già rồi. Ðã cũ nát là những vải gai thô phấn tảo này của Ông đáng được quăng bỏ. Vậy này Kassapa, hãy mang những y áo do các gia chủ cúng, thọ dụng các món ăn được mời và ở gần bên Ta.

4) -- Bạch Thế Tôn, con là người đã lâu ngày sống ở rừng, và tán thán hạnh ở rừng; con là người đi khất thực và tán thán hạnh khất thực; con là người mang y phấn tảo và tán thán hạnh mang y phấn tảo; con là người mang ba y và tán thán hạnh mang ba y; con là người thiểu dục và tán thán hạnh thiểu dục; con là người tri túc và tán thán hạnh tri túc; con là người sống viễn ly và tán thán hạnh viễn ly; con là người sống không giao thiệp và tán thán hạnh không giao thiệp; con là người tinh cần và tán thán hạnh tinh cần.

5) -- Này Kassapa, Ông thấy có lợi ích gì mà ông đã lâu ngày sống ở rừng và tán thán hạnh sống ở rừng... đi khất thực.. mang y phấn tảo... mang ba y... thiểu dục... tri túc... sống viễn ly... sống không giao thiệp... tinh cần và tán thán hạnh tinh cần?

6) -- Bạch Thế Tôn, con thấy có hai lợi ích nên đã lâu ngày con sống ở rừng và tán thán hạnh ở rừng... con đi khất thực... con mang y phấn tảo... con mang ba y... con thiểu dục... con tri túc... con sống viễn ly... con sống không giao thiệp... con sống tinh cần và tán thán hạnh sống tinh cần.

7) Con thấy tự mình được hiện tại an lạc trú và vì lòng từ mẫn đối với chúng sanh sắp đến, mong rằng các chúng sanh sắp đến sẽ bắt chước (ditthanugatim): "Ðối với các đệ tử Phật và tùy Phật (Buddhànubuddhasàvakà), mong họ trong một thời gian dài trở thành những vị sống ở rừng và tán thán hạnh ở rừng... những vị đi khất thực... những vị mang y phấn tảo... những vị mang ba y... những vị thiểu dục... những vị tri túc... những vị viễn ly... những vị không giao thiệp... những vị tinh cần và tán thán hạnh tinh cần... họ sẽ thực hành như vậy, và như vậy trong một thời gian dài họ sống hạnh phúc an lạc".

8) Bạch Thế Tôn, thấy được hai lợi ích này, con sống ở rừng và tán thán hạnh sống ở rừng... con đi khất thực và tán thán hạnh khất thực... mang y phấn tảo... mang ba y... thiểu dục... tri túc... viễn ly... không giao thiệp... sống tinh cần và tán thán hạnh tinh cần.

9) -- Lành thay, lành thay, Kassapa! Thật vì hạnh phúc cho quần sanh, này Kassapa, Ông đã thực hành như vậy, vì an lạc cho quần sanh, vì lòng từ mẫn với đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người.

10) Do vậy, này Kassapa, hãy mang vải gai thô, phấn tảo đáng được quăng bỏ. Hãy sống khất thực và trú ở trong rừng!


Câu chuyện trong ngày, 26-1-2010

BÃI BỄ NƯƠNG DÂU

X. Núi Vepulla (Tạp, Ðại 2,243b) (Biệt Tạp 16.21, Ðại 2,488c) (S.ii,190)

1) Một thời Thế Tôn trú ở Ràjagaha (Vương Xá), tại núi Gijjhakùta (Linh Thứu).

2) Tại đấy Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo...

3) Thế Tôn nói như sau:

-- Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỷ-kheo. Khởi điểm không thể nêu rõ đối với sự lưu chuyển luân hồi của các chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc.

4) Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, núi Vepulla này được biết với tên là Pàcìnavamsa. Lúc bấy giờ, dân chúng được biết với tên là Tivàrà. Này các Tỷ-kheo, dân chúng Tivàrà có tuổi thọ đến 40.000 năm. Này các Tỷ-kheo, dân chúng Tivàrà phải bốn ngày để leo lên núi Pàcìnavamsa, phải bốn ngày để leo xuống.

5) Lúc bấy giờ, này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Kakusandha, bậc Ứng Cúng, Chánh Ðẳng Giác xuất hiện ở đời. Này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Kakusandha, bậc Ứng Cúng, Chánh Ðẳng Giác, có hai vị đệ tử, hai vị thượng thủ, hiền thiện tên là Vidhura và Sajìva.

6) Hãy nhìn xem, này các Tỷ-kheo, tên của hòn núi ấy đã biến mất, dân chúng ấy đã mệnh chung, và bậc Thế Tôn ấy đã nhập diệt.

7) Vô thường như vậy, này các Tỷ-kheo, là các hành. Không kiên cố như vậy, này các Tỷ-kheo, là các hành. Bất an như vậy, này các Tỷ-kheo, là các hành. Cho đến như vậy, này các Tỷ-kheo là vừa đủ để nhàm chán, là vừa đủ để từ bỏ, là vừa đủ để giải thoát đối với tất cả các hành.

8) Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, núi Vepulla này được biết với tên là Vànkaka. Lúc bấy giờ, này các Tỷ-kheo, dân chúng được biết với tên là Rohita. Này các Tỷ-kheo, dân chúng Rohita có tuổi thọ đến 30.000 năm. Này các Tỷ-kheo, dân chúng Rohita phải ba ngày để leo lên núi Vànkaka, phải ba ngày để leo xuống.

9) Lúc bấy giờ, này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Konàgamana, bậc Ứng Cúng, Chánh Ðẳng Giác xuất hiện ở đời. Này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Konàgamana, bậc Ứng Cúng, Chánh Ðẳng Giác, có hai vị đệ tử, hai vị thượng thủ, hiền thiện tên là Bhìyya và Suttara.

10) Hãy nhìn xem, này các Tỷ-kheo, tên của hòn núi ấy đã biến mất, dân chúng ấy đã mệnh chung, và bậc Thế Tôn ấy đã nhập diệt. Vô thường như vậy, này các Tỷ-kheo, là các hành... là vừa đủ để giải thoát đối với tất cả các hành.

11) Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, núi Vepulla này được biết với tên là Supassa. Lúc bấy giờ, này các Tỷ-kheo, dân chúng được biết với tên là Suppiya. Này các Tỷ-kheo, dân chúng Suppiya có tuổi thọ đến 20.000 năm. Này các Tỷ-kheo, dân chúng Suppiya phải hai ngày để leo núi Supassa, phải hai ngày để leo xuống.

12) Lúc bấy giờ, Thế Tôn Kassapa, bậc Ứng Cúng, Chánh Ðẳng Giác xuất hiện ở đời. Này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Kassapa, bậc Ứng Cúng, Chánh Ðẳng Giác, có hai đệ tử, hai vị thượng thủ, hiền thiện tên là Tissa và Bhàradvàja.

13) Hãy nhìn xem, này các Tỷ-kheo, tên của hòn núi ấy đã biến mất, dân chúng ấy đã mệnh chung, và bậc Thế Tôn ấy đã nhập diệt.

14) Vô thường như vậy, này các Tỷ-kheo, là các hành. Không kiên cố như vậy, này các Tỷ-kheo, là các hành... là vừa đủ để được giải thoát đối với tất cả các hành.

15) Hiện tại, này các Tỷ-kheo, núi Vepulla này được biết với tên là Vepulla. Hiện tại, này các Tỷ-kheo, dân chúng ấy được biết với tên là Magadhaka. Tuổi thọ dân chúng Magadhaka ấy, này các Tỷ-kheo, là ít, nhẹ, không bao nhiêu, họ sống lâu cho đến 100 tuổi hay hơn một chút. Dân chúng Magadhaka, này các Tỷ-kheo, leo lên núi Vepulla này trong một thời gian ngắn, leo xuống trong một thời gian ngắn.

16) Hiện tại, này các Tỷ-kheo, Ta, bậc Ứng Cúng, Chánh Ðẳng Giác xuất hiện ở đời. Này các Tỷ-kheo, Ta có hai vị đệ tử, hai vị thượng thủ, hiền thiện tên là Sàriputta và Moggallàna.

17) Một thời sẽ đến, này các Tỷ-kheo, tên của ngọn núi này sẽ biến mất, dân chúng sẽ mệnh chung, và Ta sẽ nhập diệt.

18) Vô thường như vậy, này các Tỷ-kheo, là các hành. Không kiên cố, này các Tỷ-kheo, là các hành. Bất an như vậy, này các Tỷ-kheo, là các hành. Cho đến như vậy, này các Tỷ-kheo, là vừa đủ để được nhàm chán, là vừa đủ để từ bỏ, là vừa đủ để giải thoát đối với tất cả các hành.

19) Thế Tôn nói như vậy, bậc Thiện Thệ nói như vậy xong, bậc Ðạo Sư lại nói thêm:

Pacinavamsa,
Với dân Tivàra.
Tên núi Vankaka
Với dân Rohita.
Tên núi Supassa
Với dân Suppiyà.
Tên núi Vepulla
Với dân Magadha,

Chư hành là vô thường,
Phải sanh rồi phải diệt,
Sau khi sanh, chúng diệt,
Chúng tịnh là an lạc.

Chủ Nhật, 24 tháng 1, 2010

Tin tức: 11 NGÀN NGƯỜI CẢI ĐẠO VỚI LỄ QUI Y TAM BẢO TẠI ẤN ĐỘ

11,000 people convert to Buddhism in Ahmedabad
Post Comment Larger | Smaller
Express News Service
Tags : region converted
Posted: Monday , Jan 25, 2010 at 0543 hrs
Ahmedabad:


Close to 11,000 people, including those from the Koli and Kshatriya communities as well as Christian families, embraced Buddhism at a function in Saijpur Bogha here on Sunday. Buddhist monks from Bhante Pragnyasheel administered the pledges to the new converts. The Ahmedabad district collector, however, said no conversion could be effective unless an official permission was granted.

“Five Hindu Dalit families that had earlier converted to Christianity also converted to Buddhism at the function,” said Balkrishna Anand, convenor of the Bauddh Dhamma Deeksha Angikar Abhiyan (Gujarat). “We were working on the event for the last few months, touring many districts and conducting meetings to mobilise people,” he said, adding that in all, 350 meetings were held to spread the message across the state.

Maintaining that nearly 11,000 people converted to Buddhism at the function, Anand said the neo-converts had come from places as far as Patan, Surendranagar, Rajkot, Vadodara, Junagadh and Mehsana. Renowned Buddhist leader Kalpana Saroj was the chief guest at the function, which was presided over by five Buddhist monks from various parts of the country.
Phật Pháp Vấn Đáp, 23-1-2010

KHUYNH HƯỚNG CÁ NHÂN

Hỏi: Trong Phật Pháp có lời dạy nào tương đồng với câu "nhân chi sơ, tánh bổn thiện" không?

Giáo lý nghiệp báo cho thấy mỗi chúng sanh chào đời đều thừa hưởng nghiệp quá khứ, kể cả thói quen thô tế. Hai em bé cùng tuổi sanh ra trong một gia đình với bối cảnh giống nhau nhưng vẫn có nhiều cá tánh sai biệt. Không có bằng cớ nào xác định là lúc mới sinh ra con người có cá tính và khuynh hướng giống nhau.

Hỏi: Trong mỗi con người đều có cả hai phần thiện và bất thiện vậy thì cái nào là khuynh hướng thật sự?

Mặc dù trong tâm của chúng sanh có cả tánh thiện, tánh bất thiện và những trạng thái ngoài hai thiện ác nhưng vẫn có những pháp vượt trội. Thí dụ trong A Tỳ Đàm nói đến "tứ trưởng" hay các Quyền (indriya).


Hỏi: Nếu một người không thích gần người thiện thì sự miễn cưỡng, dù bằng thiện chí, có "phản tác dụng" chăng?

Không phải chỉ có hai khuynh hướng duy nhất là thiện hay bất thiện. Trong khuynh hướng thiện cũng có nhiều ý hướng cá biệt. Nên nhớ rằng "môi trường thoải mái" và "môi trường lơi lạc" không nhất thiết là một. Nên tự vấn là hoàn cảnh mình hướng đến có lợi ích lâu dài cho sự tu tập bản thân hay không.
Câu chuyện trong ngày, 23-1-2010
MÃ TẦM MÃ, NGƯU TẦM NGƯU

V. Nghiệp (Tạp, Ðại 2, 115a) (S.ii,155) TƯƠNG ƯNG BỘ, HT Thích Minh Châu dịch

1) Một thời Thế Tôn trú ở Ràjagaha (Vương Xá), tại núi Gijjakùta (Linh Thứu) .

2) Lúc bấy giờ, Tôn giả Sàriputta cùng với một số đông Tỷ-kheo đang đi kinh hành, không xa Thế Tôn bao nhiêu.

3) Tôn giả Mahàmoggallàna cùng với một số đông Tỷ-kheo đang đi kinh hành, không xa Thế Tôn bao nhiêu.

4) Tôn giả Mahà Kassapa cùng với... không xa Thế Tôn bao nhiêu.

5) Tôn giả Anuruddha cùng với... không xa Thế Tôn bao nhiêu.

6) Tôn giả Punna Mantàniputta cùng với... bao nhiêu.

7) Tôn giả Upàli cùng với... bao nhiêu.

8) Tôn giả Ananda cùng với... bao nhiêu.

9) Tôn giả Devadatta cùng với một số đông Tỷ-kheo đang đi kinh hành, không xa Thế Tôn bao nhiêu.

10) Rồi Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:

-- Này các Tỷ-kheo, các Ông có thấy Sàriputta cùng với một số đông Tỷ-kheo đang đi kinh hành?

-- Thưa có, bạch Thế Tôn.

-- Này các Tỷ-kheo, tất cả vị Tỷ-kheo ấy là bậc đại trí tuệ.

11) Này các Tỷ-kheo, các Ông có thấy Moggallàna cùng với một số đông Tỷ-kheo đang đi kinh hành?

-- Thưa có, bạch Thế Tôn

-- Này các Tỷ-kheo, tất cả vị Tỷ-kheo ấy là bậc đại thần thông.

12) Này các Tỷ-kheo, các Ông có thấy Kassapa cùng với một số đông Tỷ-kheo đang đi kinh hành?

-- Thưa có, bạch Thế Tôn.

-- Này các Tỷ-kheo, tất cả vị Tỷ-kheo ấy chủ trương hạnh đầu đà.

13) Này các Tỷ-kheo, các Ông có thấy Anuruddha cùng với một số đông Tỷ-kheo đang đi kinh hành?

-- Thưa có, bạch Thế Tôn.

-- Này các Tỷ-kheo, tất cả vị Tỷ-kheo ấy là bậc có thiên nhãn.

14) Này các Tỷ-kheo, các Ông có thấy Punna Mantàniputta cùng với một số đông Tỷ-kheo đang đi kinh hành?

-- Thưa có, bạch Thế Tôn.

-- Này các Tỷ-kheo, tất cả vị Tỷ-kheo ấy là bậc thuyết pháp.

15) Này các Tỷ-kheo, các Ông có thấy Upàli cùng với một số đông Tỷ-kheo đang đi kinh hành?

-- Thưa có, bạch Thế Tôn.

-- Này các Tỷ-kheo, tất cả vị Tỷ-kheo ấy là bậc trì luật.

16) Này các Tỷ-kheo, các Ông có thấy Ananda cùng với một số đông Tỷ-kheo đang đi kinh hành?

-- Thưa có, bạch Thế Tôn.

-- Này các Tỷ-kheo, tất cả vị Tỷ-kheo ấy là bậc đa văn.

17) Này các Tỷ-kheo, các Ông có thấy Devadatta cùng với một số đông Tỷ-kheo đang đi kinh hành?

-- Thưa có, bạch Thế Tôn.

-- Này các Tỷ-kheo, tất cả vị Tỷ-kheo ấy là ác dục.

18) Này các Tỷ-kheo, tùy thuộc theo giới, các chúng sanh cùng hòa hợp, cùng đi với nhau. Chúng sanh liệt ý chí cùng hòa hợp, cùng đi với chúng sanh liệt ý chí. Chúng sanh thiện ý chí cùng hòa hợp, cùng đi với chúng sanh thiện ý chí.

19) Này các Tỷ-kheo, tùy thuộc theo giới thời quá khứ, các chúng sanh đã cùng hòa hợp, đã cùng đi với nhau. Chúng sanh liệt ý chí đã cùng hòa hợp, cùng đi với chúng sanh liệt ý chí. Chúng sanh thiện ý chí đã cùng hòa hợp, cùng đi với chúng sanh thiện ý chí.

20) Này các Tỷ-kheo, tùy thuộc theo giới thời vị lai, các chúng sanh sẽ cùng hòa hợp, sẽ cùng đi với nhau. Chúng sanh liệt ý chí sẽ cùng hòa hợp, cùng đi với chúng sanh liệt ý chí. Chúng sanh thiện ý chí sẽ cùng hòa hợp, cùng đi với chúng sanh thiện ý chí.

21) Này các Tỷ-kheo, tùy thuộc theo giới hiện tại, các chúng sanh cùng hòa hợp, cùng đi với nhau. Chúng sanh liệt ý chí cùng hòa hợp, cùng đi với chúng sanh liệt ý chí. Chúng sanh thiện ý chí cùng hòa hợp, cùng đi với chúng sanh thiện ý chí.