Thứ Sáu, 5 tháng 1, 2007

No. 1305 NEW (Tinh Tấn dịch)

Tu viện tôn trí Xá lợi Phật nha

Cư dân Tích Lan gọi “Dalada Maligawa” là nơi điện thờ Phật tích linh thiêng nhất của cả đảo quốc. Tu viện nguyên thủy được xây dựng bởi Quốc vương Vimaladharmasuriya I (1592-1603) với hai tầng. Tu viện nguyên thủy không còn gì lưu lại vào khoảng năm 1600. Trong suốt triều đại Quốc vương Kirthi Sri Rajasinghe (1747-1781), tu viện được tái thiết và cải tiến. Tu viện này đã bị tàn phá nghiêm trọng bởi bom nổ vào năm 1998, nhưng những thiệt hại đã được trùng tu lại.

Xá lợi Răng:

Truyền thuyết cho rằng sau khi lễ trà tỳ của Đức Phật tại Kushinagar, các di tích, gồm có “một cái Răng của Đức Phật” đã được tôn thờ tại Ấn Độ. Trong thời gian Phật giáo tại Ấn Độ trải qua nhiều gian nan, Xá lợi Răng được bí mật mang về Tích Lan, dấu kín trong tóc của công chúa Orissan. Đầu tiên, Xá lợi Răng của Đức Phật được tôn trí tại Vương quốc Anuradhapura và sau đó được đưa về một vài Vương quốc khác tại Tích Lan, cho đến khi tôn trí tại đền thờ cuối cùng ở Vương quốc Kandyan vào năm 1592.
------------------------------------------------------------------------------------------

No. 1312 NEW (Như Quang dịch)

GIÀNH LẠI TUỆ QUYỀN

Bà Katherine Ellison, một nhà báo, kể lại rằng khi con trai bà lên tám tuổi, cháu gọi số điện thoại khẩn cấp 911 vì bà tước đoạt món đồ chơi điện tử Game Boys của cháu. Bà viết, nếu lúc đó tôi hiểu đạo Phật có lẻ tôi đã hành xử tốt đẹp hơn. Có thể tôi đã không la mắng cháu khi điện thoại viên còn đang lắng nghe. Và tôi đánh cuộc rằng tôi đã không quỵ xuống vì sợ hãi khi viên cảnh sát thẩm vấn tôi ở một phòng riêng.

Điều quan trọng nhất là tôi có thể tha thứ cho con tôi nhanh chóng hơn và mọi chuyện không đến nỗi tệ hại. Tôi có thể nhìn con với một cái nhìn thông cảm hơn.

Nhìn lại, tôi nhận ra rằng mình hoàn toàn không biết sử dụng trí tuệ của mình. Do sự chú ý của chúng ta bị lay chuyển, sự nhẫn nại yếu kém, bị thúc đẩy bởi sợ hãi, ác tâm, tham muốn và những nỗi khát khao tiềm ẩn bên trong, chúng ta chuyển sự thôi thúc ra hành động. Ngược lại, những thiền giả Phật giáo sử dụng trí tuệ của họ vô cùng minh mẫn bằng một kỷ thuật tâm linh. Có mặt từ 2,500 năm, kỷ thuật tâm linh này đã giúp họ chú ý tĩnh giác vào sự vận hành của trí tuệ. Họ phát huy một khả năng đặc biệt để kiểm soát sự vận hành đời sống tâm linh của họ, tránh sự chi phối của tình cảm với những cảm thọ của họ và dọn đường cho sự tỉnh thức, an bình, cảm thông và an lạc. Những thí dụ trên về các thiền giả Phật giáo cho thấy chúng ta có khả năng thay đổi tính khí của chúng ta, điều chỉnh lại những tình cảm và tăng cường các khả năng tiềm ẩn bên trong để chúng ta có thể sử dụng trí tuệ minh mẫn hơn.

B. Alan Wallace, chủ tịch và sáng lập viên của Viện Nghiên Cứu về Ý Thức tại Santa Barbara nói rằng “Chúng tôi hoạch định phương cách nghiên cứu lâu dài về sự trau dồi giữa tâm và tuệ để đạt đến tối ưu tuệ lực con người”. Là một học giả Phật giáo nghiên cứu về những điểm chung giữa khoa học và tôn giáo, ông tin tưởng rằng những điều mà nhân loại chịu đựng là do chính hành động của chúng ta. Cảm thọ của chúng ta kết hợp với những nỗi sợ hãi về xúc và ngã, làm lu mờ đi sự tỉnh giác của chúng ta. Cuối cùng chúng ta hành động như thể chúng ta không có sự chọn lựa nào khác.

Thiền định thay đổi những điều chúng ta cho là cố định như ưu não hay sân hận. Thiền giả khám phá ra rằng thọ là những sự kiện phát sinh từ tâm linh như những bọt nước dâng lên từ đáy nồi đang sôi. “Họ quán những cảm thọ này rồi buông bỏ”, nhà thần kinh học Richard Davidson của trường đại học Wisconsin ở Madison nói như thế. Ông Jon Kabat-Zinn, sáng lập viên của viện nghiên cứu về giảm thiểu sự căng thẳng tinh thần thuộc trường đại học y khoa Massachusetts đóng góp thêm: “Thiền định Phật giáo đang hướng đến sự phát triển của khoa học dựa trên nhân bản”. Nói về thiền định, ông Wallace cũng cho biết rằng 10 ngàn người Mỹ thực tập thiền theo nhiều phương pháp khác nhau và thiền Phật giáo nổi bật nhất trong các pháp thiền. Mười ngàn người này không thể nhận định sai!

Hơn một năm sau khi bị sa sút tinh thần vì vai trò của bậc làm cha mẹ không được hoàn hảo, bà Katherine Ellison nói rằng bà đã tự tập hành thiền. Thỉnh thoảng bà thiền với cậu con của mình.

-----------

Như Quang lược dịch từ bài viết “Mastering Your Own Mind”, tác giả Katherine Ellison, đăng trong tạp chí chuyên đề tâm lý Psychology Today số tháng 10, 2006.

Thứ Năm, 4 tháng 1, 2007


Nhật Hành

Ngày: 04 tháng 01 năm 2007

Tri chúng: Chánh Hạnh

Tri chúng điền khuyết: Nhu Khanh

Môn học: Thiền Học

Bài học: Phân Tích Bốn Ðại

Giảng Sư Chính: TT Giác Đẳng

Giảng Sư Điền khuyết: TT Tuệ Siêu

Vị Tăng hoặc Ni nói lời cầu nguyện đầu lớp học: ĐĐ Minh Hạnh

Xướng ngôn viên: TC đk, Sangkhaly, Nguon Đuc Hanh, Hat Cat, Nhu Phuc, Upekha, Karuna, Anitya, Tinh Tan, Bich Thu, Minh Chau54 (Tinh Tan xin miễn đọc tin tức trừ khi bài của TT, vì phải thâu TBK)
http://www.phapluan.net &
http://bandieuhanh.blogspot.com

Người mở room: Hat Cat, Anitya

Người mở nhạc và kinh tụng: Hat Cat, Anitya, Bich Thu.

Người hoán chuyển bài cho Room: Nhu Phuc - Bich Thu (đk)

Người post bài cho Room: Bich Thu, Nguon Duc Hanh, Hat Cat, Upekha.

Người post và gửi bài riêng cho chư Tăng: Upekha, Nguon Duc Hanh.

Trực room (op): TC đk, Ops.

Thông báo (nếu có): Cô Minh Châu xin nghỉ phép 1 tháng.

Thứ Tư, 3 tháng 1, 2007

Bài Đọc ngày thứ 5 của MC

Phần I
Lễ Tam Bảo, Phần này đọc sau khi dứt kinh tụng


Namo Buddhaya
MC1: Con ............. (................ điền khuyết) thành kính đảnh lễ Chư Tôn Ðức Tăng Ni, thân chào tất cả quí vị hiện diện. Hôm nay ngày 04 tháng 01 năm 2007 Phật lịch 2550. Ðây là chương trình Phật Học trực tiếp thực hiện trên Paltalk mỗi ngày, giờ VN nhằm 8:00 đến 10:30 tối, giờ Houston 7:00 đến 9:30 sáng, giờ NY từ 8:00 đến 10:30 sáng, giờ Cali 5:00 đến 7:30 sáng, giờ Paris 2:00 đến 4:30 chiều, giờ Sydney 12:00 tối đến 2:30 sáng.

Kính thưa quý vị Lớp Thiền Học hôm nay chúng ta sẽ học bài "Phân Tích Bốn Ðại" do TT Giác Đẳng giảng giải phần II nội dung chính. Chúng ta sẽ được nghe chư Tôn Ðức giảng giải các phần khác trong bài học, chương trình tiếp tục với các câu đố và kết thúc với bản tin Phật Giáo.

Mở đầu chương trình xin tất cả chúng ta trang nghiêm tam nghiệp đảnh lễ Tam Bảo.

Chúng con xin kính thỉnh Đại Đức Minh Hạnh đọc kinh Lễ Tam Bảo hôm nay. Namo Buddhaya

(Đại Đức Minh Hạnh)

Nhất tâm đảnh lễ Ðức Như Lai bậc Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Ðiều Ngự, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.

Nhất tâm đảnh lễ Chánh Pháp do Phật thiện thuyết, thiết thực hiện tiền, vượt ngoài thời gian, đến để chứng nghiệm, hiệu năng hướng thượng, trí giả thân chứng.

Nhất tâm đảnh lễ Chư Tăng đệ tử Thế Tôn bậc diệu hạnh, trực hạnh, như lý hạnh, chân chánh hạnh, gồm bốn đôi tám vị, đáng nhận lễ phẩm, tặng phẩm, tế phẩm, kính lễ, là phước điền vô thượng trong đời.

Nguyện cầu uy đức Phật Bảo
Nguyện cầu uy đức Pháp Bảo
Nguyện cầu uy đức Tăng Bảo
Xin Tam Bảo gia hộ
Ngăn ngừa mọi tai ương
Những hiện tượng bất tường
Những mộng mị xấu xa
Những nghịch duyên trở ngại
Thảy đều mau tan biến
Nguyện muôn loài chúng sanh
Người khổ xin hết khổ
Người sợ hết sợ hãi
Người sầu hết sầu bi
Biết cho với niềm tin
Biết hộ trì giới hạnh
Biết lạc trú trong thiền
Chư thiên đã vân tập
Xin tùy hỷ phước lành
Ðược cát tường như ý
Rồi phản hồi thiên xứ
Chư Toàn Giác đại lực
Chư Ðộc Giác đại lực
Thinh Văn Giác đại lực
Nguyện tổng trì uy đức
Cầu phúc lành phát sanh (lạy)
*****************************
___________________________________________________

(MC1 của phần I: ............... (.............. điền khuyết) )

Kính tri ân Sư Minh Hạnh.
Kính bạch chư tôn đức
Kính thưa đại chúng

Bài Học hôm nay:
Phân Tích Bốn Ðại

(Trích Thanh Tịnh Ðạo do Ni Sư Trí Hải dịch)
____________

I. Đại lược

27. Bây giờ, đến sự trình bày về tu tập Phân tích bốn đại, được liệt kê là "Một phân tích " kế tiếp bất tịnh tưởng về thức ăn.

Ở đây, phân tích (vavatthāna) là xác định bằng cách nói rõ tính chất cá biệt của nó. "Sự tác ý đến bốn đại" "đề mục thiền về bốn đại" hay "phân tích bốn đại" tất cả đều nói cùng một chuyện.

Sự phân tích này được trình bày theo hai cách: lược và chi tiết. Nó được trình bày lược thuyết theo kinh Ðại Niệm xứ (Mahāsatipatthāna, D. ii,294), và trình bày chi tiết trong ba kinh Mahāhatthipādūpamā, (Tượng tích du đại kinh) (M. i,185), kinh Rāhulovāda (Giáo giới La Hầu La) (M. i,421) và kinh Dhātuvibhanga (Giới phân biệt) (M. iii,240).

Chúng con kính cung thỉnh ............ từ bi thuyết giảng Phần I. Đại lược bài học hôm nay. Namo Buddhaya.

II. Nội dung chính


28. Nó được trình bày vắn tắt trong kinh Ðại Niệm xứ, cho một người lợi tuệ (mau hiểu) có đề tài thiền quán là bốn đại chủng như sau: "Này các tỳ kheo, như một đồ tể thiện xảo hay đệ tử của người đồ tể, sau khi đã giết một con bò, và ngồi ở ngã tư đường, xẻ nó ra thành từng miếng, cũng vậy, này các tỳ kheo, một vị tỳ kheo quán sát thân này, dù đặt như thế nào, xử dụng thế nào cũng chỉ gồm có bốn đại: Trong thân này, đây là địa đại, thủy đại, hỏa đại, phong đại." (D. ii, 294).

29. Ý nghĩa như sau: (lược). Ðặt để như thế nào, xử dụng như thế nào: là dù ở trong uy nghi nào bất cứ đi, đứng, nằm hay ngồi.

30. Cũng như người đồ tể cho bò ăn xong, đem nó tới lò thịt, trói nó lại, làm thịt nó. Khi thấy nó đã bị giết, đã chết, người ấy vẫn không mất cái tưởng "bò" cho đến khi nó bị phanh ra chia thành từng phần. Khi người ấy đã chia con bò ra, khi ngồi đấy, nó mất cái tưởng "bò" và cái tưởng "thịt" phát sinh. Nó không nghĩ:" Ta đang bán bò" hoặc "Họ đang đem bò đi" mà nó nghĩ:"Ta đang bán thịt" hoặc "Họ đang mang thịt đi". Cũng vậy, tỳ kheo này khi còn là phàm phu ngu si - dù đang làm cư sĩ hay đã xuất gia - không mất cái tưởng "chúng sinh", hay "người", hay "ngã tính", bao lâu chưa quán sát thân này, bằng lối phân tích thành bốn đại chủng, dù ở trong tư thế nào, được sử dụng cách nào, đều chỉ gồm có tứ đại. Nhưng khi tỳ kheo ấy đã phân tích thân này là gồm tứ đại, thì vị ấy mất đi cái tưởng "chúng sanh", và tâm vị ấy an trú trên bốn đại chủng. Bởi thế mà đức Thế Tôn dạy: "Này các tỳ kheo, như một người đồ tể thiện xảo...cũng thế, một tỳ kheo quán sát thân này...gồm có địa đại, thủy đại, hỏa đại, và phong đại".

31. Trong kinh Mahātthipadūpamā Sutta (Tượng Tích Dụ) sự phân tích tứ đại được trình bày chi tiết, dành cho một người tuệ không bén nhạy lắm, và đề mục thiền của vị ấy là bốn đại chủng- và trong các kinh Rāhulavāda (Giáo giới La Hầu La) và Dhātuvibhanga (giới phân biệt) cũng vậy - như sau:

"Và này chư hiền, thế nào là địa đại ở bên trong ? bất cứ gì ở nội thân thuộc cá nhân, thô phù, kiên cứng bị chấp thủ, như tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, tủy, thận, tim, gan hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, bao tử, phân, và bất cứ vật gì khác, thuộc nội thân, thuộc cá nhân, thô phù kiên cứng, bị chấp thủ, - đây gọi là nội địa giới". (M. i,185).

"Và chư hiền, thế nào là Thủy giới ở trong ? cái gì thuộc nội thân, thuộc cá nhân, thuộc nước, thuộc chất lỏng, bị chấp thủ như mật, đàm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, mỡ da, nước miếng, nước mũi, nước khớp xương, nước tiểu, và bất cứ gì khác thuộc nội thân, thuộc cá nhân, thuộc nước, thuộc chất lỏng, bị chấp thủ. (như vậy gọi là nội thủy giới) (M. i,187).

"Và chư hiền, thế nào là nội hỏa giới ? Cái gì thuộc nội thân, thuộc cá nhân, thuộc lửa, thuộc chất nóng, bị chấp thủ, nghĩa là, cái gì khiến cho thân thể nóng lên, biến hoại, thiêu đốt, cái gì khiến cho những vật được ăn, uống, nhai nếm, có thể khéo tiêu hóa, hay tất cả những vật gì khác thuộc nội thân, thuộc cá nhân, thuộc lửa, thuộc chất nóng, bị chấp thủ - đây gọi là nội hỏa giới" (M. i, 188).

"Và này chư hiền, thế nào là nội phong giới ? Cái gì thuộc về nội thân, thuộc cá nhân, thuộc gió, thuộc về động tánh, bị chấp thủ, nghĩa là gió thổi lên, gió thổi xuống, gió trong bụng, gió trong ruột, gió thổi qua các chân tay, hơi thở vô, hơi thở ra, hay bất cứ gì khác thuộc nội thân, thuộc cá nhân, thuộc gió, thuộc tánh động, bị chấp thủ - đây gọi là nội phong giới" (M. i, 188).

32. Ðây là một giải thích về những danh từ không rõ "Thuộc nội thân, thuộc cá nhân": cả hai đều chỉ cái gì thuộc chính bản thân, vì cái gì thuộc bản thân được phát sinh ngay trong tự ngã (attani jātam). Nghĩa là được bao gồm trong dòng tương tục của một người. Ðược gọi là "nội" vì nó phát sinh trong tự ngã, cũng như trong thế gian câu chuyện giữa phụ nữ với nhau được gọi là "chuyện đàn bà". (lược)

33. Kiên cứng: cứng đơ, thô phù: nhám. Bị chấp thủ: bị tóm bắt một cách chặt chẽ (bởi nghiệp). Nghĩa là bị chấp chặt, ôm chặt, liên kết chặt chẽ xem như "tôi" và của "tôi".

34. (lược) Ở đây não cần được thêm vào, vì địa giới cần được hiểu là gồm có hai mươi phần tử.

35. Nước (āpo) là cái chảy (appoti) chảy liên tục, (pappoti) đến một chỗ nào để thành một tình trạng là dòng nước. Chất lỏng (āpogata) là cái gì đi (gata) trong các loại nước (āpo) như nước do nghiệp sinh v.v..Ðó là cái có tính chất "dính liền" của liền" của thủy đại. thủy đại.

36. Lửa là hâm nóng. Chất nóng là cái gì đi trong các loại lửa, là cái có đặc tính của hơi nóng. Cái gì khiến cho cơ thể nóng lên: nghĩa là khi bị kích động, nó nóng như bởi lên cơn sốt một ngày v.v... biến hoại: là già đi, đạt đến sự tàn tạ của các căn, mất sức khỏe, da nhăn, tóc trở màu tiêu muối v.v... Thiêu đốt: là làm cho thân thể nóng lên, khiến người ta phải kêu: "nóng quá, nóng quá" muốn tắm rửa cả trăm dạo, muốn bôi dầu hương gesīsa v.v... và muốn làn gió mát của một cây quạt. Cái gì được ăn uống nhai nếm, được hoàn toàn tiêu hóa: nhờ hỏa giới bên trong, mà những gì ta ăn uống vào được tiêu, nghĩa là được ép ra nước. Và ở đây, ba loại đầu của hỏa giới, nghĩa là "được hâm nóng" "biến hoại" "thiêu đốt" thuộc cả bốn nguồn gốc (xem Ch.XX, 27) còn cái cuối cùng "được tiêu hóa" là do nghiệp sanh.

37. Gió được định nghĩa là thổi. Ðộng tánh là cái gì đi vào trong các loại gió, có đặc tính của gió, như gió thổi lên: những luồng gió (năng lực) đưa lên phía trên gây ra sự mửa, ợ v.v... Gió thổi xuống: những năng lực đi xuống tống ra ngoài phân và tiểu. Gió trong bụng: những năng lực phía ngoài ruột. Gió trong ruột: những năng lực ở bên trong ruột. Gió đi qua tay chân: những năng lực phát sinh sự co duỗi, và được phân phối qua tứ chi và toàn thân bởi hệ thần kinh.Hơi thở vô: Gió từ mũi đi vào. Hơi thở ra: Gió từ mũi thoát ra. Và ở đây, năm thứ gió đầu thuộc cả bốn nguồn gốc. Hơi thở vô ra là do tâm sinh.

Trong mỗi trường hợp, câu "và bất cứ cái gì khác", là bao gồm thủy, hỏa, hay phong giới có ở trong ba phần kia (ví dụ" địa giới cũng ở trong thủy hỏa và phong giới. Các giới kia cũng vậy).

38. Bởi vậy, cả bốn giới đã được kể chi tiết thành 42 khía cạnh, địa giới có 20, thủy 11, hỏa 4 và phong 6.


Chúng con kính cung thỉnh ............ từ bi thuyết giảng Phần II. Nội dung chính bài học hôm nay. Namo Buddhaya.

III. Người Xưa Chốn Cũ (NS Liễu Pháp biên soạn)

Hỏi: Xin cho biết câu chuyện của Tôn giả Pakkha ?

Đáp: Tôn giả Pakkha thuộc dòng họ Thích-ca, thành Devadaha, trong gia đình vua chúa Thích-ca và được gọi là thanh niên Sammoda. Nhưng khi còn nhỏ, ngài bị bệnh tê thấp, bước đi như người bị què, vì vậy được gọi là Pakkha (vị què quặt) và sau này khi đã bình phục, ngài vẫn giữ lại tên ấy. Sau khi ngài lành bệnh, ngài có mặt khi đức Phật về thăm gia đình, ngài khởi lòng tin, xuất gia và sống ở trong rừng. Một hôm vào làng khất thực, ngài ngồi dưới một gốc cây, một con diều hâu ngoạm được miếng thịt, bay bổng trên trời cao, các con diều hâu khác bay theo dành cướp lấy miếng thịt, thấy vậy, vị Tỷ-kheo suy nghĩ: 'Các dục ở đời cũng vậy, đầy những đau khổ'. Ngài triển khai thiền quán và chứng quả A-la-hán. (Trích Trưởng lão Tăng Kệ).


Chúng con kính cung thỉnh ............ từ bi thuyết giảng Phần III. Người Xưa Chốn Cũ bài học hôm nay. Namo Buddhaya.

IV. Chữ và nghĩa (TT Tuệ Siêu biên soạn câu trả lời)

Hỏi:
Tại sao đất nước lửa gió gọi là Tứ Đại ?

Đáp: Gọi là tứ đại là tiếng gọi tắt của danh từ đại hiển (mahābhūta). Sắc pháp có bốn đại là địa đại (mahāpaṭhavy), thủy đại (mahā-āpo), phong đại (mahāvāyo), hỏa đại (mahātejo).
Đất nýớc lửa gió đýợc gọi là tứ đại hay bốn đại hiển vì bốn nguyên tố vật chất này có mặt trong tất cả pháp hữu sắc, là căn bản của vật chất, vì ý nghĩa đó nên gọi bốn nguyên tố ấy là tứ đại hay tứ đại hiển

Chúng con kính cung thỉnh ............ từ bi thuyết giảng Phần IV. Chữ và nghĩa bài học hôm nay. Namo Buddhaya.

V. Học và hỏi (Sư Tuệ Minh biên soạn câu trả lời)

Hỏi: Nếu cuộc sống là vô thường, khổ, vô ngã thì cái gì khiến cho cuộc sống có ý nghĩa ?

Ðáp: Thế gian phải chịu chi phối bởi sự vô thường, khổ, vô ngã. Người tu Phật phải hiểu và nhận biết như vậy thì không còn dính mắc, chấp thủ, tham đắm. Khi không còn dính mắc chấp thủ tham đắm thì ta đã đạt được an lạc, hạnh phúc trong cuộc sống.

húng con kính cung thỉnh ............ từ bi thuyết giảng Phần V. Học và hỏi bài học hôm nay. Namo Buddhaya.

VI. Đố Vui (TT Giác Đẳng biên soạn)

...

________________________________________

Phần II:
Hồi Hướng này đọc khi kết thúc phần đố vui và giảng sư mời Pt MC lên hoàn mãn buổi học. Giới thiệu bài học hôm sau/ Hồi Hướng (Tri Chúng lên hồi hướng)

Sadhu! Sadhu ! Lành Thay!
Con .......... thay mặt đại chúng trong room, chúng con kính tri ân Chư Tôn Đức đã mở lòng bi mẫn giảng dạy Phật pháp hữu ích cho chúng con , đã hướng dẫn, dìu dắt chúng con tiến bước trên hành trình tu tập hầu mong đem lại an lạc trong đời sống và hướng đến đạo quả giải thoát luân hồi. Nguyện hồi hướng phước báu pháp thí đến Ni Sư Diệu Tịnh được nhiều an lạc, tùy tâm mãn nguyện. Cám ơn đại chúng đã lắng tâm thanh tịnh thính pháp. Kính cám ơn quý chủ nhiệm, Ops, xướng ngôn viên đã yểm trợ cho các phần hành trong lớp học được hoàn tất mỹ mãn. Chúng con kính chúc chư Tôn Đức thân tâm thường lạc, đạo hạnh trang nghiêm, tâm bồ đề viên đắc, Phật đạo chóng viên thành, chúc quý đạo hữu luôn an lạc cát tường trong chánh pháp nhiệm màu của Đức từ phụ Thích Ca Mâu Ni.

Kính Bạch chư Tôn Đức,
Kính thưa quý đạo hữu,

Ngày mai chúng ta sẽ có Lớp A Tỳ Đàm do TT Tuệ Siêu đảm trách phần II Nội Dung ChínhChư Tôn Đức giảng sư sẽ giảng giải các phần khác trong bài học, với sự điều hợp chương trình của các OpsMC. Để kết thúc chương trình xin chúng ta nhất tâm hồi hướng.

Nguyện công đức đã làm
Kết duyên lành giải thoát
Nguyện hồi hướng chư thiên
Hàng thiện thần hộ pháp
Nguyện các bậc hữu ân
Ðồng thừa tư công đức
Nguyện chánh pháp trường tồn
Chúng sanh cầu giải thoát
Namo Buddhaya

mở kinh tụng và nhạc, (đóng room)

Kính thưa đại chúng, chương trình sinh hoạt hôm nay đến đây đã kết thúc. Ban điều hành room Diệu Pháp xin phép được đóng room trong vài giây tới. Kính chào tạm biệt tất cả hẹn ngày mai sẽ trở lại trong giờ thường lệ. Namo Buddhaya.

No. 1309 NEW (Hạt Cát dịch)

Chuyến hành hương lạ thường

của một tu sĩ Phật Giáo Tây Tạng

By: IANS January 4, 2007

Patna -- Một tu sĩ Phật Giáo Tây Tạng, người đã thực hiện một cuộc hành hương lạ thường là bò đi trên lộ trình tới Bồ Ðề Ðạo Tràng, đã tới tỉnh bang Bihar từ nước làng giềng Nepal.

Lama Gyan, 20 tuổi, bắt đầu chuyến du hành kỳ lạ độc đáo từ Tây Tạng hồi 18 tháng trước để bày tỏ thành tâm với Ðức Phật.

Lama đã đi vào khu vực Champaran, miền Ðông tỉnh bang Bihar hồi tuần trước và đang di chuyển một cách chậm chạp hướng về Bodh Gaya, 110 km từ Patna. Sư sẽ thực hiện một buổi nguyện cầu đặc biệt tại ngôi chùa Ðại Giác 1,500 tuổi ở Bồ Ðề Ðạo Tràng.

Mục đích của Sư sẽ được thành toàn trong vài tháng tới.

"Ông ấy sẽ làm được ngoại trừ trường hợp sức khỏe bị suy giảm vì đợt lạnh ở Bihar", một viên chức tại một tu viện Tây Tạng ở Bihar nói như trên. Một số lớn quần chúng sẽ tụ tập tại những địa điểm khác nhau trên lộ trình của Sư để theo dõi một chuyến hành hương lạ thường.

Lama đã tới Kathmandu hơn một tháng trước và đã được nhìn nhận rằng lộ trình của Sư trubng bình thu ngắn được 7 km mỗi ngày. Tháp tùng với Sư là hai tu sĩ khác, những người chăm sóc sức khỏe và những vật dụng cần thiết hàng ngày của Lama ...
------------------------------------------------------------------------------------------

No. 1310 NEW (Upekha dịch)

Bộ Trưởng Văn Hóa Scotland khánh thành Pho

Tượng Phật mới tưởng niệm đệ nhị chu niên Tsunami

LankaEverything.com New Desk, Dec 27,2006

Maryhill, Scotland -- Patrica Ferguson, MSP, Bộ Trưởng Văn Hóa Du Lịch và Thể Thao Scottish đã được mời tham dự lễ khai mạc pho tượng Phật mới tạc nhằm tưởng niệm đệ nhị chu niên Tsumani Á châu tại Tu Viện Phật Giáo Scotland. Pho tượng Phật được coi lớn nhất tại Âu Châu được tạc trong Ngôi Chùa Maryhill.

Buổi lễ được tổ chức đặc biệt nhằm ăn mừng Tu Viện di chuyển đến ngôi nhà mới tại số 1 Caldercuilt Road, Maryhill,Glasgow. Pho tượng được chạm trổ bởi S.L Senehedheera, một nhà hội họa người Tích Lan, nổi tiếng tại Ski Lanka và Anh Quốc.

Mặc dù Lễ Boxing Day được diễn ra với gần hàng trăm người tụ tập tham dự. Đại diện cho các Cơ Đốc Giáo, Ba’hai, Sikh và Hồi Giáo cũng bị lôi cuốn vào Nghi Lễ truyền thống Phật Giáo được diễn ra tại ngôi chùa mới.

Hiện tại Tích Lan có 5 kế hoạch đang phát triển với ngân quỹ do những nhà hảo tâm người Scotland và Viện Trụ Trì Tu Viện, Sư K. Rewatha Thera.Thành kính tri ơn đến những người đã hướng tâm xây dựng các công trình này. Ngài sẽ viếng thăm Tích Lan trong Tết Nguyên Đán nhằm bảo đảm các kế hoach của họ.


Nhật Hành

Ngày: 03 tháng 01 năm 2007

Tri chúng: Hạt Cát

Tri chúng điền khuyết: Bich Thu

Môn học: Trung Bộ Kinh

Bài học: Bài kinh số 19: Song Tầm (Dvedhāvitakka Sutta)

Giảng Sư Chính: TT Bửu Chánh

Giảng Sư Điền khuyết: ĐĐ Lá Bối

Vị Tăng hoặc Ni nói lời cầu nguyện đầu lớp học: ĐĐ Minh Hạnh

Xướng ngôn viên: TC đk, Sangkhaly, Nguon Đuc Hanh, Hat Cat, Nhu Phuc, Upekha, Karuna, Anitya, Tinh Tan, Bich Thu, Minh Chau54 (Tinh Tan xin miễn đọc tin tức trừ khi bài của TT, vì phải thâu TBK)
http://www.phapluan.net &
http://bandieuhanh.blogspot.com

Người mở room: Upekha, Bich Thu.

Người mở nhạc và kinh tụng: Upekha, Bich Thu.

Người hoán chuyển bài cho Room: Bich Thu - Nhu Phuc (đk).

Người post bài cho Room: Nguon Duc Hanh, Bich Thu, Upekha.

Người post và gửi bài riêng cho chư Tăng: Upekha, NguonDucHanh.

Trực room (op): TC đk, Upekha, Ops.

Thông báo (nếu có): Cô Minh Châu xin nghỉ phép 1 tháng.
Bài Đọc ngày thứ 4 của MC

Phần I
Lễ Tam Bảo, Phần này đọc sau khi dứt kinh tụng


Namo Buddhaya
MC1: Con ............. (................ điền khuyết) thành kính đảnh lễ Chư Tôn Ðức Tăng Ni, thân chào tất cả quí vị hiện diện. Hôm nay ngày 03 tháng 01 năm 2007 Phật lịch 2550. Ðây là chương trình Phật Học trực tiếp thực hiện trên Paltalk mỗi ngày, giờ VN nhằm 8:00 đến 10:30 tối, giờ Houston 7:00 đến 9:30 sáng, giờ NY từ 8:00 đến 10:30 sáng, giờ Cali 5:00 đến 7:30 sáng, giờ Paris 2:00 đến 4:30 chiều, giờ Sydney 12:00 tối đến 2:30 sáng.

Kính thưa quý vị Lớp Trung Bộ Kinh hôm nay chúng ta sẽ học Bài kinh số 19: Song Tầm(Dvedhāvitakka Sutta) do TT Bửu Chánh giảng giải phần II nội dung chính. Chúng ta sẽ được nghe chư Tôn Ðức giảng giải các phần khác trong bài học, chương trình tiếp tục với các câu đố và kết thúc với bản tin Phật Giáo.

Mở đầu chương trình xin tất cả chúng ta trang nghiêm tam nghiệp đảnh lễ Tam Bảo.

Chúng con xin kính thỉnh Đại Đức Minh Hạnh đọc kinh Lễ Tam Bảo hôm nay. Namo Buddhaya

(Đại Đức Minh Hạnh)

Nhất tâm đảnh lễ Ðức Như Lai bậc Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Ðiều Ngự, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.

Nhất tâm đảnh lễ Chánh Pháp do Phật thiện thuyết, thiết thực hiện tiền, vượt ngoài thời gian, đến để chứng nghiệm, hiệu năng hướng thượng, trí giả thân chứng.

Nhất tâm đảnh lễ Chư Tăng đệ tử Thế Tôn bậc diệu hạnh, trực hạnh, như lý hạnh, chân chánh hạnh, gồm bốn đôi tám vị, đáng nhận lễ phẩm, tặng phẩm, tế phẩm, kính lễ, là phước điền vô thượng trong đời.

Nguyện cầu uy đức Phật Bảo
Nguyện cầu uy đức Pháp Bảo
Nguyện cầu uy đức Tăng Bảo
Xin Tam Bảo gia hộ
Ngăn ngừa mọi tai ương
Những hiện tượng bất tường
Những mộng mị xấu xa
Những nghịch duyên trở ngại
Thảy đều mau tan biến
Nguyện muôn loài chúng sanh
Người khổ xin hết khổ
Người sợ hết sợ hãi
Người sầu hết sầu bi
Biết cho với niềm tin
Biết hộ trì giới hạnh
Biết lạc trú trong thiền
Chư thiên đã vân tập
Xin tùy hỷ phước lành
Ðược cát tường như ý
Rồi phản hồi thiên xứ
Chư Toàn Giác đại lực
Chư Ðộc Giác đại lực
Thinh Văn Giác đại lực
Nguyện tổng trì uy đức
Cầu phúc lành phát sanh (lạy)
*****************************
___________________________________________________

(MC1 của phần I: ............... (.............. điền khuyết) )

Kính tri ân Sư Minh Hạnh.
Kính bạch chư tôn đức
Kính thưa đại chúng

Bài Học hôm nay:
Bài kinh số 19

Song Tầm (Dvedhāvitakka Sutta)
____________

I. Đại lược

Nhắc lại thời Ngài còn phấn đấu để đạt giác ngộ, Phật giải thích cách vượt qua những tư duy bất thiện và thay thế chúng bằng những tư tưởng tốt lành.

Chúng con kính cung thỉnh ............ từ bi thuyết giảng Phần I. Đại lược bài học hôm nay. Namo Buddhaya.

II. Nội dung chính


Lúc còn tu tập, Phật phân loại các tư tưởng khởi lên thành hai nhóm. Một nhóm đưa đến hại mình, hại người, hại cả hai, diệt trí tuệ, dự phần vào phiền não: đó là những tư duy liên hệ đến dục, sân và hại. Khi tuệ tri như vậy, các tư duy ấy được Ngài từ bỏ, đoạn tận. Một nhóm không đưa đến hại mình, hại người, hại cả hai; tăng trưởng trí tuệ, không dự phần vào phiền não, đưa đến niết bàn: đó là những tư duy liên hệ đến ly dục, vô sân và bất hại. Khi an trú với những tầm này, dù cả ngày đêm Ngài cũng không thấy sợ hãi. Nhờ Ngài dũng mãnh tinh tấn như vậy, nên được định tĩnh nhất tâm, chứng bốn thiền cho đến ba minh, thành Phật.

[Trích Toát yếu Kinh Trung Bộ - NS Thích Nữ Trí Hải]

Chúng con kính cung thỉnh ............ từ bi thuyết giảng Phần II. Nội dung chính bài học hôm nay. Namo Buddhaya.

III. Người Xưa Chốn Cũ (NS Liễu Pháp biên soạn)

Hỏi: Xin cho biết câu chuyện của Tôn giả Ramaniyakutika ?

Đáp: Tôn giả Ramaniyakutika ở trong một chòi lá, gần một ngôi làng nhỏ, trong xứ Vajji. Đó là một am thất nhỏ, xinh đẹp với sàn nhà và vách tường khéo làm xung quanh có vườn, ao hồ và có rải cát đẹp, mịn. Giới hạnh của vị trưởng lão càng làm tăng thêm sự hấp dẫn của ngôi nhà.

Ngài chứng quả A-la-hán và tiếp tục sống tại đấy. Khi nào có người đến viếng tinh xá, họ có thấy ngôi chòi xinh xắn. Một ngày kia, một vài người đàn bà đi ngang qua, thấy ngôi chòi xinh đẹp, liền nghĩ người ở chòi lá này có thể là một thanh niên mà họ có thể cám dỗ. Họ đến gần ngài và nói: 'Cái chòi của ngài thật là xinh đẹp, chúng tôi cũng thật xinh đẹp trong tuổi trẻ của chúng tôi'. Và họ bắt đầu khoe khoang áo xiêm đẹp của mình. Nhưng vị Trưởng lão nói lên bài kệ, diễn tả tâm trạng thoát tục của ngài:

Ngôi chòi ta xinh đẹp,
Do đàn tín cúng dường,
Với tâm ý hoan hỷ,
Với lòng tin dâng cúng.
Ta không cần thiếu nữ,
Này các nữ nhân kia,
Hãy đi đến những ai,
Có cần đến các cô.

Với chữ: 'Không cần', ngài tuyên bố chánh trí của ngài, khi chứng quả A-la-hán.

[Lược trích từ Trưởng lão Tăng Kệ].


Chúng con kính cung thỉnh ............ từ bi thuyết giảng Phần III. Người Xưa Chốn Cũ bài học hôm nay. Namo Buddhaya.

IV. Chữ và nghĩa
(TT Tuệ Siêu biên soạn)

Hỏi: Xin cho biết ý nghĩa của chữ tầm (Vitakka) theo kinh tạng và theo A tỳ đàm ?

Đáp: Danh từ Tầm (Vitakka) nói theo kinh tạng là sự suy nghĩ, sự tư duy (vitakketī' ti vitakko). Trong kinh tạng vitakka đồng nghĩa với saṅkappa cũng đồng nghĩa với chữ tâm (citta); ở trong bài kinh song tầm là nói đến hai sự suy nghĩ, hai tư tưởng trong việc tu tập.

Theo vi diệu pháp, tầm (vitakka) là một thứ tâm sở (vitakka cetasika) là một thuộc tính đồng sanh với tâm, phối hợp với tâm để làm nhiệm vụ hướng tâm đến cảnh. Tầm tâm sở theo vi diệu pháp thì chỉ là một thành phần của tư tưởng, không thể tự nó biết cảnh.

Do đó mặc dù chữ vitakka trong kinh tạng hay trong vi diệu pháp tạng đều dịch là tầm nhưng nên hiểu ở hai lĩnh vực tùy theo chổ sử dụng.


Chúng con kính cung thỉnh ............ từ bi thuyết giảng Phần IV. Chữ và nghĩa bài học hôm nay. Namo Buddhaya.

V. Học và hỏi (Sư Tuệ Minh biên soạn câu trả lời)

Hỏi: Trong sự tu tập, ngoài pháp môn như lý tác ý để đoạn trừ tà tư duy, còn có pháp môn nào khác để đình chỉ tà tư duy chăng ?

Ðáp: Tà tư duy (miccāsaṅkappo) là sự suy nghĩ bất thiện, như ý tưởng tham dục, ý tưởng sân hận, não hại.

Ngoài sự tu tập pháp môn như lý tác ý để đoạn trừ tà tư duy, còn rất nhiều pháp môn đoạn trừ pháp bất thiện này, như có thể tu tập tứ chánh cần, tập thói quen thường cận y thiện, hành xả ly, năng quán vô thường, khổ, vô ngã của các pháp ...
.

Chúng con kính cung thỉnh ............ từ bi thuyết giảng Phần V. Học và hỏi bài học hôm nay. Namo Buddhaya.


VI. Đố Vui (TT Tuệ Siêu biên soạn)

1. Một vị tu tập đối với tà tư duy sanh khởi, làm thế nào để diệt trừ tà tư duy ấy ?

a. Phải quán sát sự nguy hại của tà tư duy.
b. Cần phải phát triển chánh tư duy.
c. Cần phải áp dụng cả hai cách trên.
d. Áp dụng một trong hai cách trên đều được.

2. Danh từ tà tư duy ở đây là ám chỉ điều gì ?

a. Tư tưởng liên hệ đến tham sân.
b. Tư tưởng liên hệ đến tà kiến.
c. Tưởng liên hệ đến ngã mạn.
d. Tưởng liên hệ đến tật đố.

3. Trong chánh tư duy, bất hại tư duy đồng nghĩa với thiện pháp nào ?

a. Tâm từ.
b. Tâm bi.
c. Tâm hỷ.
d. Tâm xả.


________________________________________

Phần II:
Hồi Hướng này đọc khi kết thúc phần đố vui và giảng sư mời Pt MC lên hoàn mãn buổi học. Giới thiệu bài học hôm sau/ Hồi Hướng (Tri Chúng lên hồi hướng).

Sadhu! Sadhu ! Lành Thay!
Con .......... thay mặt đại chúng trong room, chúng con kính tri ân Chư Tôn Đức đã mở lòng bi mẫn giảng dạy Phật pháp hữu ích cho chúng con , đã hướng dẫn, dìu dắt chúng con tiến bước trên hành trình tu tập hầu mong đem lại an lạc trong đời sống và hướng đến đạo quả giải thoát luân hồi. Nguyện hồi hướng phước báu pháp thí đến Ni Sư Diệu Tịnh được nhiều an lạc, tùy tâm mãn nguyện. Cám ơn đại chúng đã lắng tâm thanh tịnh thính pháp. Kính cám ơn quý chủ nhiệm, Ops, xướng ngôn viên đã yểm trợ cho các phần hành trong lớp học được hoàn tất mỹ mãn. Chúng con kính chúc chư Tôn Đức thân tâm thường lạc, đạo hạnh trang nghiêm, tâm bồ đề viên đắc, Phật đạo chóng viên thành, chúc quý đạo hữu luôn an lạc cát tường trong chánh pháp nhiệm màu của Đức từ phụ Thích Ca Mâu Ni.

Kính Bạch chư Tôn Đức,
Kính thưa quý đạo hữu,

Ngày mai chúng ta sẽ có Lớp Thiền Học do TT Giác Đẳng đảm trách phần II Nội Dung ChínhChư Tôn Đức giảng sư sẽ giảng giải các phần khác trong bài học, với sự điều hợp chương trình của các OpsMC. Để kết thúc chương trình xin chúng ta nhất tâm hồi hướng.

Nguyện công đức đã làm
Kết duyên lành giải thoát
Nguyện hồi hướng chư thiên
Hàng thiện thần hộ pháp
Nguyện các bậc hữu ân
Ðồng thừa tư công đức
Nguyện chánh pháp trường tồn
Chúng sanh cầu giải thoát
Namo Buddhaya

mở kinh tụng và nhạc, (đóng room)

Kính thưa đại chúng, chương trình sinh hoạt hôm nay đến đây đã kết thúc. Ban điều hành room Diệu Pháp xin phép được đóng room trong vài giây tới. Kính chào tạm biệt tất cả hẹn ngày mai sẽ trở lại trong giờ thường lệ. Namo Buddhaya.

Thứ Ba, 2 tháng 1, 2007

No. 1308 NEW (Hạt Cát dịch)

Những ngôi chùa Phật Giáo Nguyên Thủy

tại tiểu bang Indiana, Hoa Kỳ

Những ngôi chùa Phật Giáo tại đây đã mang thêm màu sắc văn hóa đa dạng cho tín ngưỡng.

Slideshow: Buddhism in Fort Wayne

Tue, Jan. 02, 2007

Fortwayne, Indiana - Fort Wayne -- thành phố lớn thứ hai của tiểu bang Indiana, Hoa Kỳ, luôn luôn hoan nghênh di dân - từ Ðức Quốc hơn một thế kỷ trước đến Miến Ðiện trong 10 năm qua.

Dân tộc Mons, một nhóm sắc tộc thiểu số Miến Ðiện, đã chọn Fort - Wayne vì những việc làm trong các hãng xưởng có mức lương cao và chi phí đời sống dễ chịu. Ða số dân Miến Ðiện bắt đầu đến Fort Wayne sau năm 1998 khi phong trào ủng hộ dân chủ bắt đầu nổi dậy trên quê hương của họ.

Hiện có khoảng 2000 đến 3000 người Miến và 500 người Mons ở Fort Wayne. Những người Miến di dân đến đấy đồng thời cũng mang triết lý Phật giáo đến cho cộng đồng.

Trong vòng 12 năm qua, 6 ngôi chùa Phật Giáo đã đi vào mạng lưới hoạt động tôn giáo. Tất cả pháp hành đều giống nhau theo truyền thống Phật Giáo Theravada nhưng khác biệt nhau về ngôn ngữ và văn hóa. Các ngôi chùa ấy gồm có:

1- •Wat Lao Samakky, 6409 Decatur Road, được hướng dẫn bởi Sư Trụ Trì Khen Pannaparo. Ngôn ngữ được sử dụng ở ngôi chùa này là tiếng nói xứ Vạn Tượng Lào Quốc.

2- •Society of Theravada Buddha Dhammarekkhita Monastery, 8133 Hartzell Road, được hướng dẫn bởi Sư Ashin Visakhana, nói tiếng Miến Ðiện.

3- •Jetavan Temple, 1204 Sylvia St., được hướng dẫn bởi Sư trụ trì Kuthala, nói tiếng Miến Ðiện.

4- •Mon Buddhist Temple, 5824 Decatur Road, hướng dẫn bởi Sư trụ trì Endasara and Visuddha, ngôn ngữ chính là tiếng Mon.

5- •Vihara Mon Buddhist, 3725 McCormick Ave., được hướng dẫn bởi Sư trụ trì Sundima. ngôn ngữ chính tiếng Mon.

6- •Indiana Buddhist Institute, 5712 Webster Street, được hướng dẫn bởi Sư trụ trì Thalangama Devananda. Ngôn ngữ chính Tích Lan nhưng tiếng Anh cũng được sử dụng.

Tương tự nhưng khác biệt.

Ngôn ngữ chính là điểm khác biệt quan trọng giữa những ngôi chùa.

Nai Yekha, đồng thư ký tại ngôi chùa Mon nói dân tộc Mon không biết khấn nguyện hay kệ kinh bằng tiếng Miến. "Mục đích của tôn giáo thực sự không khác nhau, chỉ khác nhau điều duy nhất là ngôn ngữ", Nai Yekha nói như trên.

Chư Tăng Lào cạo chân mày nhưng chư tăng Mon và Miến Ðiện thì không. Chư tăng Miến Ðiện đắp y màu nâu đỏ, chư tăng Tích Lan thì đắp y màu vàng cam sậm, nhưng sự khác biệt của văn hóa càng sâu đậm hơn.

Căn cứ theo Sisakhone Mounsamruath, một thành viên tham dự cả chùa Lào Wat Lao Samakky và chùa Mon, một phụ nữ có thể dâng cúng phẩm vật đến thẳng cho một tu sĩ Tích Lan hoặc người Mon, nhưng ở một ngôi chùa Lào thì người phụ nữ không được làm như thế. Người nam luôn luôn ngồi phía trước và người nữ ngồi phía sau những lúc tụ tập lễ bái.

Bất kể ngôn ngữ gốc và quốc gia là gì, tất cả chư tăng đều biết tiếng Pali, ngôn ngữ cổ xưa mà Ðức Phật đã sử dụng.

Mỗi chùa thường thỉnh mời chư tăng ở các chùa khác mỗi khi có những dịp lễ hội đặc biệt.

Các lễ hội đặc biệt thường xuyên xảy ra trong năm. Có một số lễ hội đặc biệt theo phong tục tập quán từng quốc gia.

Một vài nghi lễ ý nghĩa trong Phật Giáo Theravada gồm Tân Niên Phật Giáo, lễ hội kéo dài ba ngày kể từ ngày trăng tròn đầu tiên trong tháng Tư, và lễ hội Vesak vào khoảng thời gian ngày trăng tròn đầu tiên trong tháng Năm, kỷ niệm ngày đản sanh, thành đạo và nhập Niết Bàn của Ðức Phật hơn 2500 năm trước.

"Khi có lễ hội đặc biệt chúng tôi cần năm vị tu sĩ, chúng tôi phải thỉnh cầu từ các chùa khác" Kham Kenchanh thuộc chùa Wat Lao Samakky nói như trên.

Bắt đầu.

Ða số các ngôi chùa địa phương bắt đầu từ một ngôi nhà thuê và việc thỉnh cầu một tu sĩ, người nói tiếng mẹ đẻ của họ, đến trú ngụ tại đó. Các thành viên của ngôi chùa cùng nhau đóng góp để trang trải tiền thuê mướn và các phí tổn khác. Theo như truyền thống sẵn có ở quê nhà, các phụ nữ thay phiên nhau sửa soạn thức ăn cho chư tăng.

Phòng khách được biến thành chánh điện dành cho việc phụng thờ và các nghi lễ Phật sự. Nếu chư tăng quyết định ở lại thường trú và chùa có đông đảo thành viên yểm trợ, việc tìm kiếm bất động sản bắt đầu.

Năm 1997, cộng đồng người Lào ở Fort Wayne quyết định rằng rất quan trọng cho họ tự thành lập ngôi chùa riêng của họ, Wat Lao Samakky, sau 20 năm chạy tới chạy lui đến một ngôi chùa Lào khác ở Rockford, Illinoise.

Căn cứ theo Sisakhone Mousamruath, một láng giềng của cô, Pieng Thongkhot, một tu sĩ, đã kêu gọi tất cả những gia đình người Lào ở Fort Wayne - khoảng 100 gia đình - và hỏi họ có thể đóng góp mỗi gia đình $ 10 đô la một tháng để thuê ngôi nhà cho một tu sĩ.

Ba năm sau, với khoảng 80 thành viên tích cực, họ đã mua được một cơ ngơi trên đường Decatur Road. Một ngôi nhà gạch nông trại cũ hiện nay có hai con rồng cement ở mái hiên trước.

Tháng Tư 2005, Society of Theravada Buddha Dhammarekkhita Monastery - Hiệp hội Phật giáo Nguyên Thủy Tu Viện Dhammarekkhita dời đến một địa điểm 7 acre trên đường Hartzell Road. Nhưng rồi cũng vẫn không đủ chỗ, mùa xuân vừa qua, 200 thành viên phải tản mát ra từ phòng khách đổi thành chính điện vào nhà bếp, hành lang v.v... nơi mà mà họ có thể theo dõi buổi lễ qua TV.

Với hy vọng phát triển tương tự, ngôi chùa Mon đã trả dứt nợ mortgage qua mùa hè và đang để mắt đến khoảng đất trống bên cạnh với mục đích làm bãi đậu xe để đáp ứng cho con số thành viên đang gia tăng từ con số ban đầu ít ỏi 100 vào năm 1999 và bây giờ là 500.

Có lẽ những ngôi chùa Phật Giáo lôi cuốn những ngôi chùa Phật giáo khác. Sự việc được tiếp nhận ở Fort Wayne của các ngôi chùa Phật giáo đã khuyến khích một số Phật tử Tích Lan thành lập một ngôi chùa cho riêng cộng đồng của họ, Sư Thalagama Devananda của ngôi chùa Indiana Buddhist Temple nói như trên.

Sau khi xem qua hơn 100 địa điểm, một ngôi nhà 3 tầng trên đường Webster đã được chọn. Ngôi nhà trông giống như tất cả các ngôi nhà khác trên con đường yên tĩnh này. Ða số mọi người lái xe ngang qua sẽ không biết được nếu như không có những lá cờ Phật giáo bay phất phới trước nhà. Nhìn gần hơn nữa sẽ phát giác ra đống giày dép ở cửa trước. Như tất cả các ngôi chùa khác, tín chúng được yêu cầu phải bỏ giày ra trước khi bước vào chùa.

Ða số các thành viên của ngôi chùa Indiana Buddhist Institute đến từ các khu ngoại thành, cùng những thành viên đến từ Illinoise, Michigan và Indiana.

Sau một phen chuyển đổi cơ sở trong công việc, Ellie Hernawati, người được nuôi dưỡng trong tinh thần Phật Giáo Indonesia, nay là một thành viên của Indiana Buddhist Institute, đã không dự trù là sẽ tìm thấy được nhiều cộng đồng Phật Giáo ở Fortwayne, nói:

"Tôi rất ngạc nhiên khi tìm thấy tôn giáo này và các nền văn hóa đa dạng ở Fortwayne. Tôi thật sự vui mừng. Càng ngạc nhiên hơn nữa khi nhìn thấy biết bao nhiêu người và bao nhiêu nền văn hóa khác nhau đã dung hợp trong một nơi chốn như thế này. Ngay cả một số không phải là Phật tử, họ cũng được hoan nghênh, họ tham gia, chúng tôi tụ tập lại với nhau, tất cả đều vui vẻ".


Nhật Hành

Ngày: 02 tháng 01 năm 2007

Tri chúng: Dương Tiêu

Tri chúng điền khuyết: Karuna

Môn học: Lớp Ngôn Ngữ Thiền Môn

Bài học: 100 Từ Vựng Phật Học Với cách dùng dị biệt giữa Nam và Bắc Truyền


Giảng Sư Chính: TT Giác Đẳng

Giảng Sư Điền khuyết: TT Tuệ Siêu

Vị Tăng hoặc Ni nói lời cầu nguyện đầu lớp học: ĐĐ Minh Hạnh

Xướng ngôn viên: TC & TC đk, Sangkhaly, Bich Thu (ĐK: Tinh Tan (MC 1 only), Hat Cat, Anitya, Nguon Duc Hanh, Upekha, Nhu Phuc, Minh Chau54)
http://www.phapluan.nethttp://bandieuhanh.blogspot.com

Người mở room: Bich Thu, Hat Cat.

Người mở nhạc và kinh tụng: Hat Cat, Bich Thu, Anitya

Người hoán chuyển bài cho Room: Bich Thu - Nhu Phuc (đk)

Người post bài cho Room: Bich Thu, Nguon Duc Hanh, Hat Cat, Upekha.

Người post và gửi bài riêng cho chư Tăng: Hat Cat, Upekha.

Trực room (op): TC đk & Upekha, Nguon Duc Hanh.

Thông báo (nếu có): Cô Minh Châu xin nghỉ phép 15/12 - 15/1/07.

Thứ Hai, 1 tháng 1, 2007

Bài Đọc ngày thứ 3 của MC

Phần I
Lễ Tam Bảo, Phần này đọc sau khi dứt kinh tụng


Namo Buddhaya
MC1: Con ............. (................ điền khuyết) thành kính đảnh lễ Chư Tôn Ðức Tăng Ni, thân chào tất cả quí vị hiện diện. Hôm nay ngày 02 tháng 01 năm 2007 Phật lịch 2550. Ðây là chương trình Phật Học trực tiếp thực hiện trên Paltalk mỗi ngày, giờ VN nhằm 8:00 đến 10:30 tối, giờ Houston 7:00 đến 9:30 sáng, giờ NY từ 8:00 đến 10:30 sáng, giờ Cali 5:00 đến 7:30 sáng, giờ Paris 2:00 đến 4:30 chiều, giờ Sydney 12:00 tối đến 2:30 sáng.

Kính thưa quý vị Lớp Ngôn Ngữ Thiền Môn hôm nay chúng ta sẽ học bài 100 Từ Vựng Phật Học Với cách dùng dị biệt giữa Nam và Bắc Truyền do TT Giác Đẳng giảng giải phần II nội dung chính. Chúng ta sẽ được nghe chư Tôn Ðức giảng giải các phần khác trong bài học, chương trình tiếp tục với các câu đố và kết thúc với bản tin Phật Giáo.

Mở đầu chương trình xin tất cả chúng ta trang nghiêm tam nghiệp đảnh lễ Tam Bảo.

Chúng con xin kính thỉnh Đại Đức Minh Hạnh đọc kinh Lễ Tam Bảo hôm nay. Namo Buddhaya

(Đại Đức Minh Hạnh)

Nhất tâm đảnh lễ Ðức Như Lai bậc Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Ðiều Ngự, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.

Nhất tâm đảnh lễ Chánh Pháp do Phật thiện thuyết, thiết thực hiện tiền, vượt ngoài thời gian, đến để chứng nghiệm, hiệu năng hướng thượng, trí giả thân chứng.

Nhất tâm đảnh lễ Chư Tăng đệ tử Thế Tôn bậc diệu hạnh, trực hạnh, như lý hạnh, chân chánh hạnh, gồm bốn đôi tám vị, đáng nhận lễ phẩm, tặng phẩm, tế phẩm, kính lễ, là phước điền vô thượng trong đời.

Nguyện cầu uy đức Phật Bảo
Nguyện cầu uy đức Pháp Bảo
Nguyện cầu uy đức Tăng Bảo
Xin Tam Bảo gia hộ
Ngăn ngừa mọi tai ương
Những hiện tượng bất tường
Những mộng mị xấu xa
Những nghịch duyên trở ngại
Thảy đều mau tan biến
Nguyện muôn loài chúng sanh
Người khổ xin hết khổ
Người sợ hết sợ hãi
Người sầu hết sầu bi
Biết cho với niềm tin
Biết hộ trì giới hạnh
Biết lạc trú trong thiền
Chư thiên đã vân tập
Xin tùy hỷ phước lành
Ðược cát tường như ý
Rồi phản hồi thiên xứ
Chư Toàn Giác đại lực
Chư Ðộc Giác đại lực
Thinh Văn Giác đại lực
Nguyện tổng trì uy đức
Cầu phúc lành phát sanh (lạy)
*****************************
___________________________________________________

(MC1 của phần I: ............... (.............. điền khuyết) )

Kính tri ân Sư Minh Hạnh.
Kính bạch chư tôn đức
Kính thưa đại chúng

Bài Học hôm nay:
100 Từ Vựng Phật Học Với cách dùng

dị biệt giữa Nam và Bắc Truyền

011. PHƯỚC (Puñña)
____________

I. Đại lược (TT Giác Đẳng biên soạn)

Phước là một dụng ngữ vô cùng phổ thông trong tất cả nền văn hóa Phật giáo. Chính do sự phổ thông nầy tạo thành nhiều khác biệt giữa hai truyền thống Nguyên Thủy và Đại Thừa. Phật giáo Đại thừa có nhiều cách dùng gần với dân gian hơn trong lúc Phật giáo Nguyên thủy nghiêng về quan niệm chính thống của kinh điển. Sự đơn cử những dị biệt giữa hai truyền thống sẽ là một gợi ý quan trọng cho người tu học đối với đề tài tuy thường nói nhưng lại nhiều sai lạc nầy.

Chúng con kính cung thỉnh ............ từ bi thuyết giảng Phần I. Đại lược bài học hôm nay. Namo Buddhaya.

II. Nội dung chính


"Phước" theo Phật Giáo Nguyên Thủy:

1. Phước được dịch từ Phạn ngữ 'puñña' có nghĩa là nâng đỡ, gìn giữ, "chất liệu của an lạc", cái gì là nhẹ, sạch, thảnh thơi. Phước đến từ thiện nghiệp. Không có phước thì không thể an lạc.

2. Có sự phân biệt giữa: thọ hỉ (cảm giác vui sướng), năm dục trưởng dưỡng (sắc đẹp, tiếng hay, mùi thơm, vị ngọn và xúc lạc) và sự lợi lạc.

- Hỉ lạc hay cảm thọ hân hoan trong tâm bất thiện, tâm thiện thường được gọi là "những niềm hạnh phúc" nhưng không phải là phước vì không phải là quả của thiện nghiệp.

- Dục lạc gồm năm cảnh sắc, thinh, khí, vị, xúc khả ái khả ý. A Tỳ Đàm dạy rằng năm thức hưởng cảnh dục tốt nhất định là phước tức quả của thiện nghiệp.

- Lợi lạc hay điều mang lại lợi ích thí dụ sự la rầy của một bậc thầy nghiêm huấn tuy không làm cho học trò thoải mái nhưng mang lại lợi ích lâu dài cho học trò. Được răn dạy như vậy cũng là điều có phước.

3. Phước có phước hữu lậu (quả lành trong luân hồi) và phước vô lậu (phước dẫn đến giác ngộ giải thoát). Phước có phước vật, phước đức, phước trí. Như vậy tất cả trí tuệ đều là phước.

4. Không có điều gì gọi là "may mắn" mà chỉ có phước nâng đỡ, trổ quả, can thiệp. Vì không thấy được nhân quá khứ nên cho là may mắn.

5. Một việc làm có phước tùy vào tác ý, hành động và đối tượng. Không phải chỉ có một quyết định tất cả.

6. Trong tất cả sự bố thí tài vật thì Tăng thí là phước lớn nhất. Pháp thí cao quí nhất trong tất cả sự ban tặng. Bố thí là pháp đứng đầu trong tất cả liệt kê về thiện sự.

(Phước theo Phật Giáo Đại thừa sẽ được giảng vào tuần tới).

Chúng con kính cung thỉnh ............ từ bi thuyết giảng Phần II. Nội dung chính bài học hôm nay. Namo Buddhaya.

III. Người Xưa Chốn Cũ

Hỏi: Xin cho biết về khu rừng Sītavana ?

Đáp: Sītavana (Rừng mát) là một khu rừng gần thành Vương Xá (Rājagaha). Trong khu rừng này có một nghĩa địa thường được mô tả là rất đáng sợ (bhayabherava). Đây là nơi ông Cấp Cô Độc gặp Đức Phật lần đầu tiên. Trong khu rừng có một cái hang hình đấu rắn, thường được gọi là hang đầu rắn (Sappasoṇḍīka-pabbhāra), là nơi tôn giả Upasena Vangantaputta bị rắn cắn chết. Tôn giả Soṇa Koḷivisa từng đến đây cố gắng tu khổ hạnh nhưng thất bại. Tôn giả Sambhūta rất ưa thích sự yên tĩnh của khu rừng, thường trú tại đây, và vì vậy được gọi là tôn giả Sìtavaniya.

Chúng con kính cung thỉnh ............ từ bi thuyết giảng Phần III. Người Xưa Chốn Cũ bài học hôm nay. Namo Buddhaya.

IV. Chữ và nghĩa (TT Tuệ Siêu biên soạn câu trả lời)

Hỏi:
Chữ "Hạnh phúc" của người đời thường dùng có tương đương với chữ phước trong Phật Pháp không ?

Đáp: Tiếng nói "Hạnh phúc" theo thường thức muốn ám chỉ sự an vui về vật chất lẫn tinh thần của người đời. Do đó trong ý nghĩa này cũng có phần tương đương với chữ phước trong Phật giáo.

Tuy nhiên, chữ "Hạnh phúc" nếu xài cho đúng chữ nghĩa Pāli thì phải là chữ Mangala hay Sukha, hai chữ này là hạnh phúc hay an lạc hoặc an vui, là sự thành tựu của phước; chữ Phước danh từ Pāli gọi là Puñña là nói đến điều thiện, điều mà đem lại cho tâm chúng sanh được trong sạch.

Do vậy khi người đời nói rằng sống hạnh phúc thì cũng có nghĩa là được hưởng phước nên được an lạc. Chỉ có cách dùng chữ thì chữ hạnh phúc không tương đương với chữ phước về phương diện từ ngữ Pāli.

Chúng con kính cung thỉnh ............ từ bi thuyết giảng Phần IV. Chữ và nghĩa bài học hôm nay. Namo Buddhaya.

V. Học và hỏi (Sư Tuệ Minh biên soạn câu trả lời)

Hỏi: Người tu giải thoát có cần tạo phước không ?

Ðáp: Người tu giải thoát ở đây được hiểu theo hai hạng người thánh nhân và phàm nhân.

Đối với bậc Thánh việc hành Pháp, làm các công đức là do sở hành hoặc làm gương cho chúng sanh. Còn phàm nhân có lý tưởng giải thoát thì việc tạo phước là cần thiết, vì tạo các công đức là sự tu tập và để bổ túc cho pháp Ba la mật tròn đầy.

Chúng con kính cung thỉnh ............ từ bi thuyết giảng Phần V. Học và hỏi bài học hôm nay. Namo Buddhaya.


VI. Đố Vui (TT Giác Đẳng biên soạn)

1. Ý nghĩa nào dưới đây đúng với nghĩa chữ "Phưóc" trong Phật Pháp ?

a. Quả thiện.
b. May mắn.
c. Pháp nâng đỡ.
d. Câu a và c.

________________________________________

Phần II:
Hồi Hướng này đọc khi kết thúc phần đố vui và giảng sư mời Pt MC lên hoàn mãn buổi học. Giới thiệu bài học hôm sau/ Hồi Hướng (Tri Chúng lên hồi hướng).

Sadhu! Sadhu ! Lành Thay!
Con .......... thay mặt đại chúng trong room, chúng con kính tri ân Chư Tôn Đức đã mở lòng bi mẫn giảng dạy Phật pháp hữu ích cho chúng con , đã hướng dẫn, dìu dắt chúng con tiến bước trên hành trình tu tập hầu mong đem lại an lạc trong đời sống và hướng đến đạo quả giải thoát luân hồi. Nguyện hồi hướng phước báu pháp thí đến Ni Sư Diệu Tịnh được nhiều an lạc, tùy tâm mãn nguyện. Cám ơn đại chúng đã lắng tâm thanh tịnh thính pháp. Kính cám ơn quý chủ nhiệm, Ops, xướng ngôn viên đã yểm trợ cho các phần hành trong lớp học được hoàn tất mỹ mãn. Chúng con kính chúc chư Tôn Đức thân tâm thường lạc, đạo hạnh trang nghiêm, tâm bồ đề viên đắc, Phật đạo chóng viên thành, chúc quý đạo hữu luôn an lạc cát tường trong chánh pháp nhiệm màu của Đức từ phụ Thích Ca Mâu Ni.

Kính Bạch chư Tôn Đức,
Kính thưa quý đạo hữu,

Ngày mai chúng ta sẽ có Lớp Trung Bộ Kinh do ÐÐ Lá Bối đảm trách phần II Nội Dung ChínhChư Tôn Đức giảng sư sẽ giảng giải các phần khác trong bài học, với sự điều hợp chương trình của các OpsMC. Để kết thúc chương trình xin chúng ta nhất tâm hồi hướng.

Nguyện công đức đã làm
Kết duyên lành giải thoát
Nguyện hồi hướng chư thiên
Hàng thiện thần hộ pháp
Nguyện các bậc hữu ân
Ðồng thừa tư công đức
Nguyện chánh pháp trường tồn
Chúng sanh cầu giải thoát
Namo Buddhaya

mở kinh tụng và nhạc, (đóng room)

Kính thưa đại chúng, chương trình sinh hoạt hôm nay đến đây đã kết thúc. Ban điều hành room Diệu Pháp xin phép được đóng room trong vài giây tới. Kính chào tạm biệt tất cả hẹn ngày mai sẽ trở lại trong giờ thường lệ. Namo Buddhaya.

No. 1307 NEW (Như Quang lược dịch)

Vai trò của Phật giáo trong việc giáo dục thiếu niên

Saturday, December 30, 2006

Seattle - WA -- Bà Chou Sa Ngoun vô cùng tuyệt vọng. Michael Ngoun, con trai bà trốn học, sử dụng ma túy, bị cảnh sát bắt giữ, đêm không về nhà, và tụ tập với trẻ xấu. Không điều gì bà làm có thể chuyển hóa được con. Bà đã thử trừng phạt, la hét, khóc lóc, tư vấn, chuyển trường hoặc gởi con vào quân đội nhưng không được nhận vì cậu chưa đủ tuổi. Cuối cùng gia đình bà làm một cuộc viếng thăm Cam bốt vào năm 2004 và để Michael ở lại một ngôi chùa cho chư tăng nuôi dạy. Sau hai năm sống đời tu sĩ, Michael đã trở về nhà vào tháng 1, 2006 với bằng cấp tốt nghiệp trung học, một số kỷ năng chuyên môn và một ý nguyện sẽ sống một đời sống tốt hơn. Michael nói rằng: “Tôi đã học được rằng chúng ta nên từ bỏ những điều chúng ta ham muốn mà bằng lòng với những điều chúng ta có. Tôi đã học về đời sống của chúng ta sau khi chết và được dạy dỗ rằng nếu chúng ta hành điều thiện thì đời sau chúng ta sẽ hạnh phúc.”

Michael bắt đầu trốn học do sự khuyến dụ của các trẻ lớn tuổi hơn trong xóm. Bà đưa cậu đến trường cửa trước, cậu lẻn ra bằng cửa sau. Cậu nói dối cha mẹ, học toàn là điểm F, không làm những việc trong nhà, và đôi khi không về nhà. Vào năm 2002 cậu bị bắt vì trộm hàng hóa ở một cửa hàng. Năm sau thì bị bắt vì trộm tư gia, trộm xe. Lúc Michael 14 tuổi, gia đình bà chuẩn bị đi Cam Bốt và để Michael ở lại chùa ở Krolong, một ngôi làng trong vùng Kampong Cham không điện nước, chỉ có một vài cái điện thoại. Thoạt đầu, Michael rất giận dữ và định trốn đi nhưng không tiền, không vé máy bay và không có nơi nào để đi. Cậu tuyệt thực và xin được một cơ hội khác nhưng mẹ cậu bảo cậu chỉ được về nhà sau khi cậu đã sống ở chùa một thời gian và thay đổi cách sống của cậu. Biết mình không còn sự chọn lựa nào nữa, cậu đành phải đắp y, cạo đầu và tác bạch xuất gia.

Chùa Krolong cũng là một trường học tôn giáo nằm ở trung tâm của làng. Mỗi sáng Michael phải thức dậy từ lúc 5:45 sáng. Cậu hứng nước, trải tọa cụ và đặt bàn, chuẩn bị khăn cho vị thầy tế độ và một vị trưởng lão khác. Sau đó cậu mới dọn chỗ cho mình, thỉnh thầy và vị trưởng lão cùng ăn sáng. Họ nghĩ ngơi trong 10 phút rồi ra sân làm việc cho chùa và sân trường. Cậu và các vị sa di trẻ khác học cách trộn hồ, đổ gạch và xây dựng hàng rào. Cậu bắt đầu hiểu và nói đưọc tiếng Cam bốt cũng như học kinh và những lời dạy của Đức Phật. Cậu tắm ở giếng nước và cùng các vị tăng khác mang bình bát đi khất thực từng nhà. Họ không thể từ chối thực phẩm hay xin thêm. Họ phải chấp nhận tất cả những gì họ được cúng dường. Thực phẩm xin được, được để vào một dĩa chung và đó là bữa ăn cuối cùng trong ngày mà mọi người cùng ăn trước ngọ.

Một đêm cậu nằm mơ thấy 12 ngạ quỷ trong kinh điển của Đức Phật hiện ra và khuyến dụ cậu đừng sống đời phạm hạnh. Cậu vô cùng sợ hãi và khi thức giấc cậu không thấy cảnh chùa là nhà tù nữa. Lúc đó cậu đã sống trong chùa được chín tháng. Khi mẹ cậu điện thoại cho cậu, cậu xin được ở lại chùa thêm một thời gian nữa. Bà đồng ý và thu xếp cho cậu học hết chương trình trung học hàm thụ. Mấy tháng sau cậu tốt nghiệp và xin mẹ được trở về.

Khi về đến phi trường Seattle-Tacoma cậu vẫn còn đắp y và giữ đúng điều luật của tu sĩ là không va chạm với phụ nữ nên cậu không thể ôm mẹ cậu được. Khi trở về lại nhà, cậu nhận thấy thực phẩm mà cậu nhớ mấy năm qua bỗng trở nên vô vị và thành phố quá ồn ào. Cậu được mời đi chúc phúc ở các chùa và tư gia. Mẹ cậu hãnh diện nói, mọi người đảnh lễ cậu và tỏ lòng tôn kính cậu.

Vào một ngày thứ bảy cậu đã xả giới tại chùa White Center để trở về cuộc sống bình thường. Bây giờ cậu đã có thể ôm mẹ cậu và tìm việc làm. Cậu dự định sẽ đóng góp một phần lợi tức cho chùa ở Cam Bốt vì cuộc sống ở đó rất thiếu thốn.

Như Quang lược dịch từ bài viết “Get Thee to a Temple” đăng trong báo “The Seattle Times”.