I. Đại lược (TK Giác Đẳng biên soạn)
Không lâu sau khi Giác ngộ, Đức Phật giảng bài pháp đầu tiên, trong đó Ngài trình bày cơ cấu chủ yếu làm cơ sở cho các giáo lý của Ngài về sau. Cơ cấu đó bao gồm Bốn Chân Lý Cao thượng, bốn nguyên tắc nền tảng của bản chất Pháp (Pháp-Dhamma) phát sinh từ sự đánh giá thấu đạt và chân thật tận cùng cội rễ điều kiện của con người. Ngài dạy các chân lý này không phải với tư cách các lý thuyết siêu hình hoặc như là những bài luận về đức tin, mà là các phạm trù, theo đó chúng ta phải khuôn dẫn thể nghiệm trực tiếp của chúng ta theo cách hỗ trợ cho sự Giác ngộ:
1. Khổ Thánh Đế: Khổ, sự không hài lòng, không thỏa mãn, áp lực căng thẳng (stress).
2. Tập Khổ Thánh Đế: Nguyên nhân của sự không thỏa mãn này là sự ham muốn (tanha) nhục cảm, muốn trở thành, muốn không trở thành.
3. Diệt Khổ Thánh Đế: Rời bỏ ham muốn.
4. Đạo diệt khổ thánh đế: Bát chánh đạo: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định.
Bởi vì vô minh (avijja) - Không biết được Tứ Thánh Đế, bởi vì không hiểu đối với thế giới quan đúng đắn, chúng ta mãi bị buộc ràng vào vòng luân hồi-samsara, mệt mỏi với sinh, lão, bệnh, tử, và tái sinh. Tham dục là động cơ thúc đẩy tiến trình này tiến lên, từ sát na này tới sát na khác và qua chu trình của vô vàn sinh mệnh, tùy theo nghiệp, kamma (Skt. karma), qui luật phổ quát của nhân quả. Theo qui luật bất biến này, mỗi hành động mà người ta làm ở phút giây hiện tại - dù là do thân, khẩu hay ý - cuối cùng sẽ có kết quả tùy theo sự khôn khéo của nó: hành động dại dột và có hại thì bất hạnh tiếp theo; hành động khôn khéo thì hạnh phúc nhất định tiếp nối. 12 Mãi khi nào ta còn không biết đến qui luật này, ta nhất định sống lông bông vô phương hướng: Lúc thì hạnh phúc, lúc lại khổ đau; một đời trên thiên đàng, kiếp sau lại rơi vào điạ ngục.
Đức Phật phát hiện ra rằng việc thoát khỏi luân hồi cần được giao cho mỗi Thánh Đế một nhiệm vụ cụ thể: Thánh đế thứ nhất phải được thấu hiểu, thứ hai: xả bỏ, thứ ba: thực hiện, thứ tư: phát triển. Thực hiện viên mãn Thánh Đế thứ ba dọn đường cho sự Giác ngộ: chấm dứt vô minh, tham, khổ, và nghiệp; trực nhập vào tự do tuyệt diệu và hạnh phúc siêu phàm như là đích cuối cùng cho mọi giáo lý của Đức Phật: Tự do, Tự tại, Bất tử, - Niết bàn - Nibbāna (Skt. Nirvana).
Chúng con kính cung thỉnh ............ từ bi thuyết giảng Phần I bài học hôm nay. Namo Buddhaya.
II. Nội dung chính
A. Bát chánh đạo và Thực hành Pháp.
Bởi vì cội rễ của vô minh xoắn xuýt mật thiết với mạng tâm lý chằn chịt, tâm vô minh có thể tự đánh lừa mình với sự khéo léo đáng kinh ngạc. Do đó mà giải pháp cần hơn là tử tế, quan tâm, yêu thương đơn thuần ở giây phút hiện tại. Hành giả phải tự trang bị cho mình kỹ năng cần thiết để sử dụng đa dạng các công cụ, để có thể khôn ngoan hơn, bền bỉ hơn và cuối cùng bứng gốc các xu hướng bất thiện của tâm. Chẳng hạn như thực hành bố thí (generosity) (dana) lần lần gột bỏ thói quen của tâm hướng về sự tham lam và dạy những bài học vô giá về các động cơ bên trong, và kết quả của hành động thiện. Thực hành giới luật (virtue) (sila) giữ cho ta khỏi lạc đường và rơi vào đường quấy. Nuôi dưỡng tâm từ (goodwill) (metta) thiện ý (tâm từ) (metta) giúp phá tan sự quyến dụ của sân hận. Mười pháp tùy niệm giúp ta các cách giảm bớt nghi tình, cam chịu khổ đau xác thịt, duy trì lòng tự trọng, khắc phục sự lười biếng, tự mãn, giữ mình khỏi tham dục không kềm chế. Và còn biết bao nhiêu kỹ năng khác cần học. Các phẩm hạnh tốt đẹp xuất hiện và chín mùi từ những công phu này không những làm cho con đường đến Niết bàn của hành giả được phẳng phiu; mà qua thời gian chúng còn có ảnh hưởng chuyển hóa hành giả thành một thành viên rộng lượng, giàu lòng yêu thương, hỉ xả, trầm tĩnh, và có đầu óc trong sáng hơn của xã hội. Sự theo đuổi Giác ngộ đó là món quà vô giá và đúng lúc cho một thế giới khát khao sự cứu giúp.
B. Giới Học (sila)
Chánh kiến, chánh tư duy tiếp tục chín muồi qua sự phát triển các nhân tố của con đường liên quan đến giới luật (sila), đức hạnh - cụ thể là, chánh ngữ, chánh nghiệp và chánh mạng. Tất cả những điều này súc tích dưới hình thức rất cụ thể, thực tiễn là ngũ giới, qui định nền tảng ứng xử đạo đức mà mỗi Phật tử tu Phật phải tuân giữ: không sát sinh, trộm cắp, tà dâm, nói dối và sử dụng chất độc hại (rượu, ma túy). Ngay cả giới luật phức tạp cuả nam tu sĩ gồm 227 giới và nữ tu sĩ 311 giới cũng tập trung có năm giới cơ bản này làm nòng cốt.
C. Định Học (samadhi)
Đã trụ vững trong sự thanh lọc của các hành vi hướng ngoại thông qua việc giữ gìn giới luật, nền móng thiết yếu đã được đặt cho việc tiến sâu vào các khía cạnh tế vi, chuyển hóa của đạo: thiền định và sự phát triển của samadhi, hoặc định. Điều này được chi tiết hóa thành ba yếu tố cuối cùng của đạo: chánh tinh tấn, theo đó hành giả học được cách ưu tiên cho các phẩm chất tinh nhuệ hơn là các phẩm chất vụng về; chánh niệm, theo đó hành giả học cách giữ cho sự chú ý của mình liên tục bám vào thể nghiệm phút giây hiện tại; và chánh định, theo đó hành giả học cách hòa tâm trọn vẹn và không xao động trong mục tiêu thiền định của mình để đi vào các cảnh thiền jhana, một loạt các trạng thái tiến dần sâu hơn của sự tịch tịnh thân tâm.
Chánh niệm và chánh định được phát triển nối đuôi thông qua niệm xứ - satipatthana (trạng thái của sự minh sát hay là nền tảng của định), một phương pháp có tính hệ thống để thực hành thiền quán xuyến các kỹ năng và kỹ thuật đa dạng. Trong số các luyện tập này, niệm thân - mindfulness of the body (đặc biệt là tức niệm (niệm hơi thở) - mindfulness of breathing đặc biệt có hiệu quả trong việc mang lại sự quân bình của hai phẩm chất song sinh là tịch tịnh (samatha) và quán chiếu (vipassana), hay là minh kiến thông qua việc luyện tập kiên trì, hành giả trở nên thuần thục trong việc kết hợp công lực của samatha - vipassana để thực hiện khám phá bản chất của tâm và thân. 13 Khi hành giả làm chủ được khả năng khuôn dẫn sự thể nghiệm tức thì của mình về anicca (vô thường), dukkha (khổ) và anata (vô ngã), ngay cả sự thể hiện tế vi nhất của ba đặc điểm thể nghiệm này cũng mang lại sự tập trung sắc bén vô song. Đồng thời, nguồn gốc của khổ (dukkha) - tham - bị phơi bày không thương tiếc dưới ánh sáng của sự thức tỉnh. Cuối cùng tham không còn nơi ẩn náu, toàn bộ tiến trình nghiệp thêu dệt nên khổ bị tháo tung, bát chánh đạo đạt điểm đỉnh, và hành giả đạt vĩnh viễn, ánh sáng bất chợt của cái không bị qui định buộc ràng - Niết bàn - Nibbana.
D. Trí huệ (panna)
Bát chánh đạo tốt nhất được hiểu như là một tập hợp các phẩm chất cá nhân cần tu dưỡng, phát triển, hơn là một chuỗi các bước xếp thứ tự tuyến tính. Sự phát triển chánh kiến, và chánh tư duy (các yếu tố được xác định đồng nhất với trí huệ và sự chiếu kiến) tạo điều kiện cho sự phát triển của chánh ngữ, chánh nghiệp, và chánh mạng (các yếu tố đạo đức). Khi đức hạnh phát triển thì các yếu tố đồng nhất với định (chánh tinh tấn, chánh niệm, và chánh định). Cũng như thế khi chánh định viên mãn, trí huệ tiến hóa vào mức càng sâu hơn. Và như thế tiền trình mở ra: sự phát triển của một yếu tố thúc đẩy sự phát triển của yếu tố tiếp theo, nâng hành giả cao lên trên con đường xoáy trôn óc của sự viên mãn tinh thần và cuối cùng đạt đến đỉnh cao Giác ngộ.
Con đường tỉnh thức dẫn đến Giác ngộ bắt đầu với nỗ lực thứ nhất là hành động trong chánh kiến - nhận thức giúp minh định được giá trị của Tứ Thánh Đế và nguyên lý của nghiệp. Con người bắt đầu nhận ra rằng hạnh phúc tương lai của mình không phải do số phận tiền định, mà cũng không phải phó mặc cho đấng thiêng liêng hay may rủi. Trách nhiệm cho hạnh phúc của con người nằm trên chính đôi vai của họ. Biết được điều này, các xu hướng của tâm sẽ nghiêng về các xu hướng khôn ngoan. Khi quyết định đúng đắn này phát triển mạnh hơn lên, thì ước muốn rõ mười mươi muốn sống cuộc sống công chính, lựa chọn các hành động với sự cẩn trọng cũng phát triển.
Vào điểm này, các tín đồ tự tâm phát nguyện nhập tâm giáo lý của Đức Phật, trở thành Phật tử bằng việc qui y Tam Bảo (Triple Gem) : PHẬT (Buddha) (cả Đức Phật trong lịch sử lẫn Phật tiềm năng nội tại của sự Giác ngộ), PHÁP (Dhamma) (cả giáo lý của Đức Phật và Chân lý tối thượng mà giáo lý hướng đến), và TĂNG (Sangha) (cả chư tổ sư truyền đời không gián đoạn đã giữ gìn giáo lý từ thời Đức Phật, và cả chư Tăng đã đạt được sự Giác ngộ ở chừng mực nào đó). Với đôi chân trụ vững trên nền chắc chắn, với sự giúp đỡ của các thiện hữu hoặc các bậc thầy đáng kính - admirable friend or teacher (kalyanamitta) hướng đạo, hành giả giờ đây đã được trang bị đầy đủ để tinh tấn trên đường Đạo, dõi theo bước chân của chính Đức Phật.
III. Người Xưa Chốn Cũ (NS Liễu Pháp biên soạn)
Hỏi: Xin cho biết thêm chi tiết về trưởng lão ni Mahāpajāpati Gotamī ?
Đáp: Mahāpajāpati Gotamī là em ruột của hoàng hậu Mahamaya, và là di mẫu của Thái Tử Siddhattha. Sau khi sinh thái tử được bảy ngày thì hoàng hậu Maya băng, bà liền được vua Suddhodana tuyển vào cung và đưa lên ngôi hoàng hậu, có trách nhiệm nuôi dạy thái tử. Bà đã thương yêu thái tử như chính con ruột của mình. Năm thứ năm sau ngày Phật thành đạo, vua Tịnh Phạn băng hà. Sau lễ trà tỳ của nhà vua, bà đến vườn Nigrodha cầu xin Phật cho bà và phái nữ được xuất gia. Vì thấy chưa đến lúc thuận tiện, Đức Phật không chấp thuận. Bà khẩn cầu đến ba lần, Ngài vẫn từ chối. Bà buồn bã trở về cung. Sau đó đức Phật rời Kapilavatthu và đi đến hành hóa tại thành Vesali ngự tại tu viện Trùng Các (Kutagarasala) trong rừng Đại Lâm (Mahavana).
Bây giờ, tại Ca Tì La Vệ, ngoài thái hậu Mahāpajāpati Gotamī, còn có rất đông các mệnh phụ trong dòng Thích Ca cũng muốn xuất gia. Dù đã bị Phật từ chối, nhưng ý chí xuất gia của họ không lay chuyển. Bởi vậy, sau khi từ vườn Nigrodha trở về cung, thái hậu đã nảy ra một ý kiến táo bạo. Bà đề nghị với tất cả những mệnh phụ còn có ý muốn xuất gia, hãy tự mình xuống tóc, cởi bỏ tất cả quần áo xa hoa và đồ trang sức, khoác y vàng, chân không giày dép, cùng nhau đi bộ đến thành Vesali để xin Phật cho xuất gia. Tất cả mọi người đều vui vẻ thi hành đề nghị của thái hậu. Họ mặc nhiên coi bà là vị lãnh đạo của họ. Chuẩn bị xong đâu đấy bà dẫn mọi người rời Kapilavatthu, lên đường tiến về Vesali, cách đó khoảng bốn trăm cây số về hướng Đông Nam.
Thấy rõ quyết tâm của bà và những người đồng hành, Tôn giả Ananda đem hết lí lẽ, trọn tình, trọn lí, khẩn thiết trình bày lên Đức Phật, cố xin giùm cho thái hậu và phái nữ được xuất gia. Nhận thấy đã đến lúc thích hợp, Đức Phật bảo cho tôn giả A Nan biết, nếu thái hậu và đoàn người theo bà chấp nhận thi hành trọn vẹn bát kỉnh pháp, họ sẽ được phép xuất gia làm tì kheo ni. Thái hậu và tất cả mọi người đều vui mừng chấp nhận tuân hành bát kỉnh pháp. Thế là ngay sau đó, thái hậu và đoàn người của bà được thọ đại giới, trở thành các vị tì kheo ni đầu tiên. Ni sư Kiều Đàm Di đã được Đức Phật chỉ định làm ni trưởng để lãnh đạo mọi việc thuộc ni đoàn. Ni sư đã được đức Phật trực tiếp giảng dạy cho phép tắc tu học, và sau đó không lâu, ni sư đã đắc quả A la hán. Tiếp đó, các ni sư cùng xuất gia một lần với bà cũng đều chứng quả A la hán. Ni sư đã dìu dắt hàng ngàn ni chúng vào nếp sống nghiêm túc, tinh cần, và rất đông trong số họ đã thành công trong sự tu học, Đức Phật rất hoan hỉ và nhiều lần khen ngợi.
Chúng con kính cung thỉnh ............ từ bi thuyết giảng Phần III bài học hôm nay. Namo Buddhaya.
IV. Chữ và nghĩa (TT Giác Đẳng biên soạn câu trả lời)
Hỏi: Khi nói pháp học, pháp hành phải chăng là có pháp chỉ để học, có pháp chỉ để hành ?
Ðáp: Tất cả tam tạng kinh điển đều là pháp học (parriyatti). Có những pháp học để biết. Có những pháp học để diệt. Có những pháp học để chứng. Có những pháp học để hành.
Pháp học bao gồm tất cả kinh điển. Pháp hành được đơn cử trong một số pháp nhất định trong ba mươi bảy pháp trợ bồ đề.
Học pháp tạo nên văn huệ. Hành pháp tạo thành tu huệ. Tư huệ có thể do cả hai. Trên đường tu tập pháp hành và pháp học thường bổ túc cho nhau. Trong sự đắc chưng thì pháp hành được tính là chủ yếu.
Chúng con kính cung thỉnh ............ từ bi thuyết giảng Phần IV bài học hôm nay. Namo Buddhaya.
V. Học và hỏi (Sư Tuệ Minh biên soạn câu trả lời)
Hỏi: Chánh kiến là bước đầu của đường tu hay đoạn cuối ?
Ðáp: Chánh kiến (sammādiṭṭhi) là thấy rõ tứ đế, thấy được tam tướng đối với ngũ uẩn, biết được pháp nào là thiện và pháp nào là bất thiện.
Đối với người tu Phật có được chánh tri kiến rất quan trọng, nhờ có tri kiến nên biết được đâu là chánh pháp, đâu là phi pháp, nhận biết như vậy mới thực hành đúng, nhờ có thực hành đúng nên thành tựu những pháp chưa thành tựu.
Bài kinh chánh tri kiến, Ngài Xá Lợi Phất đã giải thích tường tận cho các vị tỳ kheo biết về chánh tri kiến, có chánh tri kiến nên đoạn trừ được phiền não, đơn cử là tứ lậu (dục lậu, hữu lậu, kiến lậu và vô minh lậu). Trong pháp cú kinh Đức Phật đã nêu rõ tất cả các Pháp là vô thường, khổ, vô ngã. Thấy biết như thật về các Pháp như vậy thì không còn đau khổ, đưa đến an tịnh.
Chúng con kính cung thỉnh ............ từ bi thuyết giảng Phần V bài học hôm nay. Namo Buddhaya.
VI. Đố Vui (NS Liễu Pháp biên soạn)
1. Hình ảnh nào dưới đây diễn tả chính xác ý nghĩa của Bát chánh đạo ?
a. Một cái thang gồm tám bậc.
b. Một con đường có tám ngã rẽ.
c. Một thang thuốc gồm tám vị thuốc gộp lại.
d. Một ngôi nhà có tám cửa.
2. Đức Phật nói khổ là sự thật của cuộc đời. Vậy những niềm vui hay cảm giác dễ chịu là không có thật hay sao ?
a. Không, đó chỉ là những ảo giác mà thôi.
b. Không, vì với người này là niềm vui, nhưng đối với người khác có khi không phải.
c. Những niềm vui hay cảm giác dễ chịu tuy là có thật, nhưng không kéo dài, và khi nó mất đi thì khổ đau lại đến.
d. Các pháp hữu vi đều là vô thường, và cái gì vô thường thì đều là khổ.
3. Pháp nào dưới đây chỉ tìm thấy trong Phật giáo mà không tìm thấy trong các tôn giáo khác hay trong dân gian ?
a. Lý nghiệp báo.
b. Lý nhân quả.
c. Lý vô ngã.
d. Cả ba điều trên.
________________________________________
Phần II: Hồi Hướng này đọc khi kết thúc phần đố vui và giảng sư mời Pt MC lên hoàn mãn buổi học. Giới thiệu bài học hôm sau/ Hồi Hướng (Tri Chúng lên hồi hướng)
Sadhu! Sadhu ! Lành Thay!
Con .......... thay mặt đại chúng trong room, chúng con kính tri ân Chư Tôn Đức đã mở lòng bi mẫn giảng dạy Phật pháp hữu ích cho chúng con , đã hướng dẫn, dìu dắt chúng con tiến bước trên hành trình tu tập hầu mong đem lại an lạc trong đời sống và hướng đến đạo quả giải thoát luân hồi. Nguyện hồi hướng phước báu pháp thí đến Ni Sư Diệu Tịnh được nhiều an lạc, tùy tâm mãn nguyện. Cám ơn đại chúng đã lắng tâm thanh tịnh thính pháp. Kính cám ơn quý chủ nhiệm, Ops, xướng ngôn viên đã yểm trợ cho các phần hành trong lớp học được hoàn tất mỹ mãn. Chúng con kính chúc chư Tôn Đức thân tâm thường lạc, đạo hạnh trang nghiêm, tâm bồ đề viên đắc, Phật đạo chóng viên thành, chúc quý đạo hữu luôn an lạc cát tường trong chánh pháp nhiệm màu của Đức từ phụ Thích Ca Mâu Ni.
Kính Bạch chư Tôn Đức,
Kính thưa quý đạo hữu,
Ngày mai chúng ta sẽ có Lớp Phật Giáo Sử do TT Giác Đẳng đảm trách phần II Nội Dung Chính và chư Tôn Ðức giảng sư trong room Diệu Pháp ở các phần khác, với sự điều hợp chương trình của các Ops và MC. Để kết thúc chương trình xin chúng ta nhất tâm hồi hướng.
Nguyện công đức đã làm
Kết duyên lành giải thoát
Nguyện hồi hướng chư thiên
Hàng thiện thần hộ pháp
Nguyện các bậc hữu ân
Ðồng thừa tư công đức
Nguyện chánh pháp trường tồn
Chúng sanh cầu giải thoát
Namo Buddhaya
mở kinh tụng và nhạc, (đóng room)
Kính thưa đại chúng, chương trình sinh hoạt hôm nay đến đây đã kết thúc. Ban điều hành room Diệu Pháp xin phép được đóng room trong vài giây tới. Kính chào tạm biệt tất cả hẹn ngày mai sẽ trở lại trong giờ thường lệ. Namo Buddhaya.