Chùa Linh Ẩn, Hàng Châu, Trung Quốc
Linh Ẩn tự tại Hàng Châu, là một trong những ngôi chùa lớn và sung túc nhất Trung Quốc.
Chùa được xây dựng buổi đầu tiên vào năm 326 sau Tây Lịch, nhưng từ đó đến nay được trùng tu không dưới sáu lần. Các kiến trúc hiện nay là kiến trúc được phục hồi vào cuối đời nhà Thanh.Triền núi phía nam của ngôi chùa nổi tiếng với các hang động và đá chạm. Rất nhiều tác phẩm đã được khắc chạm từ thời ngôi chùa mới được kiến tạo và một số lớn khác được khắc chạm vào thời hưng thịnh của Phật Giáo dưới đời nhà Ðường. Mặc dù bị một vài hư hỏng do hồng vệ binh tạo nên trong thời gian Cách Mạng Văn Hóa xảy ra, ngôi chùa và khuôn viên của nó tránh được hầu hết những sự hủy hoại cũng giống như nhiều ngôi chùa khác do nhờ sự bao che của Thủ Tướng thời bấy giờ .Chu Ân Lai. Ngày nay ngôi chùa đang trên đà thịnh đạt, dù hầu như hàng ngàn quan khách viếng thăm chỉ vì mục đích ngoạn cảnh thay vì tín ngưỡng.
Chùa Linh Ẩn được kiến tạo theo cấu trúc truyền thống. Những điều làm cho nó nổi tiếng chính là kích thước của nó, đặc biệt là kích thước của tòa nhà chính.. Ngôi tiền điện, và cổng vào cũ là một ngôi điện to lớn, Thiên Vương Ðiện. Ngôi điện này là một tòa nhà nóc mái chìa hai lớp, lớn hơn cả chính điện của nhiều ngôi chùa khác, chiều cao của nó ít nhất là 60 feet. Ðức Phật chính được tôn trí tại đây là Ðức Phật Di Lặc, pho tượng được tôn trí hướng mặt ra ngôi điện về phía nam để chào đón du khách bước chân vào khuôn viên ngôi chùa. Bên trái và phải 4 tượng Thiên Vương. Những pho tượng này đều cao từ 30 đến 40 feet và mới được sơn phết lại. Trần nhà là bích họa hình ảnh chim Phượng và rồng.
Nằm về phía nam của Thiên Vương Ðiện là một khoảnh sân rộng lớn, phía đông là một số cơ sở như văn phòng, cửa hàng lưu niệm, phía tây là Ngũ Bách La Hán Ðường và phía bắc là Chính Ðiện. Chính Ðiện hay còn gọi là Ðại Hùng Bửu Ðiện với kim thân tượng Ðức Phật Thích Ca cùng tượng 18 La Hán đồ sộ, kiến trúc Chính Ðiện với mái chìa 3 lớp đồ sộ cao 120 feet, có thể nói đây là hình thể kiến trúc Phật Giáo đồ sộ nhất tại Trung Quốc. Cảnh quang sân trước với cây cối xanh tươi rậm rạp khiến người ta khó thể lấy được một bức ảnh toàn cảnh. Phía sau chánh điện hướng lên triền núi là một kiến trúc khác mới được xây dựng là Dược Sư Ðiện. Kiến trúc này không thuộc kiến trúc đời Thanh mà nó mới được xây trong vài năm gần đây, một phần khác của kiến trúc mới là Ngũ Bách La Hán Ðường với 500 pho tượng La Hán bằng đồng với kích cỡ như người thật, và một pho tượng Quan Âm.
------------------------------------------------------------------------------------------
Bài Đọc Thêm (Tùy bút Toại Khanh)
Chân Tu
Chữ Cút trong tiếng Việt có ít nhất hai nghĩa. Nghĩa động từ là xéo, tếch, vọt, dông thẳng, bỏ đi không minh bạch, không đường đường chính chính, nói theo phim Tàu là chẳng quang minh lỗi lạc. Chữ Cút theo nghĩa danh từ là tên gọi tắt của loài chim Cun-Cút. Tôi ngờ rằng hai nghĩa này có liên quan nhau ít nhiều. Ai từng sống ở miền đông Nam bộ Việt Nam hẳn là phải thấy qua giống chim này. Chúng to lắm cũng hơn nắm tay một chút, sống quanh quất mấy lùm bụi, cả đời cơ hồ chẳng biết bay, chỉ lầm lũi lặng lẽ đây đó và khi gặp biến thì lũi nhanh vào một mô đất hay bụi cỏ nào đó và thế là mất tăm. Ngày còn nhỏ, tôi từng tin lời người lớn rằng chim cút biết tàng hình, như tôi vẫn từng tin vào vài huyền thoại về loài chim gõ-kiến.
Sau này tôi còn biết thêm một vài loài chim khác cũng lạ lùng như chim cút ở chỗ suốt đời chỉ biết đi, hoặc chỉ biết bơi lặn, không biết bay, chẳng hạn chim cánh cụt (penguin) ở hai miền địa cực của trái đất. Bẩm sinh chúng không có sẵn khả năng bay lượn. Mang tiếng là chim nhưng chúng thua cả giống vịt xiêm về khả năng di chuyển. Mấy con vịt xiêm ngó lạch bạch vậy nhưng lúc cần vẫn có thể bay qua mấy công đất như chơi. Dĩ nhiên chúng chỉ xài tới khả năng này những lúc không còn lựa chọn nào khác. Mấy loài lông vũ kỳ cục đó chẳng hiểu sao cứ ám ảnh tôi như những đề tài suy gẩm thú vị.
Mang tiếng là chim nhưng không biết bay vì chỉ có khả năng đi, hay có quá nhiều những sức nặng không cần thiết cho những lần chắp cánh. Muốn lên được với trời xanh hãy tự làm nhẹ chính mình. Trọng lượng là một thứ cần được quan tâm trước tiên trong những chuyến bay. Dù về sinh học hay kỹ thuật đều thế cả. Có người hỏi tôi sao thời nay không thấy ai có thần thông, tôi nhớ đã trả lời rằng người bây giờ hầu hết đều thích khuân vác nên ai cũng là chim cánh cụt, khá lắm cũng chỉ là chim cút hay vịt xiêm, thịt mỡ nhiều hơn lông cánh thì làm sao bay nhảy chứ !
Phàm kẻ còn mê luyến ngũ dục thì không sao chứng đạt các tầng thiền định Sắc Giới. Còn nặng lòng với các tầng thiền định Sắc Giới thì làm sao vươn đến các tầng thiền định Vô Sắc Giới. Ngày nào dạ còn mong mỏi hiện hữu ở cảnh giới nọ kia thì không sao tu chí vô-sanh. Còn hệ lụy phố chợ đình quán thì đừng hòng nói chuyện viễn ly thâm xứ, cõi riêng của các bậc hiền giả. Trời sanh mỗi người chỉ có hai bàn tay, làm gì có chuyện một tay buông một tay nắm. Đôi bàn tay không thể cùng lúc làm hai việc đối lập. Chúng ta chỉ có thể chọn một trong các chọn lựa. Muốn bay cao phải biết bỏ lại những gánh nặng không thật sự cần thiết. Trọng lượng thừa thải chỉ khiến mình thêm ỳ ạch, lạch bạch mà thôi.
Tôi thích hiểu chữ Chân Tu là tu cái chân, là bỏ đi, là chia tay, là chẳng dừng chân quá lâu một nơi chốn nào. Một cơ thể thiếu vận động dễ khiến dư mỡ, cao máu, mau chết. Một lòng tu thích nấn ná, nắm níu cũng dễ có vấn đề. Cầm lấy vài món hành trang gọn nhẹ rồi sống …Hành Đạo. Chữ này tôi lại cũng cố ý hiểu theo nghĩa mới. Hành Đạo là đạo đi, là phép tu bằng đôi chân theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Mọi thứ phải dời đổi theo nghĩa hướng thượng, tích cực. Đứng yên hay dừng lại là chỏi, là chống, là vướng, là kẹt, là nặng nề, mệt mỏi rồi thì kiệt sức. Năng lượng phải được tuần hoàn, luân lưu bằng những trao đổi xê dịch. Tu hành là bỏ lại sau lưng những hình bóng cũ, kể cả cái bóng hôm qua của mình. Tu là bước tới, là xoay lưng, là từ biệt, là tìm về những quán trọ qua đêm để ngủ nhờ, những bến đò để quá giang. Chữ Hán có mấy từ theo tôi hay quá. Tá Túc là mượn tạm chỗ của người ta để ngủ, không phải chỗ sở hữu của mình. Còn Quá Giang là đi nhờ tàu xe để qua sông hay vượt qua một đoạn đường trên bộ, ngắn thôi. Xa quá, lâu quá thì không còn là Quá Giang nữa. Lúc đó là hệ lụy, là có vấn đề với nhân gian rồi.
Nghĩ mà thương cho những loài chim một đời không vỗ cánh bay, chỉ vỗ cánh ơ hờ để tự gãi ngứa, như những loài chim không biết hót, chỉ há mỏ để ngáp vặt. Uổng cho cái danh xưng chim trời. Trời cao xa nghìn trùng cho những loài chim không biết bay. Tôi nhớ có đọc đâu đó, hình như của nhà văn Thi Vũ, về một loài chim không chân, một đời mòn mỏi bay không đậu. Ông muốn nói đến cái gì tôi không nhớ nữa, chỉ thấy mệt nhiều với hình ảnh một loài chim không thể về đất. Tôi theo tinh thần Trung Đạo: Có chân để nghỉ ngơi và có cánh để chao lượn. Nghỉ ngơi lúc cần và tung bay khi thấy thích. Đức Phật có nói đến những trụ xứ náu mình và những con đường du hoá trong cuộc đời mỗi tỷ kheo. Chọn hẳn một thứ là kẹt cứng. Bầu trời để đi và mặt đất để về.
Tôi viết một mạch không dám đọc lại, vì sợ mình cụt hứng thì nguy. Viết theo cách vừa nói ở trên. Viết như kẻ đang trên đường: Gì cũng ở sau lưng. Quay đầu là bịn rịn, vướng vít. Trong các hồng danh của Phật, tôi thích niệm nhất chữ Thiện Thệ, người đi chẳng về, đi chẳng nhìn lui, đã xoay lưng thì chẳng quay đầu. Và một trong ba mươi thông lệ của chư Phật ba đời có chỗ tiêu sái độc đáo là đản sinh, thành đạo hay viên tịch đều ngoài rừng cây, không dưới mái che nào hết. Các ngài là những cánh dã hạc, không thuộc về một phố xá phồn hoa nào cả. Đẹp lắm thay !
Onceland đầu năm 2007