Thứ Bảy, 4 tháng 8, 2007

No. 1501 NEW (Minh Châu dịch)

Ấn Độ: các nhà lập pháp

kêu gọi bảo vệ các pho tượng Phật cổ

The Hindu, ngày 29 tháng 7, 2007

Tamil Nadu, Ấn Độ -- Những thông báo của điạ phương cho biết một pho tượng Phật trong văn phòng chính phủ tại Ariyalur và nhiều tượng Phật tại Panruti vừa biến mất.

Có hai pho tượng Phật rất đẹp tại Thyaganur gần Salem nằm trên một cánh đồng lúa, và một pho tượng khác bên trong một cấu trúc đổ nát tại Peruncheri gần Mayiladuthurai.

Các chuyên gia nghiên cứu về Kỳ Na giáo và Phật giáo trong đó có D. Ravikumar, nhà lập pháp thuộc nhóm Dalit Panthers of India, ông Gandhirajan, chuyên gia về lịch sử nghệ thuật, cho biết một số các pho tượng Phật, tượng các ngài Adinatha và Mahavira còn nằm trên các cánh đồng trong những vùng khác nhau của Tamil Nadu, và họ yêu cầu chính quyền phải bảo vệ các pho tượng này.

Ông Ravikumar nói ‘Tất cả những pho tượng này sẽ dễ dàng là mục tiêu của các nhóm người chuyên trộm hình tượng Phật. Hiện chúng ta đang kỷ niệm 2550 năm từ ngày Phật nhập Niết Bàn. Chính quyền trung ương đã trao một ngân quỹ để dùng vào lễ kỷ niệm. Chính quyền Tamil Nadu nên xây cất những kiến trúc chung quanh để bảo vệ các pho tượng Phật và tượng ngài Mahavira’.

Cách đây 5 tháng, ông Gandhirajan đã tìm được một tượng Phật trang nhã, cách Ariyalur khoảng 10 cây số trên đoạn đường Ariyalur-Lalgudi thuộc Tamil Nadu.

Về tính chất mỹ thuật, đây là một tác phẩm điêu khắc quan trọng thuộc thế kỷ 11 trước Công nguyên. Ông Arunraj, Phó Quản lý Ban Khảo cổ, Viện Nghiên cứu Khảo cổ Ấn, và ông Gandhirajan đã tìm ra một tượng Phật chưa hoàn thành trong một ngọn đồi gần làng Balasamudram, gần Andipatti. Pho tượng này thuộc thế kỷ 11 trước Công nguyên. Theo ông Arunraj, tượng các vị thần Ấn giáo và các mảnh đồ gốm của thời đại Trung cổ cũng được tìm gặp gần đấy.

-----------------------------------------------------------------------------

No. 1502 NEW (Hạt Cát dịch)

Thái Lan: Đức Vua đối với Phật Giáo và Khoa Học

Bangkok - August 4, 2007 -- Công chúa Thái Lan Maha Chakri Sirindhorn hôm qua đã ca ngợi vua cha về việc thực hiện tốt đẹp một vai trò gương mẫu bằng cách áp dụng khoa học và Phật Giáo vào việc giúp đỡ cho dân chúng của Ngài.

Bà đề nghị thế hệ trẻ áp dụng các giới đức của giáo pháp Phạm trú trong đời sống họ.

Bà đã chủ toạ buổi khai mạc một hội nghị quốc tế về Phật Giáo và Khoa Học tại Đại Học Nghiên Cứu Tôn Giáo Mahidol University. Có 256 tu sĩ và cư sĩ từ 9 quốc gia tham dự hội nghị ba ngày này để kỷ niệm khánh thọ 80 của Đức Vua vào tháng 12 tới đây.

"Bà đã phát biểu trước tham dự viên rằng hội nghị rất thích đáng và sẽ giúp cho công chúng hiểu được rằng khoa học và Phật Giáo là những lực lượng hỗ trợ lẫn nhau và có thể cùng phối hợp với nhau", Phụ Giảng giáo sư giám đốc Đại học Pinit Ratanakul. kể lại như trên.

Ông kể thêm về lời phát biểu của công chúa "Đức Vua đã áp dụng cả hai lãnh vực Phật Giáo và khoa học trong việc mang lại hạnh phúc cho dân chúng qua các dự án, nhất là đức tính từ bi trong việc xoa dịu những nỗi thống khổ của dân chúng Ngài.

Cả hai lãnh vực đều quan trọng đối với sự nghiên cứu về tâm thức của nhân loại để mang lại sự nội an và tinh thần lành mạnh trên khuôn mặt một nếp sống hiện đại đầy rẫy những hỗn loạn, đổi thay".

Bà đề nghị giới trẻ hãy áp dụng các đức tính Phạm hạnh từ bi hỷ xả vào đời sống và diễn tả sự hài lòng rằng hội nghị cũng đã tổ chức các buổi thực hành thiền định, căn cứ theo lời ông Pinit.

Alan Wallace, giám đốc Viện Nghiên Cứu Tri Thức tại California, đã phát biểu rằng trong khi Phật pháp nhấn mạnh vào kinh nghiệm hơn là nguyên nhân, nó cũng nhắm vào ngyuên nhân hơn là sự mê tín và như thế thì Phật Giáo gần gũi với khoa học hơn những tôn giáo và các triết thuyết khác.

Ông nói thêm"Như Phật giáo có tất cả các tính chất của một tôn giáo nhắm vào đạo đức, quân bình và tự do tâm thức, nó có thể là một gạch nối giữa tôn giáo và khoa học"

Wallace nói nhiều người tin rằng Phật Giáo và khoa học không thể đi chung với nhau bởi vì Phật Giáo chú trọng về tâm thức và thiền định cùng với nhiều vấn đề phức tạp được ghi chép lại trong kinh sách cổ xưa.

Ông nói "Nhiều ngôi chùa, giống như viện bảo tàng, một nơi mà người ta đến để chụp hình mà không áp dụng các giáo lý trong đời sống hiện đại của họ. Nếu Phật giáo có thể được giảng giải trong cái nhìn của khoa học, làm cho nó gần gũi với đời sống người ta hơn, thế hệ trẻ sẽ càng tán dương giá trị của Phật pháp nhiều hơn".

Ông thúc đẩy chư tăng nên cởi mở trong viêc áp dụng khoa học và kỹ thuật trong việc giảng giải những nguyên lý, các giáo thuyết tôn giáo.

Thứ Sáu, 3 tháng 8, 2007


Nhật Hành

Ngày: 03 tháng 08 năm 2007

Giảng Sư: ĐĐ Pháp Đăng

Giảng Sư Điền khuyết: ...

Tri chúng: PT Bích Thu

Môn học:

Bài học: Bài "XII. Moliya Phagguna" hay "Một khía cạnh vô ngã" (Kinh Tương Ưng)


Vị Tăng hoặc Ni nói lời cầu nguyện đầu lớp học: ĐĐ Minh Hạnh

Xướng ngôn viên: Vo Thuong09, TN Nhu Nguyen, Dieu Nghiem (tin tức), Sangkhaly, và các Ops.
http://www.phapluan.net &
http://bandieuhanh.blogspot.com

Người mở room: Tinh Tan, Bich Thu.

Người mở nhạc và kinh tụng: Tinh Tan, Bich Thu.

Người hoán chuyển bài và làm banner cho Room: TN Nhu Nguyen.

Người post bài cho Room: NguonDucHanh, Mi Yoen (Các Ops đk).

Người gửi bài riêng cho chư Tăng: TN Nhu Nguyen, Bich Thu.

Trực room (op): Các Ops.

Thông báo (nếu có): Chị Upekha bận xin nghỉ phép.
Bài Đọc ngày Thứ Sáu của MC

Phần I: Lễ Tam Bảo, Phần này đọc sau khi dứt kinh tụng


Namo Buddhaya
Con ............. (................ điền khuyết) thành kính đảnh lễ Chư Tôn Ðức Tăng Ni, thân chào tất cả quí vị hiện diện. Hôm nay Thứ Sáu, ngày 03 tháng 08 năm 2007 Phật lịch 2551. Ðây là chương trình Phật Học trực tiếp thực hiện trên Paltalk mỗi ngày, giờ VN nhằm 7:30 đến 10:00 tối, giờ Houston 7:30 đến 10:00 sáng, giờ NY từ 8:30 đến 11:00 sáng, giờ Cali 5:30 đến 8:00 sáng, giờ Paris 2:30 đến 5:00 chiều, giờ Sydney 10:30 tối đến 1:00 sáng.

Kính thưa quý vị hôm nay lớp học do ĐĐ Pháp Đăng thuyết giảng Bài "XII. Moliya Phagguna" hay "Một khía cạnh vô ngã" trong Kinh Tương Ưng, với sự điều hợp của TT Tuệ Siêu. Chúng ta sẽ có chương trình tiếp theo là Chư Tăng thảo luận, Câu đố và kết thúc với bản tin Phật Giáo.

Mở đầu chương trình xin tất cả chúng ta trang nghiêm tam nghiệp đảnh lễ Tam Bảo.

Chúng con xin kính thỉnh Đại Đức Minh Hạnh đọc kinh Lễ Tam Bảo hôm nay. Namo Buddhaya.

(Đại Đức Minh Hạnh)

Nhất tâm đảnh lễ Ðức Như Lai bậc Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Ðiều Ngự, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.

Nhất tâm đảnh lễ Chánh Pháp do Phật thiện thuyết, thiết thực hiện tiền, vượt ngoài thời gian, đến để chứng nghiệm, hiệu năng hướng thượng, trí giả thân chứng.

Nhất tâm đảnh lễ Chư Tăng đệ tử Thế Tôn bậc diệu hạnh, trực hạnh, như lý hạnh, chân chánh hạnh, gồm bốn đôi tám vị, đáng nhận lễ phẩm, tặng phẩm, tế phẩm, kính lễ, là phước điền vô thượng trong đời.

Nguyện cầu uy đức Phật Bảo
Nguyện cầu uy đức Pháp Bảo
Nguyện cầu uy đức Tăng Bảo
Xin Tam Bảo gia hộ
Ngăn ngừa mọi tai ương
Những hiện tượng bất tường
Những mộng mị xấu xa
Những nghịch duyên trở ngại
Thảy đều mau tan biến
Nguyện muôn loài chúng sanh
Người khổ xin hết khổ
Người sợ hết sợ hãi
Người sầu hết sầu bi
Biết cho với niềm tin
Biết hộ trì giới hạnh
Biết lạc trú trong thiền
Chư thiên đã vân tập
Xin tùy hỷ phước lành
Ðược cát tường như ý
Rồi phản hồi thiên xứ
Chư Toàn Giác đại lực
Chư Ðộc Giác đại lực
Thinh Văn Giác đại lực
Nguyện tổng trì uy đức
Cầu phúc lành phát sanh (lạy)
*****************************
___________________________________________________

(Phần I (Tiếp theo): ............... (.............. điền khuyết) )

Kính tri ân Sư Minh Hạnh.
Kính bạch chư tôn đức
Kính thưa đại chúng

Bài Học hôm nay:


"XII. Moliya Phagguna" hay "Một khía cạnh vô ngã"

(Tương Ưng Bộ - Samyutta Nikaya)
____________

Chúng con kính cung thỉnh TT Tuệ Siêu từ bi dẫn nhập bài học hôm nay. Namo Buddhaya

Phần II:



A. Toát yếu bài kinh


Đức Thế Tôn dạy bài học này lúc ngài trú tai thành Sāvatthi. Ngài dạy về bốn loại thức ăn cho chúng sanh được tồn tại hay khiến cho các loại sắp sanh được thọ sanh. Bốn loại thức ăn đó là đoàn thực, xúc thực, tư niệm thực, và thức thực.

Khi được nghe như vậy, tôn giả Moliya Phagguna bạch với Đức Thế Tôn ai ăn thức thực ? Đức Thế Tôn trả lời câu hỏi ấy không thích hợp. Câu hỏi thích hợp phải là “Bạch Thế Tôn, thức thực là cho ai ?” và câu trả lời thích hợp sẽ là “Thức thực là duyên cho sự sanh thành, cho sự tái sanh trong tương lai. Khi cái ấy hiện hữu, có mặt, thời sáu xứ có mặt. Do duyên sáu xứ, xúc có mặt”.

Tôn giả Moliya Phagguna lại hỏi: “Bạch Thế Tôn, ai cảm xúc ?”. Đức Thế Tôn nói câu hỏi ấy không thích hợp và Ngài dạy câu hỏi thích hợp phải là: “Bạch Thế Tôn, do duyên gì xúc sanh khởi ?”. Câu trả lời thích hợp sẽ là: “Do duyên sáu xứ, xúc sanh khởi. Do duyên xúc, thọ sanh khởi”.

- Bạch Thế Tôn, ai cảm thọ ? Đức Thế Tôn vẫn dạy câu hỏi ấy không thích hợp. Câu hỏi thích hợp sẽ là: “Bạch Thế Tôn, do duyên gì thọ sanh khởi ?” và câu trả lời thích hợp sẽ như sau: “Do duyên xúc, thọ sanh khởi. Do duyên thọ, ái sanh khởi”.

- Bạch Thế Tôn, ai khát ái ? Câu hỏi vẫn không thích hợp. Câu hỏi thích hợp phải là: “Bạch Thế Tôn, do duyên gì ái sanh khởi ?” và câu trả lời thích hợp sẽ là: “Do duyên thọ, ái sanh khởi. Do duyên ái, thủ sanh khởi”.

- Bạch Thế Tôn ai chấp thủ ? Câu hỏi ấy không thích hợp, Thế Tôn bảo. Câu hỏi thích hợp sẽ là: “Bạch Thế Tôn, do duyên gì thủ sanh khởi ?” Câu trả lời thích hợp sẽ là: “Do duyên ái thủ sanh khởi. Do duyên thủ, hữu sanh khởi”.

Rồi ngài dạy Phagguna cách đoạn diệt toàn bộ các khổ uẩn.


Chúng con kính cung thỉnh ĐĐ Pháp Đăng từ bi thuyết giảng bài học hôm nay. Namo Buddhaya.



B. Xuất xứ và tên bài kinh

...

Trong Budsas:

http://www.zencomp.com/greatwisdom/uni/u-kinh-tuongungbo/tu4-42.htm


Nhân danh và địa danh

...



C. Thảo Luận

Những điểm chính của bài học hôm nay:

a. Cuộc sống là một diễn trình sanh diệt tiếp nối của vật chất và tâm thức.

b. Cách nói: Tôi nghĩ, tôi cảm thọ ... dùng theo ngôn ngữ thường thức nhưng nói chính xác thì "có cảm thọ nhưng không có ai cảm thọ".

c. Cũng từ cách nói "chủ quan": Tôi là, tôi cảm giác, tôi hành động ... tạo nên sự ngộ nhận về một bản ngã thể hiện và thực hiện những điều đó.

d. Tất cả sự hiện hữu của pháp hành vốn do nhiều nhân duyên tập thành không nên hiểu là chỉ có một yếu tố duy nhất.

5 câu thảo luận cho bài học hôm nay:

1. Ðức Phật dạy chúng ta nên thường tâm niệm: đây không phải là của ta, là ta, là tự ngã của ta. Thế nào là sự khác biệt giữa "không phải là ta" và "không phải là tự ngã của ta" ?

2. Có Pháp nào là "sở duyên" nhưng không là "năng duyên" ? và ngược lại, có Pháp nào là "năng duyên" mà không là "sở duyên" ?

3. Xin cho một câu Việt dịch thành ngữ: "do not take it personal" ?

4. Cho dù sai lầm thì cái nhìn chủ quan của ngã tính có hại gì ?

5. Giáo lý vô ngã được lãnh hội thế nào qua thiền định ?




D. Đố vui

...

________________________________________

Phần III:
Hồi Hướng này đọc khi kết thúc phần đố vui và giảng sư mời Pt MC lên hoàn mãn buổi học. Giới thiệu bài học hôm sau / Hồi Hướng (Tri Chúng lên hồi hướng)

Kính Bạch chư Tôn Đức,
Kính thưa quý đạo hữu,

Ngày mai chúng ta sẽ được nghe ĐĐ Pháp Tân thuyết giảng Bài I) Kinh Rắn (Sn 1) trong Kinh Tiểu Bộ, chúng con kính thỉnh ĐĐ Pháp Tân giới thiệu bài học ngày mai. Namo Buddhaya.

Sadhu! Sadhu ! Lành Thay!
Con .......... thay mặt đại chúng trong room, chúng con kính tri ân Chư Tôn Đức đã mở lòng bi mẫn giảng dạy Phật pháp hữu ích cho chúng con, đã hướng dẫn, dìu dắt chúng con tiến bước trên hành trình tu tập hầu mong đem lại an lạc trong đời sống và hướng đến đạo quả giải thoát luân hồi. Cám ơn đại chúng đã lắng tâm thanh tịnh thính pháp. Kính cám ơn quý chủ nhiệm, Ops, xướng ngôn viên đã yểm trợ cho các phần hành trong lớp học được hoàn tất mỹ mãn. Chúng con kính chúc chư Tôn Đức thân tâm thường lạc, đạo hạnh trang nghiêm, tâm bồ đề viên đắc, Phật đạo chóng viên thành, chúc quý đạo hữu luôn an lạc cát tường trong chánh pháp nhiệm màu của Đức từ phụ Thích Ca Mâu Ni.

Để kết thúc chương trình xin chúng ta nhất tâm hồi hướng.

Nguyện công đức đã làm
Kết duyên lành giải thoát
Nguyện hồi hướng chư thiên
Hàng thiện thần hộ pháp
Nguyện các bậc hữu ân
Ðồng thừa tư công đức
Nguyện chánh pháp trường tồn
Chúng sanh cầu giải thoát
Namo Buddhaya

mở kinh tụng và nhạc, (đóng room)

Kính thưa đại chúng, chương trình sinh hoạt hôm nay đến đây đã kết thúc. Ban điều hành room Diệu Pháp xin phép được đóng room trong vài giây tới. Kính chào tạm biệt tất cả, xin hẹn gặp lại quý vị ngày mai trong giờ thường lệ. Namo Buddhaya.
No. 1499 NEW (Minh Châu dịch)

Hoa Kỳ: lễ quy y của các tù nhân trại cải huấn

Ngày 31 tháng 7, 2007

Stafford Creek, Washington -- Trong những bộ thường phục, họ đứng thành hai hàng trước một bàn thờ được trang hoàng với một tấm vải lụa đỏ, một bình hương, một lọ hoa màu hồng và một cái chuông.

Một bức hình Phật được vẽ bằng bút chì màu, được tôn trí trước mặt những người đang phát nguyện nương tựa Ngài và thực hành lời dạy của Ngài hầu đạt đến sự giác ngộ.

Để trở thành Phật tử, những người này phải phát nguyện giữ gìn năm giới cấm. Những lời nguyện này không nên xem nhẹ bởi bất kỳ một ai, nhưng đây không phải là những con người bình thường, họ là tù nhân tại Trung Tâm Cải Huấn Stafford Creek ở phía Tây Nam của Aberdeen. Họ là những người đang sống đời tù tôi vì đã làm tổn hại kẻ khác.

Edward Moore, 30 tuổi, đã bắt đầu tu Phật từ 7 năm về trước, 6 năm đầu trong thời gian 18 năm tù. Anh nói rằng khi bị bắt vào tù lúc tuổi thiếu niên, anh đã rất ích kỷ và kiêu ngạo. Giống như các tù nhân khác, lúc nào anh cũng sẵn sàng gây chuyện. Nhưng đó chỉ là bề ngoài, trong nội tâm anh rất khổ sở. Anh nói ‘Đạo Phật đã cho tôi một cách nhìn mới. Đã khiến tôi khiêm tốn hơn ... Tôi thấy được con người thật của tôi và tôi cảm thấy hài lòng. Tôi được chấp nhận’.

Thật vậy, Thầy Nguyên Kim đến từ một ngôi chùa Việt Nam tại Olympia, đã nói rõ rằng đối với Phật giáo thì đau khổ phát sinh từ tham dục. Thầy đã khuyến khích các tù nhân hãy sống với lòng thương yêu, tình thân ái và sự tri ân. Thầy nói ‘Một người biết mở lòng ra để hiểu rõ hơn, đấy chính là đạo Phật. Hãy thay đổi cuộc đời của bạn...trở nên một người tốt, có thể một con người cao thượng, thì mọi người sẽ tôn trọng bạn’.

Thầy Nguyên Kim đứng giữa hai vị sư trong những bộ y màu đất son, sư Chakkrit Phonphai và sư Ratsamee Chutintharo, và trong trang phục màu đen là Scott Whitney, vài tháng trước đây vẫn còn là vị giáo sĩ của trại giam. Chư tăng xướng lên thời kinh tụng bằng ngôn ngữ riêng, thỉnh thoảng có dịch ra tiếng Anh.

Chỉ tụng niệm suông có lẽ không phải là điều có thể làm thay đổi một con người, nhất là các tu sĩ cũng có nói rằng đạo Phật là đạo để thực hành hơn là một tín ngưỡng.

George Nellans, một tù nhân khác, cho biết anh cảm thấy mình đã thay đổi qua việc hành trì. Ngay cả trong một môi trường đầy căng thẳng của trại giam, chút ít thiền tập cũng đem lại lợi ích. Anh nói ‘Tôi không thấy bị căng thẳng’.

Ngày lễ ‘Buddha Day’ nhằm kỷ niệm ngày Phật đản sanh, được tổ chức vào thứ năm tuần vừa qua đã qui tụ nhiều sắc dân, cũng là một sự kiện khác thường đối với một trại giam. Các tù nhân được mặc y phục thường với những màu sắc khác nhau và được chuyện trò với nhau.

‘Trong đạo Phật mọi người đến với nhau, và trong trại giam, người ta thường bị phân chia theo chủng tộc’, ông Arthur Longworth, 42 tuổi, cho biết như trên, ông đã là Phật tử từ 15 năm nay. Ông đã vào tù từ lúc 18 tuổi. Ông nói rằng lúc đó đạo Phật đã đi từ giai đoạn bị hiểu sai lầm do lòng hiếu kỳ cho đến khi được nhìn nhận là một tôn giáo.

Đây không những là một cơ hội cho các tù nhân mừng lễ, cuộc lễ kéo dài 7 giờ đồng hồ này cũng là một cơ hội cho họ được gặp mặt gia đình. Kriss Longworth là vợ của Arthur từ 13 năm nay, cho biết không phải dễ dàng gặp được chồng bà một cách hi hữu như thế này.

Bà Anna Padilla là mẹ của tù nhân Seraphim Padilla cho biết bà thật khổ sở khi có một đứa con bị ngồi tù. Bà nói ‘Không có ngày nào tôi không nghĩ đến điều này, và tôi không khóc’.

Thường khi đến thăm con, bà phải ngồi đối diện với con bà, ngăn cách nhau bởi một lớp kính an toàn, và phải dùng điện thoại để nói chuyện. Thứ năm vừa qua, không những bà được ngồi cạnh và sờ vào con, mà còn được ăn chung với con bà.

Bà Anna Padilla nói rằng bà cảm thấy hãnh diện khi con bà theo đạo Phật - cả bà và gia đình đều theo đạo Ki Tô giáo - để trở nên một con người biết định hướng, đã giúp anh có những dự định và theo dự các lớp học trong trại giam. Bà nói ‘Giờ đây tôi rất sung sướng’.

-----------------------------------------------------------------------------

No. 1500 NEW (Hạt Cát dịch)

Tu sĩ Phật Giáo đầu tiên

trong quân đội British-Gurkhas (Anh - Nepal ).

By Ang Chhiring Sherpa, Kantipur Online, Aug 2, 2007

KATHMANDU, Nepal -- Lần đầu tiên trong lịch sử gần 200 năm của quân đội British-Gurkhas (Anh - Nepal), tu sĩ Phật Giáo sẽ cử hành các nghi lễ tôn giáo cho quân đội Gurkha và thành viên trong gia đình của họ. Trước kia, chỉ có tu sĩ Ấn giáo mới được bổ nhiệm cho những mục đích tôn giáo.

Các tín đồ Phật Giáo trong quân đội than phiền rằng họ đã không thể tuân hành và thực hiện và các nghi lễ Phật giáo trong sự vắng bóng chư Tăng Phật Giáo " Chính quyền Anh cuối cùng đã đồng ý đáp ứng yêu cầu của họ". Giám Đốc Trung Tâm Cộng Đồng Phật Giáo, Ngài UK Kaji Sherpa đã thông báo qua điện thoại như trên và thêm "Chúng tôi yêu cầu 5 vị".

Tuy nhiên, chính phủ Anh Quốc chỉ đồng ý bổ nhiệm ba tu sĩ và trung tâm Phật Giáo đã yêu cầu thêm hai vị nữa.

Tiếp nhận sự kiện như một chuyển biến cụ thể, mặc dù là quá chậm, thành viên nhóm quân đội British-Gurkha, Pronjon Rai nói" "Đây là kết quả sự đấu tranh và áp lực của nhóm quân đội British-Gurkhas gồm đa số thành viên các cộng đồng bản xứ".

Truyền thống chỉ định tu sĩ Ấn Giáo dành cho các lễ hội truyền thống và thực hiện các nghi lễ tôn giáo trong các chùa Ấn giáo và tu viện Phật giáo trong các trại binh British-Gurkha là một truyền thống lâu đời cổ xưa.

Căn cứ theo các cựu quân nhân trong British-Gurkha, chính phủ Anh đã không bổ nhiệm các tu sĩ Phật Giáo vì Nepal là một quốc gia Ấn Giáo thời trước đó.

Khoảng 70% thành viên British-Gurkhas là Phật tử.

Theo tự điển Wikipedia, Gurkhas hay còn gọi là Gorkha, là người dân Nepal và một phần dân Bắc Ấn, người Nepal đã lấy tên của vị thánh Hindu Guru Gorakhnath, là một bậc anh hùng hồi thế kỷ thứ 8- làm biệt danh quốc gia. Người Gurkhas nổi tiếng nhất là lịch sử về sự can đảm và hùng mạnh trong quân đội British Army's Brigade of Gurkhas. Gorkha cũng là một trong 75 khu hành chánh của Nepal hiện đại.

Thứ Năm, 2 tháng 8, 2007


Nhật Hành

Ngày: 02 tháng 08 năm 2007

Giảng Sư: NS Liễu Pháp

Giảng Sư Điền khuyết: ...

Tri chúng: PT Anitya

Môn học:

Bài học: Bài 2. II. Thân (S.v,64) (Kinh Tương Ưng)

Vị Tăng hoặc Ni nói lời cầu nguyện đầu lớp học: ĐĐ Minh Hạnh

Xướng ngôn viên: Nhu Khanh, Vo Thuong09, Vo Bat Phi, Mi Yoen, Sangkhaly và Quý Ops.
http://www.phapluan.net/ &
http://bandieuhanh.blogspot.com

Người mở room: Nguon Duc Hanh / Anitya.

Người mở nhạc và kinh tụng: Nguon Duc Hanh / Anitya.

Người hoán chuyển bài, làm banner cho Room: Nguon Duc Hanh / Bich Thu.

Người post bài và clean room: Tinh Tan / Nhu Khanh.

Người gửi bài riêng cho chư Tăng: Nhu Khanh, Tinh Tan.

Trực room (op): Nhu Khanh, VoThuong, VoBatPhi, My Yoen, Sangkhaly và quý Ops.

Thông báo (nếu có): Chị Upekha bận xin nghỉ phép.
Bài Đọc ngày Thứ Năm của MC

Phần I: Lễ Tam Bảo, Phần này đọc sau khi dứt kinh tụng


Namo Buddhaya
Con ............. (................ điền khuyết) thành kính đảnh lễ Chư Tôn Ðức Tăng Ni, thân chào tất cả quí vị hiện diện. Hôm nay Thứ Năm, ngày 02 tháng 08 năm 2007 Phật lịch 2551. Ðây là chương trình Phật Học trực tiếp thực hiện trên Paltalk mỗi ngày, giờ VN nhằm 7:30 đến 10:00 tối, giờ Houston 7:30 đến 10:00 sáng, giờ NY từ 8:30 đến 11:00 sáng, giờ Cali 5:30 đến 8:00 sáng, giờ Paris 2:30 đến 5:00 chiều, giờ Sydney 10:30 tối đến 1:00 sáng.

Kính thưa quý vị hôm nay lớp học do NS Liễu Pháp thuyết giảng Bài 2. II. Thân (S.v,64) trong Kinh Tương Ưng, với sự điều hợp của TT Tuệ Siêu. Chúng ta sẽ có chương trình tiếp theo là Chư Tăng thảo luận, Câu đố và kết thúc với bản tin Phật Giáo.

Mở đầu chương trình xin tất cả chúng ta trang nghiêm tam nghiệp đảnh lễ Tam Bảo.

Chúng con xin kính thỉnh Đại Đức Minh Hạnh đọc kinh Lễ Tam Bảo hôm nay. Namo Buddhaya.

(Đại Đức Minh Hạnh)

Nhất tâm đảnh lễ Ðức Như Lai bậc Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Ðiều Ngự, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.

Nhất tâm đảnh lễ Chánh Pháp do Phật thiện thuyết, thiết thực hiện tiền, vượt ngoài thời gian, đến để chứng nghiệm, hiệu năng hướng thượng, trí giả thân chứng.

Nhất tâm đảnh lễ Chư Tăng đệ tử Thế Tôn bậc diệu hạnh, trực hạnh, như lý hạnh, chân chánh hạnh, gồm bốn đôi tám vị, đáng nhận lễ phẩm, tặng phẩm, tế phẩm, kính lễ, là phước điền vô thượng trong đời.

Nguyện cầu uy đức Phật Bảo
Nguyện cầu uy đức Pháp Bảo
Nguyện cầu uy đức Tăng Bảo
Xin Tam Bảo gia hộ
Ngăn ngừa mọi tai ương
Những hiện tượng bất tường
Những mộng mị xấu xa
Những nghịch duyên trở ngại
Thảy đều mau tan biến
Nguyện muôn loài chúng sanh
Người khổ xin hết khổ
Người sợ hết sợ hãi
Người sầu hết sầu bi
Biết cho với niềm tin
Biết hộ trì giới hạnh
Biết lạc trú trong thiền
Chư thiên đã vân tập
Xin tùy hỷ phước lành
Ðược cát tường như ý
Rồi phản hồi thiên xứ
Chư Toàn Giác đại lực
Chư Ðộc Giác đại lực
Thinh Văn Giác đại lực
Nguyện tổng trì uy đức
Cầu phúc lành phát sanh (lạy)
*****************************
___________________________________________________

(Phần I (Tiếp theo): ............... (.............. điền khuyết) )

Kính tri ân Sư Minh Hạnh.
Kính bạch chư tôn đức
Kính thưa đại chúng

Bài Học hôm nay:


2. II. Thân (S.v,64)

(Tương Ưng Bộ - Samyutta Nikaya)
____________

Chúng con kính cung thỉnh TT Tuệ Siêu từ bi dẫn nhập bài học hôm nay. Namo Buddhaya


Phần II:



A. Toát yếu bài kinh


Một thời Đức Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi. Đức Thế Tôn dạy chư Tỳ Kheo:

“Ví như, này các Tỷ-kheo, cái thân này y cứ món ăn, duyên món ăn được an trú; không có món ăn thì không an trú. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, năm triền cái y cứ món ăn, duyên món ăn được an trú; không có món ăn thì không an trú”.

1- Món ăn đối với dục tham (kāmacchanda) là tịnh tướng (subhanimittam);

2- Món ăn đối với sân là đối ngại tướng (patighanimittam);

3- Món ăn đối với hôn trầm thụy miên là sự không hân hoan, biếng nhác (tandi), uể oải (vijambhitā), ăn quá no, tâm rụt rè (lināttam);

4- Món ăn đối với trạo hối là tâm không được định chỉ;

5- Món ăn đối với nghi là những pháp làm trú xứ cho nghi hoặc.

Vì phi như lý tác ý nên các món ăn khiến cho dục tham, sân, hôn trầm thụy miên, trạo hối và nghi chưa sanh bị sanh khởi, hoặc đã sanh làm cho tăng trưởng.

Chúng con kính cung thỉnh NS Liễu Pháp từ bi thuyết giảng bài học hôm nay. Namo Buddhaya.



B. Xuất xứ và tên bài kinh

...

Trong Budsas:

http://www.budsas.org/uni/u-kinh-tuongungbo/tu5-46a.htm


Nhân danh và địa danh

...



C. Thảo Luận

Những điểm chính của bài học hôm nay:

a. Tất cả hiện tượng của thân hay tâm đều có yếu tố trưởng dưỡng.

b. Người tu tập cần biết thực tướng và nhân sanh của năm Pháp ngăn ngại tinh thần: Tham dục, sân hận, hôn thụy, hoài nghi, phóng dật.

c. Nhân sanh tham là “tịnh tướng” nhân sanh sân là “không khéo tác ý với đối ngại tướng”; nhân sanh hôn thụy là không tiết chế trong ẩm thực; nhân sanh phóng dật là không tịnh chỉ; nhân sanh hoài nghi là những trú xứ làm nghi sanh khởi.

d. “Như lý tác ý” đóng vai trò quan trọng giúp hành giả chế ngự năm triền cái.

5 câu thảo luận cho bài học hôm nay:

1. Chữ “Tịnh tướng” dùng trong kinh có ý nghĩa tiêu cực hay tích cực ?

2. Ðối ngại tướng có nhất thiết làm nguyên nhân sanh tâm sân không ?

3. Ẩm thực thực thế nào làm giảm thiểu hôn trầm thụy miên ?

4. Trú xứ nào tâm sanh khởi nghi hoặc ?

5. Nếu một người không hành thiền có cách nào giảm thiểu phóng tâm không ?




D. Đố vui

1. Ðối với một hành giả tu tập khi phiền não sanh khởi thì vị này nên thấy nguyên nhân nào dưới đây:

a. Ngoại cảnh.
b. Người chung quanh.
c. Không như lý tác ý.
d. Pháp tu không thích hợp.

________________________________________

Phần III:
Hồi Hướng này đọc khi kết thúc phần đố vui và giảng sư mời Pt MC lên hoàn mãn buổi học. Giới thiệu bài học hôm sau / Hồi Hướng (Tri Chúng lên hồi hướng)

Kính Bạch chư Tôn Đức,
Kính thưa quý đạo hữu,

Ngày mai chúng ta sẽ được nghe ĐĐ Pháp Đăng thuyết giảng Bài XII. Moliya Phagguna trong Kinh Tương Ưng, chúng con kính thỉnh ĐĐ Pháp Đăng giới thiệu bài học ngày mai. Namo Buddhaya.

Sadhu! Sadhu ! Lành Thay!
Con .......... thay mặt đại chúng trong room, chúng con kính tri ân Chư Tôn Đức đã mở lòng bi mẫn giảng dạy Phật pháp hữu ích cho chúng con, đã hướng dẫn, dìu dắt chúng con tiến bước trên hành trình tu tập hầu mong đem lại an lạc trong đời sống và hướng đến đạo quả giải thoát luân hồi. Cám ơn đại chúng đã lắng tâm thanh tịnh thính pháp. Kính cám ơn quý chủ nhiệm, Ops, xướng ngôn viên đã yểm trợ cho các phần hành trong lớp học được hoàn tất mỹ mãn. Chúng con kính chúc chư Tôn Đức thân tâm thường lạc, đạo hạnh trang nghiêm, tâm bồ đề viên đắc, Phật đạo chóng viên thành, chúc quý đạo hữu luôn an lạc cát tường trong chánh pháp nhiệm màu của Đức từ phụ Thích Ca Mâu Ni.

Để kết thúc chương trình xin chúng ta nhất tâm hồi hướng.

Nguyện công đức đã làm
Kết duyên lành giải thoát
Nguyện hồi hướng chư thiên
Hàng thiện thần hộ pháp
Nguyện các bậc hữu ân
Ðồng thừa tư công đức
Nguyện chánh pháp trường tồn
Chúng sanh cầu giải thoát
Namo Buddhaya

mở kinh tụng và nhạc, (đóng room)

Kính thưa đại chúng, chương trình sinh hoạt hôm nay đến đây đã kết thúc. Ban điều hành room Diệu Pháp xin phép được đóng room trong vài giây tới. Kính chào tạm biệt tất cả, xin hẹn gặp lại quý vị ngày mai trong giờ thường lệ. Namo Buddhaya.
No. 1496 NEW (Minh Châu dịch)

Tây Tạng: Unesco lo ngại trước sự phát triển

thương mại quanh Cung Điện Potala

Ngày 30 tháng 7, 2007

Lhasa, Tây Tạng -- Các viên chức điều hành Cung Điện Potala của Tây Tạng tại Lhasa đã phủ nhận những mối lo cung điện 1300 năm tuổi này đang bị vây quanh bởi các cơ sở hiện đại đáng sợ của Trung Quốc.

Viên quản lý cung điện Qiangba Gesang nói rằng chính phủ Trung Quốc đã cố gắng bảo vệ nơi an dưỡng vào mùa Đông trước đây của các vị Lạt ma cũng như khu vực chung quanh.

Unesco đã tỏ ra lo ngại sự phát triễn chung quanh cung điện sẽ phá đi khung cảnh đặc thù của khu vực này.

Cung điện Potala đã được liệt vào Danh Sách Di sản Quốc Tế của Unesco vào năm 1994.

Trong số những cung điện và cơ sở khác, cung điện Potala nằm trên một đỉnh đồi nhìn xuống toàn Thung lũng Lhasa, cách mặt biển 3700 mét.

Ông Qiangba Gesang cho biết đây không phải là lần đầu tiên Unesco tỏ ra quan tâm. Ông nói với đài BBC rằng vào năm 2002 Unesco đã nhận được những lời than phiền cho rằng sự phát triễn của ngành thương mại chung quanh đã phá đi nét đặc trưng của cung điện. Chính quyền đã ban lệnh cho các cơ sở chung quanh Cung điện Potala không được xây cất cao hơn 21 mét.

Unesco cũng đã lo ngại về các vật liệu được dùng vào việc chỉnh trang cấu trúc bằng gỗ và đất này. Các vật liệu cổ truyền và kỹ thuật thiện xảo của Tây Tạng hằng được xử dụng trong việc tu sửa cung điện, quản lý Qiangba Gesang cho biết thêm, ông đã làm việc tại đây từ 19 năm qua. Ông nói rằng chính quyền trung ương đã cấp 170 triệu yuan (tương đương 22 triệu Mỹ kim, 11 triệu Anh kim) vào năm 2002 vào ngân quỹ công trình tái thiết.

Những biện pháp khác cũng đã được đề ra để đảm bảo cung điện không bị hư hoại bởi số lượng du khách đến viếng Tây Tạng cứ tăng lên hàng năm.

Đã có thêm 30% du khách đến Cung điện Potala từ khi có tuyến đường xe lửa nối liền Lhasa và những nơi khác của Trung Quốc, được khai mở từ tháng 7 năm ngoái.

Ông Qiangba Gesang cho biết hiện nay chỉ có 2,300 du khách được vào thăm cung điện mỗi ngày, mặc dù không có sự giới hạn đối với số du khách người Tây Tạng.

Tuy nhiên, bất kể lời dẫn giải của ông, cung điện Potala đang bị vây quanh bởi các cửa hàng, cơ quan và tiệm ăn trong những năm gần đây.

Có một cửa hàng bán thảm dệt bằng tay ngay phía dưới cung điện, đã có được số khách hàng đông nhất vào tháng 7 và tháng 8.

Trước kia cung điện hoàn toàn cách biệt với thành phố cổ Lhasa.

Ông Qiangba Gesang giải thích: ‘Chủ nghĩa thương mại là một hiện tượng trải rộng khắp toàn cầu. Nếu không có kinh doanh thì sẽ không có các thành phố’.

Cung điện Potala chỉ là một trong sáu địa điểm có tính cách di sản quốc tế tại Trung Quốc mà Unesco đang quan tâm. Những nơi khác gồm có Tử Cấm Thành tại Bắc Kinh và thành phố cổ Lijiang trong vùng Tây Nam của Tỉnh Vân Nam.

-----------------------------------------------------------------------------

No. 1498 NEW (Hạt Cát dịch)

Thiếu Lâm Tự nỗ lực

bảo vệ thương hiệu "Shaolin" bị lạm dụng

PTI, Aug 1, 2007

Đăng Phong, Trung Quốc -- Chư Tăng thuộc ngôi chùa nổi tiếng Thiếu Lâm, ngôi chùa được thành lập năm 495 sau Tây Lịch, đang nỗ lực phản đối chuyện gia tăng lạm dụng thương hiệu, danh hiệu "Thiếu Lâm" bởi những nhà buôn vô lương tâm. ngay cả ở Ấn Độ, cho mục tiêu thương mại.

"Đó là trách nhiệm lịch sử mà chúng tôi phải bảo vệ và làm trẻ trung văn hóa độc đáo của Thiếu Lâm". Thích Vĩnh Tân, Trụ Trì Thiếu Lâm hiện nay, ngôi chùa ẩn mình dưới chân ngọn núi thiêng Tung Sơn, nói như trên.

Thiếu Lâm Tự được nhìn nhận là nơi khai sinh Quyền Thuật Thiếu Lâm một cách rộng rãi, một kết hợp độc đáo giữa Phật pháp và võ thuật Trung Quốc đã phát triển thành môn võ Kung Fu.

Ngôi chùa Phật Giáo nổi tiếng bởi hàng tá bộ phim về võ thuật - Kung Fu, đã đăng ký danh hiệu "Shaolin" và "Shaolin Temple" như là một thương hiệu với Bộ Thương Mại và Kỹ Nghệ của chính phủ Trung Quốc, vị trụ trì nói như trên, chùa cũng đã thành lập một công ty chuyên lo việc bảo vệ danh dự ngôi chùa và ngăn cản sự lạm dụng thương hiệu này trong cách hoạt động thương mại"

"Chúng tôi đã đăng ký thương hiệu Thiếu Lâm của chúng tôi với nhiều quốc gia ngoại quốc, kể cả Ấn Độ", Sư Vĩnh Tân nói. Sư Vĩnh Tân đã đến viếng Ấn Độ hồi năm 1995 và đã dứt khoát rõ ràng khi được hỏi về sự gia tăng lạm dụng thương hiệu "Shaolin".

"Chúng tôi sẽ có thái độ thích đáng đối với những ai lạm dụng thương hiệu Shaolin cho mục đích thương mại mà không có sự đồng ý của chúng tôi".

Sư Vĩnh Tân trở thành vị trụ trì chùa Thiếu Lâm năm 1999. Nắm vững quan hệ của chùa Thiếu Lâm và Ấn Độ, Sư nhấn mạnh rằng Trung Quốc và Ấn Độ, cả hai đều có những nền văn minh cổ đại, là quốc gia láng giềng với những giao lưu thân tình đã có từ thời cổ đại.

Ngôi chùa được thành lập năm 495 sau Tây Lịch. Là một tín đồ Phật Giáo, Nguỵ Hiếu Văn Đế sùng kính Ngài Buddhabhadra, Phiên âm Hán Bạt Đà - Batuo, vị Sư người Ấn đến truyền bá giáo pháp Nguyên Thủy tại Lạc Dương, Hiếu Văn Đế ra lệnh xây dựng ngôi chùa Thiếu Lâm này để Ngài Bạt Đà lưu trú và trở thành vị sư trụ trì lỗi lạc đầu tiên của chùa Thiếu Lâm.

Thứ Tư, 1 tháng 8, 2007


Nhật Hành

Ngày: 01 tháng 08 năm 2007

Giảng Sư: TT Tuệ Siêu

Giảng Sư Điền khuyết: ...

Tri chúng: PT Tinh Tấn

Môn học:

Bài học: Bài 03. Thừa Tự Pháp (Kinh Trung Bộ)


Vị Tăng hoặc Ni nói lời cầu nguyện đầu lớp học: ĐĐ Minh Hạnh

Xướng ngôn viên: Lang Gia Nguyet, Nguon Duc Hanh, Duong Tieu (tin tức), Bich Thu, Vo Bat Phi.
http://www.phapluan.net &
http://bandieuhanh.blogspot.com

Người mở room: Bich Thu (các Ops đk).

Người mở nhạc và kinh tụng: Bich Thu (các Ops đk).

Người hoán chuyển bài cho Room: Lang Gia Nguyet.

Người post bài cho Room: Bich Thu / Nguon Duc Hanh (các Ops đk).

Người gửi bài riêng cho chư Tăng: Bich Thu / Nguon Duc Hanh (các Ops đk).

Trực room (op): Các Ops.

Thông báo (nếu có): Chị Upekha bận xin nghỉ phép.
Bài Đọc ngày Thứ Tư của MC

Phần I: Lễ Tam Bảo, Phần này đọc sau khi dứt kinh tụng


Namo Buddhaya
Con ............. (................ điền khuyết) thành kính đảnh lễ Chư Tôn Ðức Tăng Ni, thân chào tất cả quí vị hiện diện. Hôm nay Thứ Tư, ngày 01 tháng 08 năm 2007 Phật lịch 2551. Ðây là chương trình Phật Học trực tiếp thực hiện trên Paltalk mỗi ngày, giờ VN nhằm 7:30 đến 10:00 tối, giờ Houston 7:30 đến 10:00 sáng, giờ NY từ 8:30 đến 11:00 sáng, giờ Cali 5:30 đến 8:00 sáng, giờ Paris 2:30 đến 5:00 chiều, giờ Sydney 10:30 tối đến 1:00 sáng.

Kính thưa quý vị hôm nay lớp học do TT Tuệ Siêu thuyết giảng Bài 03. Thừa Tự Pháp trong Kinh Trung Bộ, với sự điều hợp của TT Giác Đẳng. Chúng ta sẽ có chương trình tiếp theo là Chư Tăng thảo luận, Câu đố và kết thúc với bản tin Phật Giáo.

Mở đầu chương trình xin tất cả chúng ta trang nghiêm tam nghiệp đảnh lễ Tam Bảo.

Chúng con xin kính thỉnh Đại Đức Minh Hạnh đọc kinh Lễ Tam Bảo hôm nay. Namo Buddhaya.

(Đại Đức Minh Hạnh)

Nhất tâm đảnh lễ Ðức Như Lai bậc Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Ðiều Ngự, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.

Nhất tâm đảnh lễ Chánh Pháp do Phật thiện thuyết, thiết thực hiện tiền, vượt ngoài thời gian, đến để chứng nghiệm, hiệu năng hướng thượng, trí giả thân chứng.

Nhất tâm đảnh lễ Chư Tăng đệ tử Thế Tôn bậc diệu hạnh, trực hạnh, như lý hạnh, chân chánh hạnh, gồm bốn đôi tám vị, đáng nhận lễ phẩm, tặng phẩm, tế phẩm, kính lễ, là phước điền vô thượng trong đời.

Nguyện cầu uy đức Phật Bảo
Nguyện cầu uy đức Pháp Bảo
Nguyện cầu uy đức Tăng Bảo
Xin Tam Bảo gia hộ
Ngăn ngừa mọi tai ương
Những hiện tượng bất tường
Những mộng mị xấu xa
Những nghịch duyên trở ngại
Thảy đều mau tan biến
Nguyện muôn loài chúng sanh
Người khổ xin hết khổ
Người sợ hết sợ hãi
Người sầu hết sầu bi
Biết cho với niềm tin
Biết hộ trì giới hạnh
Biết lạc trú trong thiền
Chư thiên đã vân tập
Xin tùy hỷ phước lành
Ðược cát tường như ý
Rồi phản hồi thiên xứ
Chư Toàn Giác đại lực
Chư Ðộc Giác đại lực
Thinh Văn Giác đại lực
Nguyện tổng trì uy đức
Cầu phúc lành phát sanh (lạy)
*****************************
___________________________________________________

(Phần I (Tiếp theo): ............... (.............. điền khuyết) )

Kính tri ân Sư Minh Hạnh.
Kính bạch chư tôn đức
Kính thưa đại chúng

Bài Học hôm nay:


03. Thừa Tự Pháp

(Trung Bộ Kinh - Majjhima Nikaya)
____________

Chúng con kính cung thỉnh TT Giác Đẳng từ bi dẫn nhập bài học hôm nay. Namo Buddhaya

Phần II:



A. Toát yếu bài kinh

Một thời Đức Thế Tôn ngự ở thành Xá Vệ, tại Kỳ Đà Lâm, vườn ông Cấp Cô Độc, ngài dạy các Tỷ kheo như sau:

- Này các Tỷ kheo, hãy là người thừa tự Pháp của ta, đừng là người thừa tự tài vật. Nếu các Ngươi là những người thừa tự tài vật thì người ta sẽ nói: “Cả thầy và trò đều là những người thừa tự tài vật, không phải là những người thừa tự Pháp”.

- Nếu các ngươi là những người thừa tự Pháp của ta, không phải là những người thừa tự vật, thời người ta sẽ nói: “Cả thầy và trò đều là những người thừa tự Pháp, không phải là những người thừa tự vật”.

Đức Thế Tôn nghĩ: “Làm sao những đệ tử của ta là những người thừa tự Pháp của ta, không phải là những người thừa tự tài vật ?” Ngài bèn đưa ra thí dụ một thời ta ăn đã xong, đồ ăn tàn thực của ta đáng được quăng bỏ. Khi ấy có hai Tỷ kheo đến, đói lả và kiệt sức. Tỷ kheo thứ nhất có thể nghĩ rằng đây là tàn thực của Đức Thế Tôn, đáng được quăng bỏ, nếu ta không ăn thì Đức Thế Tôn sẽ quăng bỏ. Nhưng Đức Thế Tôn có dạy: “Này các Tỷ kheo, hãy là người thừa tự Pháp của ta, đừng là người thừa tự tài vật”. Rồi vị Tỷ kheo không ăn tàn thực ấy dù phải trải qua đêm ngày ấy đói lả và kiệt sức.

Vị Tỷ kheo thứ hai lại nghĩ nếu ta không dùng tàn thực ấy, Đức Thế Tôn cũng sẽ quăng bỏ, vậy ta hãy ăn loại đồ ăn này, trừ bỏ đói lả và kiệt sức.

Qua hai thí dụ trên, Đức Thế Tôn dạy vị Tỷ kheo thứ nhất đáng được kính nể hơn vì với sở hành như thế, trong một thời gian lâu ngày, vị Tỷ kheo ấy sẽ ít dục, biết đủ, khổ hạnh, dễ nuôi dưỡng, tinh cần, tinh tấn. Do vậy, này các Tỷ kheo, hãy là người thừa tự Pháp của ta, đừng là người thừa tự tài vật. Thuyết giảng như vậy xong, Thế Tôn từ chỗ ngồi đứng dậy, đi vào tịnh xá. Sau khi Đức Thế Tôn rời khỏi giảng đường, tôn giả Xá Lợi Phất liền giảng rộng đề tài này cho các Tỷ kheo nghe.

- Nếu Vị Đạo sư sống viễn ly mà các đệ tử Thượng Tọa Tỷ kheo, các đệ tử Trung Tọa Tỷ kheo, và các đệ tử mới thọ Tỷ kheo không học viễn ly, sẽ rơi vào ba trường hợp đáng bị quở trách: Vị đạo sư sống viễn ly, các đệ tử không tùy học viễn ly; những pháp nào vị Đạo sư dạy nên từ bỏ, những pháp ấy họ không từ bỏ; và họ sống đầy đủ, lười biếng, dẫn đầu về đọa lạc, bỏ rơi gánh nặng viễn ly.

- Ngược lại có ba trường hợp đáng được tán thán với các đệ tử Thượng Tọa Tỷ kheo, các đệ tử Trung Tọa Tỷ kheo, và các đệ tử mới thọ Tỷ kheo là: Vị Đạo sư sống viễn ly, các đệ tử tùy học viễn ly; những Pháp nào vị Đạo sư dạy nên từ bỏ, những pháp ấy họ từ bỏ; và họ không sống trong sự đầy đủ, không lười biếng, họ bỏ rơi gánh nặng về đọa lạc và dẫn đầu về viễn ly.

- Các ác pháp như tham và sân có một con đường trung đạo để diệt trừ là con đường Thánh đạo tám ngành. Các ác pháp như phẫn nộ, hiềm hận, giả dối, não hại, tật đố, xan lẫn, man trá, phản bội, ngoan cố, bồng bột, nông nỗi, mạn tăng thượng mạn, kiêu, phóng dật cũng có một con đường trung đạo để diệt trừ là con đường Thánh đạo tám ngành.

Tôn giả Xá Lợi Phất thuyết giảng như vậy, các Tỷ kheo vô cùng hoan hỷ, tín thọ lời giảng của ngài.

Chúng con kính cung thỉnh TT Tuệ Siêu từ bi thuyết giảng bài học hôm nay. Namo Buddhaya.



B. Xuất xứ và tên bài kinh

...

Trong Budsas:

http://www.budsas.org/uni/u-kinh-trungbo/trung03.htm


Nhân danh và địa danh

...



C. Thảo Luận

Những điểm chính của bài học hôm nay:

a. Chánh Pháp được Đức Phật tuyên thuyết chính là tài sản cao quí nhất.

b. Ðệ tử Phật nên thừa tự Pháp Bảo chứ không nên là người thừa tự tài vật.

c. Những gì Đức Phật trao truyền không những chỉ có Phật ngôn mà còn có Phật hạnh.

d. Bát chánh đạo là con đường được Đức Phật dạy. Tham, sân, phiền não là con đường nên tránh.

5 câu thảo luận cho bài học hôm nay:

1. Trong thí dụ về thái độ của 2 tỳ kheo: Một ăn thực phẩm còn lại của Đức Phật, một không ăn. Tại sao không nói rằng vị quyết định ăn tàn thực là vị thực tế hơn vì nhờ ăn mới sống và tu được ?

2. Ðạo Phật chú trọng giá trị tinh thần (Pháp bảo). Phải chăng vì thế khiến Ðạo Phật trở nên nghèo (về vật chất) ?

3. Ngày nay nhiều đạo giáo dùng vật chất làm phương tiện đưa người ta vào đạo. Ðiều đó tốt chăng nếu áp dụng với Phật Pháp ?

4. Phải chăng Pháp được thừa tự ở đây là điều để thực hành (như Bát chánh đạo) ?

5. Khi nói: Bậc Ðạo sư sống viễn ly, đệ tử cũng tùy học viễn ly. Bậc Ðạo sư ở đây chỉ cho tất cả thầy tổ hay đặc biệt chỉ cho Đức Phật ?




D. Đố vui

1. Tại sao Đức Phật dạy những đệ tử nên là người thừa tự Pháp hơn là người thừa tự tài vật ?

a. Vật chất thường làm cho người thối đọa trong khi Pháp bảo là điều kiện thăng tiến tinh thần.
b. Vật chất không có giá trị truyền lại nhiều đời nhưng Pháp bảo thì được.
c. Thừa tự Pháp bảo tạo thành một hình ảnh đẹp của Ðạo Phật.
d. Ba câu trên đều đúng.

2. Gọi là thừa tự Pháp thì người nào dưới đây được gọi là "chân truyền" ?

a. Người học nhiều kinh điển.
b. Người thực hành giới, định, tuệ.
c. Người mở mang chùa chiền.
d. Người ủng hộ Phật Pháp.

________________________________________

Phần III:
Hồi Hướng này đọc khi kết thúc phần đố vui và giảng sư mời Pt MC lên hoàn mãn buổi học. Giới thiệu bài học hôm sau / Hồi Hướng (Tri Chúng lên hồi hướng)

Kính Bạch chư Tôn Đức,
Kính thưa quý đạo hữu,

Ngày mai chúng ta sẽ được nghe NS Liễu Pháp thuyết giảng Bài 2. II. Thân (S.v,64) trong Kinh Tương Ưng, chúng con kính thỉnh NS Liễu Pháp giới thiệu bài học ngày mai. Namo Buddhaya.

Sadhu! Sadhu ! Lành Thay!
Con .......... thay mặt đại chúng trong room, chúng con kính tri ân Chư Tôn Đức đã mở lòng bi mẫn giảng dạy Phật pháp hữu ích cho chúng con, đã hướng dẫn, dìu dắt chúng con tiến bước trên hành trình tu tập hầu mong đem lại an lạc trong đời sống và hướng đến đạo quả giải thoát luân hồi. Cám ơn đại chúng đã lắng tâm thanh tịnh thính pháp. Kính cám ơn quý chủ nhiệm, Ops, xướng ngôn viên đã yểm trợ cho các phần hành trong lớp học được hoàn tất mỹ mãn. Chúng con kính chúc chư Tôn Đức thân tâm thường lạc, đạo hạnh trang nghiêm, tâm bồ đề viên đắc, Phật đạo chóng viên thành, chúc quý đạo hữu luôn an lạc cát tường trong chánh pháp nhiệm màu của Đức từ phụ Thích Ca Mâu Ni.

Để kết thúc chương trình xin chúng ta nhất tâm hồi hướng.

Nguyện công đức đã làm
Kết duyên lành giải thoát
Nguyện hồi hướng chư thiên
Hàng thiện thần hộ pháp
Nguyện các bậc hữu ân
Ðồng thừa tư công đức
Nguyện chánh pháp trường tồn
Chúng sanh cầu giải thoát
Namo Buddhaya

mở kinh tụng và nhạc, (đóng room)

Kính thưa đại chúng, chương trình sinh hoạt hôm nay đến đây đã kết thúc. Ban điều hành room Diệu Pháp xin phép được đóng room trong vài giây tới. Kính chào tạm biệt tất cả, xin hẹn gặp lại quý vị ngày mai trong giờ thường lệ. Namo Buddhaya.

Thứ Ba, 31 tháng 7, 2007

No. 1495 NEW (Hạt Cát dịch)

Chính phủ Nepal bị lên án

có thành kiến với Đại Học Siddhartha

Gorkhapatra, July 30, 2007

KATHMANDU, Nepal -- Viện Trưởng Siddhartha University, Dr. Vichhu Sunanda Mahasthabir đã khiếu nại rằng chính phủ đã không phúc đáp cho sự kêu gọi phê chuẩn cho phép Viện Đại Học hoạt động.

Ngôi trường đã đệ trình đơn từ xin phép đến cho Bộ sau khi hoàn tất mọi yêu cầu cần thiết từ 10 năm trước cho việc được thừa nhận chính thức.

Ngôi trường cũng đã duy trì mối quan hệ thư từ thích đáng với bộ. Bỏ qua sự thực đã được kể trên, bộ đã không phúc đáp cho thỉnh cầu thành khẩn của ngôi trường, viện trưởng phát biểu trong một bài tường trình.

Gần một năm trước, ngôi trường đã đệ trình lên một lá đơn xin thảo luận với Bộ Giáo Dục và Bộ Thể Thao nhưng ngôi trường chưa bao giờ nhận được bất cứ quyết định cụ thể nào từ bộ, trong khi những ngôi trường khác, dù đệ đơn trễ hơn cũng đã chính thức được phép hoạt động. Văn bản thỉnh nguyện thư đã được gửi tới cho bộ, như khi bộ đã không phúc đáp cho những yêu cầu khẩu ngữ.

Mới hai tháng trước, ngôi trường đã gửi một lá đơn yêu cầu công lý đến phát ngôn viên của Hội Đồng Quản Trị Lâm Thời. Căn cứ theo lá đơn, nhà trường lẽ ra đã nhận được giấy phép để bắt đầu mở màn với các khoá học dựa trên các điều khoản pháp lý hiện hành.

Ngay cả các điều khoản lập pháp của cơ quan lập pháp quốc hội cũng đã được Nhà trường cũng đã đệ trình lên cho bộ để hối thúc việc phê chuẩn. Nhà trường đã lên án Bộ Giáo Dục là đã kỳ thị đối với lá đơn xin phép đã giữ lại Bộ trong 10 năm qua nằm không chờ đợi hợp thức hóa.

Nhà trường lên án bộ giáo dục đã kỳ thị nhà trường, ngôi trường cống hiến chương trình giáo dục dựa theo căn bản Phật Pháp cho cộng đồng Phật Giáo, mặc dù trên thực tế Đức Phật đã được sinh ra ở Nepal, bản tường trình cho biêt như trên.

Nhà trường cũng đã gửi đi một lá đơn thứ hai trong hai tháng trước.

Mặc dù nhà trường đã đệ trình một vài đơn từ văn bản và đồng thời thỉnh cầu bằng khẩu ngữ cho sự được thừa nhận chính thức, nhà trường vẫn chưa nhận được bất cứ phúc đáp nào của bộ.

Một bức thư của bộ Giáo Dục đã được chuyển đến cho Dr. Mahasthabir, tuy nhiên, bức thư nói rằng quyết định của một cấp bộ phải mất hơn hai tháng mới bắt đầu tiến hành phê chuẩn cho ngôi trường sau khi đơn từ dưới sự cứu xét của quốc hội được thông qua.

-----------------------------------------------------------------------------

No. 1496 NEW (Nhã Uyên dịch)

Mã Lai: Chùa Phật Giáo Chetawan

tổ chức lễ kỷ niệm 50 năm

By TAN KARR WEI
Photo by NORAFIFI EHSAN

Chương trình bao gồm Tụng kinh cầu nguyện, Giảng pháp, cúng dường thực phẩm đến chư tăng.

Mặc dù trời mưa rất to nhưng những người Phật tử thuần thành vẫn háo hức tham dự buổi lễ Kỷ niệm 50 năm của Chùa Chetawan ở Jalan Pantai, Petaling Jaya.

Trong dịp kỷ niệm này đã diễn ra các hoạt động như Tụng kinh cầu nguyện, giảng pháp, lễ đặt bát hội, chiếu phim về cuộc đời của Đức Phật và chiến dịch hiến máu nhân đạo.

Như là một phần đóng góp cho chương trình kỷ niệm, Phó Bộ Trưởng Bộ Nội Vụ, Ông Datuk Tan Chai đã chính thức khai mạc Thiền đường và Chánh điện vừa mới được tu sửa lại.

Ông Tan chúc mừng Vị sư Trụ trì Phrakhru Sophitchariyaphorn và hội đồng trị sự chùa về sự thành công trong những hoạt động trong thời gian vừa qua.

Ông Tan cũng nói thêm rằng một con người thì nên luyện tập tính kiên nhẫn, sự chịu đựng và thông cảm lẫn nhau khi sống trong một thế giới đa chủng tộc giống như là ở Malaysia.

"Đừng quan tâm đến chủng tộc hay tôn giáo, chúng ta nên xem mọi người như là anh em ta, chị em ta và cùng sống trong một đại gia đình hạnh phúc", ông nói.

Tại Thiền đường mới, Vị Trưởng Lão đứng đầu của miền Nam Thái Lan Phra Dhamrattanakorn giới thiệu về một loại văn bằng công đức Chatukham sẽ được trao tặng cho những nhà hảo tâm đã đóng góp từ 5,000 RM trở lên.

Thư ký Ban Điều hành chùa, ông Datuk Sa Wai cho biết chi phí xây dựng ngôi thiền đường hết khoảng 2 Tỉ RM và chủ yếu là từ quỹ từ thiện của cộng đồng.

Chi phí cho việc tu sửa lại Chánh điện tốn khoảng 1.2 tỉ RM.

"Sau 20 năm, chúng tôi lại tu sửa nó lại. Những người thợ lành nghề được thuê mướn đặc biệt từ Thái Lan và sẽ mất khoảng 7 tháng để hoàn tất những công việc sửa chữa này" Ông cho biết.

Chánh điện được khánh thành một cách long trọng khi quan khách tham dự được chứng kiến Cho Fa được đặt lên nóc chùa, nơi cao nhất của ngôi chùa.

Chư Tăng đã thực hiện một nghi lễ tụng kinh trước khi Ông Tan bắt đầu đặt Cho Fa lên nóc chùa.

Cho Fa theo nghĩa đen có nghĩa là Thiên Sí Điểu. Nó tượng trưng cho một loại chim quí hiếm tên là Garuda và được xem là một vị thần bảo vệ cho ngôi chùa.

"Chúng tôi tu sửa lại ngôi Chánh điện vì mái chùa làm bằng gỗ đã bắt đầu bị mục rữa", How Eng Keong, một thành viên trong ban Tổ chức cho biết.

Ông nói Cho Fa cũ thì được làm bằng gỗ và hiện nay Cho Fa mới được đúc bằng bê tông.

Đoàn múa lân cùng với Ông Tan và khách tham dự được mời vào Chánh điện để chứng kiến Ông Tan ký tên lưu niệm trong ngày khách thành.

Tiến sĩ Lim Thuang Seng, ủy viên hội đồng lập pháp cũng đã tham dự trong buổi lễ này

Chùa Chetawan đã trao tặng 3,000 RM đến cho mỗi tổ chức như là Hội Chăm sóc xã hội Kasih, Hội chăm sóc trẻ em và người tàn tật, Trung tâm phục vụ Cộng đồng cho người điếc Hội an sinh Ti-Ratana và Tổ chức Maha Karuna.