I. Đại lược (bản dịch NS Thích Nữ Trí Hải)
43. Ðồng thời với sự phá vỡ rào ngăn, tướng và cận hành định khởi lên cho vị tỷ kheo ấy. Nhưng khi sự phá vỡ rào ngăn đã đạt đến kết quả hành giả sẽ đắc định theo cách đã tả trong phần kasina đất không khó khăn nhờ đào luyện, tu tập, làm cho sung mãn tướng ấy.
Ở điểm này hành giả đã đắc sơ thiền, từ bỏ năm yếu tố, có được năm yếu tố, tốt đẹp ở ba phương diện có mười đặc tính, và câu hữu với từ. Và khi thiền này đã đạt được thì do tu tập, đào luyện, làm cho sung mãn tướng ấy, hành giả tuần tự đắc nhị thiền, tam thiền trong hệ thống bốn thiền, và nhị, tam, tứ thiền trong hệ thống năm thiền.
44. Bấy giờ, chính là với những thiền khởi từ sơ thiền, mà vị tỷ kheo ấy "An trú biến mãn một phương với tâm câu hữu với từ, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư, trên, dưới, bốn bên; cùng khắp thế giới bình đẳng, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với từ, chan chứa, cao cả, vô biên, không hận, không não." (D i.,250). Vì tính cách rộng rãi này chỉ phát sinh ở nơi một người tâm đã đắc định sơ thiền và các thiền còn lại.
Chúng con kính cung thỉnh ............ từ bi thuyết giảng Phần I bài học hôm nay. Namo Buddhaya.
II. Nội dung chính (bản dịch NS Thích Nữ Trí Hải)
IIA. 45. Với tâm câu hữu với từ: tâm có từ. Một phương bất cứ hướng nào trong đó hành giả trông thấy một chúng sanh đầu tiên, và (tâm từ) lan khắp đến những chúng sinh gồm trong phương ấy. Biến mãn: chạm đến làm thành đối tượng của vị ấy. Trú: làm phát sinh một chỗ trú, (một tương tục trong bốn uy nghi) dành cho các phạm trú.
46. (lược) Bốn bên: là những phương trung gian. Cứ thế hành giả để cho tâm sung mãn đức từ rải rắc qua lại khắp mọi hướng như một con ngựa trong trường đua. Cho đến điểm này, sự gieo rắc tâm từ còn chỉ rõ từng phương hướng riêng biệt.
47. Cùng khắp thế giới v.v... Chỉ sự biến mãn tâm từ không giới hạn. Bình đẳng: là đối với tất cả, hạng hạ, trung thượng, người bạn, kẻ thù, người dưng v.v... như với chính bản thân. Hoặc còn có nghĩa là với tất cả tâm hồn mình (nguyên văn: sabbattāya: với tất cả bản thân, hết mình) không chừa một chút gì sót lại mà không thấm nhuần bởi tâm từ.
IIB. 48. Biến mãn với tâm từ: được lặp lại ở đây để dẫn các tiếng đồng nghĩa sau: quảng đại v.v ... Hoặc, nó được lặp lại vì không có hai tiếng "cũng vậy" như trong trường hợp sự biến mãn có định hướng trước đó. Hoặc lặp lại để làm kết luận. Chan chứa, tràn trề, trong sự biến mãn. Cao cả là chỉ về bình diện, từ bình diện dục giới mà biến mãn tâm từ lên đến sắc giới. Vô lượng: do sự quen thuộc (trong việc biến mãn) và do lấy vô lượng chúng sanh làm đối tượng. Không hận do từ bỏ ác tâm và sân hận, không não là do từ bỏ buồn phiền đau khổ.
49. Và cũng như tính cách quảng đại này chỉ thành công với một người mà tâm đã đắc định, tính cách rộng lớn được nói trong Patisambhidā cũng cần được hiểu là chỉ thành công nơi một người đã đắc định.
50. "Từ tâm giải thoát được tu tập biến mãn không giới hạn bằng 5 cách, ấy là: mong rằng tất cả hữu tình thoát khỏi hận thù ưu não và sống hạnh phúc. Mong rằng tất cả loài có hơi thở ... tất cả sinh vật ... tất cả mọi người ... tất cả những gì có một nhân cách, đều được thoát khỏi hận thù, ưu não và sống hạnh phúc". (Ps. ii, 130).
IIC. 51. Từ tâm giải thoát được tu tập với sự biến mãn có từng bộ loại bằng 7 cách: "Mong tất cả nữ nhân thoát khỏi hận thù, ưu não và sống hạnh phúc. Mong tất cả nam nhân, ... tất cả bậc Thánh ... phi Thánh ... tất cả chư thiên ... tất cả loài người ... tất cả chúng sanh ở những đọa xứ được thoát khỏi hận thù ưu não và sống hạnh phúc". (Ps. ii, 131).
52. Từ tâm giải thoát được tu tập biến mãn theo từng phương hướng có 10 cách: Mong rằng tất cả chúng sanh ở phương đông thoát khỏi hận thù, ưu não, và sống hạnh phúc. Mong rằng chúng sanh ở phương tây ... phương bắc ... phương nam ... phương trung gian về đông ... phương trung gian về tây ... phương trung gian về nam ... phương trung gian về bắc ... phương dưới ... phương trên ... thoát khỏi hận thù ưu não và sống hạnh phúc. Mong rằng tất cả những vật có thở phương đông ... Mong rằng tất cả sinh vật phương đông ... Mong rằng tất cả người ở phương đông ... Mong rằng tất cả những gì có nhân cách ở phương đông ...(v.v.) ... ở phương trên được giải thoát khỏi hận thù, ưu não và sống hạnh phúc. Mong rằng tất cả đàn bà ở phương đông ... Mong rằng tất cả đàn ông ở phương đông ... Mong rằng tất cả Thánh giả phương đông ... Mong tất cả Phi Thánh ở phương đông ... Mong rằng chư thiên phương đông ... Mong tất cả loài người ở phương đông ... Mong rằng tất cả chúng sanh trong đọa xứ ở phương đông ... (v.v.) ... được thoát khỏi hận thù, ưu não và sống hạnh phúc" (Ps. ii, 131).
IID. 53. Ở đây, tất cả là không chừa sót một ai. Chúng sanh hay hữu tình: dịch từ satta, bị giữ lại, hay bị tóm lấy (visatta) bởi dục và tham đối với năm uẩn, khởi đầu là sắc, nên gọi là satta (hữu tình). Vì Đức Thế Tôn dạy như sau: "Này Rādha, phàm dục nào đối với sắc, tham nào đối với sắc, phàm thích thú nào trong đó, khát ái nào đối với nó, đã nắm giữ (satta) nó, tóm lấy nó (visatta), đó là lý do một hữu tình (satta) được gọi" (S. iii, 190). Nhưng trong ngôn ngữ thông thường, danh từ cũng dùng để gọi những người không tham, (lược).
54. Vật có thở (pāna) được gọi như thế là vì hiện hữu của chúng tùy thuộc vào hơi thở - vô hơi thở - ra. Hữu tình (bhūta) vì có hiện hữu (bhūtatta: sự trở thành) có trở thành (sambhūtatta) được sinh ra (abhinibbattatta) Người (Puggala) "pụm" là tên gọi địa ngục. Có nghĩa là chúng đọa (galanti) vào địa ngục, nên gọi là puggala (bố đặc già la). Tự ngã (attabhāva) là tên gọi cái thân vật lý; hay cả ngũ uẩn, vì đó kỳ thực chỉ là một khái niệm xuất phát từ năm uẩn (mặc dù trong nghĩa tối hậu, thì ngã tính ấy hoàn toàn không).
IIE. 55. Và tất cả những danh từ còn lại cần được hiểu như là đồng nghĩa với "tất cả chúng sanh" theo ngôn ngữ thông dụng. Dĩ nhiên còn nhiều tiếng đồng nghĩa khác, nhưng vì để sáng sủa rõ ràng mà từ tâm giải thoát được tu tập bằng cách biến mãn không giới hạn theo 5 cách đã nói, và chỉ nói đến 5 cách ấy mà thôi (nghĩa là satta, pāna, bhūta, puggala, và attabhūva).
56. Những người cho rằng không những chỉ có sự sai biệt trên ngôn từ giữa những tiếng "chúng sanh" có hơi thở ... mà còn có sự khác biệt thực sự trong ý nghĩa, sẽ thấy đoạn đề cập đến sự biến mãn không phân loại, vô hạn, đã xác chứng ngược lại. Bởi thế, thay vì hiểu theo cách đó sự biến mãn vô giới hạn từ tâm giải thoát được thực hiện đối với bất cứ cách nào trong 5 cách trên đều được cả.
IIF. Và ở đây, "mong rằng tất cả chúng sanh thoát khỏi hận thù" là một định an chỉ (absorption, appanā) thoát khỏi ưu (abyābajjha) là một an chỉ, và thoát khỏi não là một an chỉ, "mong rằng chúng sống hạnh phúc" là một an chỉ. Do đó hành giả nên tu tập biến mãn từ tâm với bất cứ câu nào trong đó mà hành giả cho là sáng sủa rõ ràng. Bởi thế với bốn loại định trong mỗi một cách của 5 cách, có tất cả 20 thứ định ở trong sự tu tập biến mãn không giới hạn.
57. Trong sự biến mãn có phân loài, với bốn thứ an chỉ định trong mỗi cách thuộc bảy cách, thì có 28 thứ định an chỉ (absorption). Và ở đây, nam, nữ là nói theo phái tính; thánh, phi thánh là chỉ thánh và phàm; chư thiên, người và chúng sanh ở đọa xứ là nói theo các loại tái sanh.
58. Trong sự biến mãn theo phương sở, với 20 thứ định trong mỗi phương, thì có 200 thứ định; và với 28 thứ mỗi phương thì có 280 thứ làm thành 480. Do đó, tất cả thứ định đề cập trong Patisambhidā lên đến 528 thứ.
Chúng con kính cung thỉnh ............ từ bi thuyết giảng Phần II bài học hôm nay. Namo Buddhaya.
III. Người Xưa Chốn Cũ (NS Liễu Pháp biên soạn)
Hỏi: Xin cho biết thêm chi tiết về cư sĩ Cấp Cô Độc ?
Đáp: Cấp Cô Ðộc" (Anāthapindika) vốn là một danh hiệu ám chỉ một "Mạnh Thường Quân" hằng phân phát thực phẩm đến dân nghèo (Piṇḍa), thường là những dân nghèo hành khất, không được ai che chở (Anātha), nên đã trở thành một "tước vị" danh dự cho dòng họ Trưởng giả Tu Ðà (Sudatta) của thành phố Xá Vệ (Sāvatthì).
Về mặt Ðời, ông đã đóng góp tích cực và hữu hiệu công tác cải tiến xã hội qua công trình thiết lập Trung tâm huấn nghệ, Trung tâm cứu đói, Viện dưỡng lão, Viện mồ côi, nhất là năm trăm khẩu phần thường trực tại tư gia cho những người xin ăn nghèo đói. Ông không hề biết từ chối. Nhà ông như giếng nước, như suối ngọt. Ai cần thì cứ tùy nghi sử dụng. Về mặt Ðạo, ông là một vị Hộ pháp thuần vĩ, là bậc Thánh Sơ quả Tu Ðà Hườn (Sotāpanno), là một thiện hữu trí thức mô phạm của toàn thể Phật tử tại gia đương thời.
Ðối với Đức Phật, ông chẳng những tuyệt đối y giáo tín thọ, mà còn thương kính quan hoài. Ông thường im lặng lắng nghe thay vì bộc bạch kính thưa, vì trong thâm tâm ông không muốn bất cứ ai làm phiền Đức Phật, kể cả bản thân ông. Ðức Phật biết rõ tâm trạng ông, nên thỉnh thoảng Ngài đặc ban pháp thoại.
Trong mười tám bài pháp liên quan ông Cấp Cô Ðộc thì có đến mười bốn bài do đức Phật tự thuyết. Ông thương kính đức Phật chí tình thì Đức Phật cũng từ ban cho ông cam lộ thủy. Thật đúng là bậc Ðạo Sư luôn sống với gánh nặng viễn ly, đệ tử cũng là người biết tùy nghi tu tập.
Ðối với Tăng Già, ông là một đại thí chủ hộ Tăng đắc lực. Ông như nước, chúng Tăng như cá. Ông phát tâm tình nguyện cúng dường thực phẩm thường trực cho năm trăm vị Tỳ kheo hóa trai ngang nhà ông. Mỗi ngày, ông đều đến Kỳ Viên tịnh xá hai lần: trưa và chiều. Buổi trưa ông đến chùa cúng dường Đức Phật và Tăng chúng các thức ăn, buổi chiều nước sinh tố. Chư Tăng, nhất là các vị Tỳ kheo trẻ và các vị tiểu Sa di xem sự hiện diện của ông là dấu hiệu của "Thần tài". Ông không bao giờ đi chùa tay không. Thông lệ mỗi chiều, sau khi thính pháp, ông đi một vòng quanh chùa để kịp thời cúng dường những nhu cầu riêng lẻ cho từng vị.
Trong phạm vi gia đình, ông hướng dẫn và an trú họ vào niềm tin chánh pháp. Duy nhất, một đứa cháu trai bị biệt nghiệp nặng nề, mặc dù ông nhiều lần giúp đỡ, cảm hóa, nhưng bất thành, nên đã chết trên đường lang bạt, vô thừa nhận. (Trích “Sử Tích Tu Đà Cấp Cô Độc”).
Chúng con kính cung thỉnh ............ từ bi thuyết giảng Phần III bài học hôm nay. Namo Buddhaya.
IV. Chữ và nghĩa (TT Tuệ Siêu biên soạn câu trả lời)
Hỏi: Từ "định an chỉ - appannā" trong bài học có nghĩa thế nào ?
Ðáp: Định an chỉ hay cũng gọi là định kiên cố, danh từ pālī là appaṇāsamādhi, nghĩa là trạng thái trú tâm vững chắc trên đối tượng đề mục, ở đây ám chỉ định trong thiền hiệp thế và siêu thế; ekaggatā (nhất hành tâm sở) hợp trong tâm dục giới, đôi khi cũng gọi là định nhưng đây không phải là định an chỉ, cận định (upacāra-samādhi) dù là trạng thái gần định tâm trong thiền nhưng cũng không gọi là định an chỉ vì định nầy cũng thuộc về dục giới.
Chúng con kính cung thỉnh ............ từ bi thuyết giảng Phần IV bài học hôm nay. Namo Buddhaya.
V. Học và hỏi (Sư Tuệ Minh biên soạn câu trả lời)
Hỏi: Tâm từ trong thiền và tâm từ trong cuộc sống hằng ngày giống nhau thế nào và khác nhau thế nào ?
Ðáp: Tâm (citta) là sự nhận biết cảnh. Khi tiếp nhận cảnh tâm sẽ phát sanh vui buồn, sướng khổ.
Tâm của vị hành giả tu tập thiền định là vị ấy chánh niệm tĩnh giác đối với nội tâm đang diễn biến, nhất cử nhất động của tâm vị ấy luôn kiểm soát chặt chẽ. Khi tâm đã định tĩnh, vị ấy dùng trí tuệ sát trừ phiền não cấu uế nơi tâm.
Còn tâm tư của chúng sanh là tiếp nhận cảnh đắm say với cảnh tiếp nhận. Nếu vừa lòng thì thỏa thích, bất toại nguyện thì bất mãn, tất cả những trạng thái đó là do không thấu đáo bản chất của các Pháp là vô thường.
Vì thế tâm vị hành giả và tâm của chúng sanh đều giống nhau trên phương diện tiếp nhận cảnh, nhưng đối với vị hành giả thì ghi nhận không chấp thủ, còn đối với chúng sanh thì ái chấp. Nên Đức Phật đã dạy: "Dù sống cả trăm năm mà không có thiền định, tốt hơn sống một ngày mà sống có thiền định".
Chúng con kính cung thỉnh ............ từ bi thuyết giảng Phần V bài học hôm nay. Namo Buddhaya.
VI. Đố Vui (TT Giác Đẳng biên soạn)
1. Khi nói tu tập tâm từ bằng cách trải rộng từ tâm đến khắp mọi phương hướng. Ðiều nào dưới đây nói đúng nghĩa câu trên:
a. Cảm xúc con người thường liên quan đến thị giác.
b. Cảm xúc con người thường liên quan đến những giá trị không gian.
c. Cảm xúc con người thường mang tính phiến diện.
d. Cả ba điều trên.
2. Câu nào dưới đây đúng với điều được ghi trong kinh điển:
a. Tâm từ là môt thứ cảm xúc lành mạnh trong đời sống hằng ngày.
b. Tâm từ có thể được biến mãn trong với thiền định.
c. Tâm từ nếu phát triển đầy đủ có thể hóa giải hiềm hận của chúng sanh khác.
d. Cả ba câu trên.
________________________________________
Phần II: Hồi Hướng này đọc khi kết thúc phần đố vui và giảng sư mời Pt MC lên hoàn mãn buổi học. Giới thiệu bài học hôm sau/ Hồi Hướng (Tri Chúng lên hồi hướng)
Sadhu! Sadhu ! Lành Thay!
Con .......... thay mặt đại chúng trong room, chúng con kính tri ân Chư Tôn Đức đã mở lòng bi mẫn giảng dạy Phật pháp hữu ích cho chúng con , đã hướng dẫn, dìu dắt chúng con tiến bước trên hành trình tu tập hầu mong đem lại an lạc trong đời sống và hướng đến đạo quả giải thoát luân hồi. Nguyện hồi hướng phước báu pháp thí đến Ni Sư Diệu Tịnh được nhiều an lạc, tùy tâm mãn nguyện. Cám ơn đại chúng đã lắng tâm thanh tịnh thính pháp. Kính cám ơn quý chủ nhiệm, Ops, xướng ngôn viên đã yểm trợ cho các phần hành trong lớp học được hoàn tất mỹ mãn. Chúng con kính chúc chư Tôn Đức thân tâm thường lạc, đạo hạnh trang nghiêm, tâm bồ đề viên đắc, Phật đạo chóng viên thành, chúc quý đạo hữu luôn an lạc cát tường trong chánh pháp nhiệm màu của Đức từ phụ Thích Ca Mâu Ni.
Kính Bạch chư Tôn Đức,
Kính thưa quý đạo hữu,
Ngày mai chúng ta sẽ có Lớp A Tỳ Đàm do TT Tuệ Siêu đảm trách phần II Nội Dung Chính và chư Tôn Ðức giảng sư trong room Diệu Pháp ở các phần khác, với sự điều hợp chương trình của các Ops và MC. Để kết thúc chương trình xin chúng ta nhất tâm hồi hướng.
Nguyện công đức đã làm
Kết duyên lành giải thoát
Nguyện hồi hướng chư thiên
Hàng thiện thần hộ pháp
Nguyện các bậc hữu ân
Ðồng thừa tư công đức
Nguyện chánh pháp trường tồn
Chúng sanh cầu giải thoát
Namo Buddhaya
mở kinh tụng và nhạc, (đóng room)
Kính thưa đại chúng, chương trình sinh hoạt hôm nay đến đây đã kết thúc. Ban điều hành room Diệu Pháp xin phép được đóng room trong vài giây tới. Kính chào tạm biệt tất cả hẹn ngày mai sẽ trở lại trong giờ thường lệ. Namo Buddhaya.