Thứ Ba, 3 tháng 10, 2006

No. 1158 NEW (Tinh Tấn dịch)

Anh Quốc: Lớp Phật Học của một diễn viên truyền hình

Ngày 27 tháng 09, 2006

Anh Quốc -- Diễn viên truyền hình, ký giả và nhạc sĩ, Ông Alistair Appleton đang hoạch định để giúp các giáo viên và trẻ em tại Devon học về thiền định khi ông viếng thăm quận Devon tháng này. Vị chủ tọa chương trình BBC “Kho tàng trên gác” (Cash trong Attic) và chương trình hàng tuần được hâm mộ "House Doctor", Ông Alistair là một Phật tử, và bây giờ điều hành các khóa thiền khắp toàn quốc.

Vào tháng 11, ông sẽ dạy tại Nông trại Boswell được thành lập từ thế kỷ 16 tại Sidford cạnh Sidmouth. Nhưng Ông Ailstair, 36 tuổi, cho biết rằng ông cũng có một sứ mệnh để giúp đỡ quần chúng gần vùng Sidmouth làm thư giảm căng thẳng và cung hiến các lớp học miễn phí cho cộng đồng địa phương.

Ông đặc biệt thích làm việc với các giáo sư ngành giáo dục tôn giáo hay các cố vấn trường học.

“Học tập hành thiền rất đáng được tuyên dương và tôi rất thích giúp quần chúng địa phương tham dự cũng như những người ghi danh vào lớp học của tôi”. Ông Alistair phát biểu như trên. “Tôi đang cố gắng sắp xếp thăm viếng các trường trong vùng này và tôi sẵn sàng gặp gỡ giáo chức địa phương” ông nói tiếp.

Mục đích Phật giáo là thành tựu giác ngộ về chân lý bằng cách tu tập theo những lời giáo huấn của Đức Phật Thích Ca là bậc đã sống tại Ấn Độ vào 5 thế kỷ trước Công nguyên, và thanh lọc tâm qua thiền định.

Ông Alistair đã đang dạy cho những người sơ học ba năm về khóa thiền Phật giáo tại Holy Isle, ngoài vùng Isle của Arran ở phía miền Tây Nam của Tô Cách Lan (Scotland).

Ông đã trở thành một Phật tử vào năm 2000 trong khi đang ngụ tại Thái Lan và hiện nay trải qua nhiều thời gian tại Holy Isle.

Thủ Tướng Tô Cách Lan Jack McConnel đã yêu cầu ông giúp các trường phía bắc ranh giới quan tâm về thiền định. Nhưng đây là lần đầu tiên ông Alistair đã dạy tại Westcountry và ông đã trải qua nhiều tuần cố gắng để tìm một địa điểm thích hợp.

Khóa thiền định ABC của Ông Alistair là năm ngày tu học. Ông đã học tại nhiều tu viện ở Sussex và California và từ năm 2004 ông đã lôi cuốn sự cảm hứng từ bên ngoài của thế giới Phật giáo, phối hợp với sự thực hành shamanic của người Ấn Amazon ở Ba Tây (Brazil). Ông đã dạy tại các đại học ở Đức và Ba Lan (Poland) sau khi tốt nghiệp từ Đại Học Cambridge. Ông Alistair cũng là một diễn viên hay thủ diễn các vai trong phim “Các bà vợ của các cầu thủ bóng đá” (Footballers’ Wives) và “Bác sĩ Nào!” (Doctor Who).

Ông Alistair đang viết một quyển sách về gia đình của mẹ ông mà tất cả là những người tàn ác, và ông đang thực hiện một bản tiếng Mỹ của chương trình truyền hình. “Xuyên qua lỗ khóa” (Through the Keyhole).

------------------------------------------------------------------------------------------

No. 1161 NEW (Hạt Cát dịch)

Hàn Quốc: Một chuyến

tá túc thiền môn chùa Linh Liên


Hàn Quốc -- Một trong những khuynh hướng thư giãn ... "nóng" nhất trong những ngày gần đây là "đi về nơi hoang dã" để ở vài ngày trong khung cảnh tịch lặng của một ngôi chùa Khung cảnh một ngôi sơn tự là nơi thích hợp nhất để xa lánh phố thị ồn ào, trở lại với thiên nhiên đồng thời thư giản thân tâm cùng lúc.

Các ngôi chùa cống hiến những chương trình kinh nghiệm đặc biệt gồm có Chamseon (Thiền Tông) Yoga và Dado - Du già và Trà Ðạo.

Nào chúng ta hãy chọn ngôi Chùa Youngpyung của phái Tào Ðộng ở Janggi Myeon mà thăm thú một lần. Vườn chùa quanh năm đều có hoa xinh cỏ đẹp nhưng chỉ có Linh Liên trong mùa hạ và Bạch Cúc Siberian trong mùa Thu là nổi bật nhất.

Chương trình trọn gói tá túc cửa thiền thường được kết hợp với hoa lá cỏ cây. Ðây là một chương trình kiểu mẫu kết hợp hoa sen chủ đề "Tá túc Thiền Môn với Linh Liên Trà Ðạo" ở chùa Youngpyung. Chương trình mở rộng quanh năm, nó cung cấp cho chúng ta cơ hội tìm hiểu không chỉ kinh nghiệm đời sống thường nhật của ngôi chùa mà còn có cơ hội uống thử loại trà mà nhà chùa tự trồng trọt và biến chế.

Vào tháng 10, khi toàn bộ ngôi chùa bị bao phủ bởi loại bạch cúc Siberian trắng toát trong suốt cả một tháng trời thì sẽ có lễ hội Bạch Cúc diễn ra. Trong thời gian cao điểm, hàng trăm người đến viếng mỗi ngày, trong năm ngoái, khoảng 70,000 người đã đến tá túc nghỉ ngơi ở ngôi chùa. Sinh hoạt tiêu biểu có thể được kể như sau.

- Bái sám, hành thiền, tiếp cận thiên nhiên nhặt hoa ướp trà, nghiên cứu kinh tạng, vận động cơ thể, thưởng thức Linh Liên trà và thảo luận trao đổi kinh nghiệm.


Visitors deep in meditation.



Nhật Hành

Ngày: 03 tháng 10 năm 2006

Tri chúng: Karuna

Tri chúng điền khuyết: Duong Tieu

Môn học: Ngôn ngữ thiền môn

Bài học: 100 Từ Vựng Phật Học Với cách dùng dị biệt giữa Nam và Bắc Truyền.


Giảng Sư Chính: TT Giác Đẳng

Giảng Sư Điền khuyết: TT Tuệ Siêu

Vị Tăng hoặc Ni nói lời cầu nguyện đầu lớp học: ĐĐ Minh Hạnh

Xướng ngôn viên: TC & TC đk, Sangkhaly, Bich Thu (ĐK: Tinh Tan (MC 1 only), Hat Cat, Anitya, Nguon Duc Hanh, Upekha, Nhu Phuc, Minh Chau54)
http://www.phapluan.net và http://bandieuhanh.blogspot.com

Người mở room: Bich Thu, Hat Cat.

Người mở nhạc và kinh tụng: Hat Cat, Bich Thu, Anitya

Người hoán chuyển bài cho Room: Tinh Tan - Nhu Phuc (đk)

Người post bài cho Room: Bich Thu, Nguon Duc Hanh, Tinh Tan, Hat Cat, Upekha.

Người post và gửi bài riêng cho chư Tăng: Hat Cat, Upekha.

Trực room (op): TC đk & Upekha, Nguon Duc Hanh.

Thông báo (nếu có): Minh Chau54 xin nghỉ phép thứ năm 28/09 đến hết thứ năm 05/10.
Bài Đọc ngày thứ 3 của MC

Phần I
Lễ Tam Bảo, Phần này đọc sau khi dứt kinh tụng


Namo Buddhaya
MC1: Con ............. (................ điền khuyết) thành kính đảnh lễ Chư Tôn Ðức Tăng Ni, thân chào tất cả quí vị hiện diện. Hôm nay ngày 03 tháng 10 năm 2006 Phật lịch 2550. Ðây là chương trình Phật Học trực tiếp thực hiện trên Paltalk mỗi ngày, giờ VN nhằm 7:30 đến 10:00 tối, giờ Houston 7:30 đến 10:00 sáng, giờ NY từ 8:30 đến 11:00 sáng, giờ Cali 5:30 đến 08:00 sáng, giờ Paris 2:30 đến 5:00 chiều, giờ Sydney 11:30 tối đến 2:00 sáng.

Kính thưa quý vị hôm nay là lớp Lớp Ngôn ngữ Cửa Thiền chúng ta sẽ học bài 100 TỪ VỰNG PHẬT HỌC VỚI CÁCH DÙNG DỊ BIỆT GIỮA NAM VÀ BẮC TRUYỀN do TT Giác Đẳng giảng giải phần II nội dung chính. Chúng ta sẽ được nghe chư Tôn Ðức giảng giải các phần khác trong bài học, chương trình tiếp tục với các câu đố và kết thúc với bản tin Phật Giáo.

Mở đầu chương trình xin tất cả chúng ta trang nghiêm tam nghiệp đảnh lễ Tam Bảo.

Chúng con xin kính thỉnh Đại Đức Minh Hạnh đọc kinh Lễ Tam Bảo hôm nay. Namo Buddhaya

(Đại Đức Minh Hạnh)

Nhất tâm đảnh lễ Ðức Như Lai bậc Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Ðiều Ngự, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.

Nhất tâm đảnh lễ Chánh Pháp do Phật thiện thuyết, thiết thực hiện tiền, vượt ngoài thời gian, đến để chứng nghiệm, hiệu năng hướng thượng, trí giả thân chứng.

Nhất tâm đảnh lễ Chư Tăng đệ tử Thế Tôn bậc diệu hạnh, trực hạnh, như lý hạnh, chân chánh hạnh, gồm bốn đôi tám vị, đáng nhận lễ phẩm, tặng phẩm, tế phẩm, kính lễ, là phước điền vô thượng trong đời.

Nguyện cầu uy đức Phật Bảo
Nguyện cầu uy đức Pháp Bảo
Nguyện cầu uy đức Tăng Bảo
Xin Tam Bảo gia hộ
Ngăn ngừa mọi tai ương
Những hiện tượng bất tường
Những mộng mị xấu xa
Những nghịch duyên trở ngại
Thảy đều mau tan biến
Nguyện muôn loài chúng sanh
Người khổ xin hết khổ
Người sợ hết sợ hãi
Người sầu hết sầu bi
Biết cho với niềm tin
Biết hộ trì giới hạnh
Biết lạc trú trong thiền
Chư thiên đã vân tập
Xin tùy hỷ phước lành
Ðược cát tường như ý
Rồi phản hồi thiên xứ
Chư Toàn Giác đại lực
Chư Ðộc Giác đại lực
Thinh Văn Giác đại lực
Nguyện tổng trì uy đức
Cầu phúc lành phát sanh (lạy)
*****************************
___________________________________________________

(MC1 của phần I: ............... (.............. điền khuyết) )

Kính tri ân Sư Minh Hạnh.
Kính bạch chư tôn đức
Kính thưa đại chúng

Bài Học hôm nay:

100 Từ Vựng Phật Học Với cách dùng

dị biệt giữa Nam và Bắc Truyền

004. AN CƯ (....)
____________

I. Đại lược (TK Giác Đẳng biên soạn)

An cư kiết hạ là một sinh hoạt quen thuộc của hàng xuất gia trong tất cả tông phái Phật giáo. Tại Á châu mùa hè cũng là mùa mưa. Hiện tượng monsoon giúp ích cho ngành nông nghiệp nhưng khiến sự đi lại khó khăn. Trong thời gian nầy Đức Phật dạy chư Tăng nhập hạ tại một nơi có mái che, giảm bớt sự đi lai. Chính vì vậy chư tăng tận dụng thời gian nầy cho sự tu tập, học hỏi vì có thời khóa biểu cố định.

Chúng con kính cung thỉnh ............ từ bi thuyết giảng Phần I bài học hôm nay. Namo Buddhaya.

II. Nội dung chính (TK Giác Đẳng biên soạn)

Dưới đây là vài điểm khác biệt về an cư giữa Phật giáo Nguyên Thủy và Đại thừa:

Theo Phật giáo Nguyên Thủy

Theo Phật giáo Đại thừa


1. Thời gian nhập hạ từ Rằm tháng 6 đến Rằm tháng 9.


1. Thời gian nhập hạ từ Rằm tháng 4 đến Rằm tháng 7.

2. Trong trường hợp bất đắc dĩ có thể nhập hạ từ Rằm tháng 7 đến Rằm tháng 10 gọi là hậu an cư nhưng không thể thọ y Kathina.


2. Trong vài bộ luật có đề cập đến nhưng hoàn toàn không áp dụng và ít khi được biết đến.


3. Cuối mùa an cư có lễ tự tứ nhưng lễ dâng y có thể bất cứ ngày nào từ rằm tháng 9 đến rằm tháng 10.


3. Có lễ tự tứ và lễ dâng y được tổ chức vào đại lễ Vu Lan. Nghi thức dâng y của Phật giáo Bắc truyền nằm trong ý nghĩa của Vu Lan Bồn.


4. Nhập hạ vì lý do thời tiết nên có thể nhập hạ một mình ở bất cứ nơi đâu "có mái che" nghĩa là không ở trong rừng.

4. An cư giống như "tu nghiệp" cho hàng xuất gia. Những khóa trường hạ thường tổ chức một nơi thuận lợi để chư tăng nhiều nơi cùng về tham dự.

5. Thời điểm an cư được qui định trong giới luật mang tính cố định.


5. Kiết hạ thì từ Rằm tháng tư đến rằm tháng 7. Những khóa an cư có thể tùy duyên. Một vài nơi cũng tổ chức kiết đông.

Chúng con kính cung thỉnh ............ từ bi thuyết giảng Phần II bài học hôm nay. Namo Buddhaya.

III. Người Xưa Chốn Cũ (NS Liễu Pháp biên soạn)

Hỏi: Xin cho biết về Ngài Lakuntaka Bhaddiya và dòng sông Rohinī ?

Đáp: Tôn giả Lakuntaka Bhaddiya (Kiều-phạm Ba-đề)
sanh tại Sāvatthi, trong một gia đình giàu sang. Tôn giả có tên là Bhaddiya nhưng vì thân hình quá thấp lùn nên có thêm tên là Lakuntaka Bhaddiya. Ðặc biệt Tôn giả thuyết pháp với âm thanh dịu ngọt, rất thu hút người nghe nên đức Phật khen là vị đệ tử có âm thanh vi diệu nhất. Một hôm nhân một phụ nữ trông thấy Tôn giả mà bỗng bật phá lên cười để lộ hàm răng trắng, Tôn giả lấy đó làm đề tài thiền quán và chứng quả A-na-hàm. Về sau, Tôn giả được Trưởng lão Sāriputta chỉ cho tu thân hành niệm, và theo đó Tôn giả đắc A-la-hán.

Sông Rohinī là con sông nhỏ chia cách hai xứ sở của nhai dòng họ Koliya và Sakya. Một con đập được đắng ngang dòng sông, và người dân cả hai xứ này đều dùng nước cong sông này để trồng trọt. Một năm, trời không có mưa mà cả hai bên đều thiếu nước tưới ruộng. Mực nước sông Rohinī cũng rất thấp. Nước không đủ cho cả hai bên dùng, mà bên nào cũng muốn đắp đập dẫn hết nước sông về phía mình. Ban đầu chỉ là lời qua tiếng lại giữa nông dân hai phía. Sau đó thì có xung đột và đấm đá, cuối cùng là binh đội hai nước dàn trận hai phía bờ sông. Tình thế trở nên gay cấn và nguy hiểm.

Vốn có liên hệ thân tộc sâu xa với cả hai dòng họ Sakya và Koliya, Đức Phật sắp đặt được một cuộc gặp gỡ giữa các vị quốc vương, một bên là quốc vương Mahanama, một là quốc vương Suppabuddha. Ngài khuyên hai vị quốc vương thảo luận để đi đến một cuộc hòa giải. Nhờ sự can thiệp của Đức Phật mà hai bên đã đi tới một sự thỏa thuận về vấn đề nước tưới và thiết lập liên lạc ngoại giao thân tình như cũ. Sau đó mỗi dòng họ cho hai trăm năm mươi người thanh niên xuất gia theo Đức Phật để tỏ lòng biết ơn Ngài.

Chúng con kính cung thỉnh ............ từ bi thuyết giảng Phần III bài học hôm nay. Namo Buddhaya.

IV. Chữ và nghĩa (TT Tuệ Siêu biên soạn câu trả lời)

Hỏi: Danh từ an cư và kiết hạ có giống nhau không ?

Ðáp:
Danh từ an cư nghĩa là “ở yên, cấm túc”. Luật chế định là vào mùa mưa, chư Tăng phải ở yên một nơi, tạm dừng chân trú mưa.

Mùa mưa ở Ấn Độ là thời gian từ 16/6 âm lịch đến 15/10 âm lịch, mùa an cư là ba tháng từ 16/6 đến 15/9 âm lịch, theo chư tăng Nam Tông là vậy, nếu gọi đúng là kiết vũ.

Chữ kiết hạ, Hạ có nghĩa là mùa hè (theo từ điển phật học của HT Minh Châu và GS Minh Chi), truyền thống của Bắc Tông thì tăng chúng an cư kiết hạ vào mùa hè kể từ rằm tháng tư đến rằm tháng bảy. Cũng có lời giải rằng kiết hạ là mùa an cư cấm túc hằng năm để đánh dấu hạ lạp, tuổi đạo (theo cách giải thích của truyền thống Bắc Tông).

Do đó, chữ an cư là từ dùng chung cho cả Nam và Bắc Tông, nhưng về chữ kiết hạ thì dùng cho Bắc Tông đúng hơn là cho Nam Tông.


Chúng con kính cung thỉnh ............ từ bi thuyết giảng Phần IV bài học hôm nay. Namo Buddhaya.

V. Học và hỏi (Sư Tuệ Minh biên soạn câu trả lời)

Hỏi: Sự an cư có quan trọng như thế nào trong sự tu tập của vị tỳ kheo ? Nếu 1 vị tỳ kheo 1 năm không có an cư kiết hạ có tổn hại gì cho đời sống phạm hạnh chăng ?

Ðáp:
Ba tháng mùa mưa là Chư Tăng an cư lại một nơi để hành sa môn pháp.

Trong thời gian này vị tỳ kheo gác lại tất cả mọi việc để tập trung hành đạo. Nếu có việc gì xảy ra đến bản thân hoặc thầy tổ, cha mẹ . v . v ... mà không an cư được thì không ảnh hưởng đến đời sống phạm hạnh nếu vị tỳ kheo đó tâm tư luôn định tĩnh sống an trú.

Như lời Đức Phật đã dạy: "Một vị tỳ kheo tâm tư định tĩnh thì dù sống ở rừng núi hay thành thị tâm vị ấy cũng định tĩnh. Và ngược lại vị tỳ kheo sống phóng túng thì dù cho sống ở rừng núi hay thành thị tâm vị ấy cũng phóng túng không định tĩnh".


Chúng con kính cung thỉnh ............ từ bi thuyết giảng Phần V bài học hôm nay. Namo Buddhaya.


VI. Đố Vui (TT Giác Đẳng biên soạn)

1: Ðọc về bối cảnh Ðức Phật chế định luật an cư kiết hạ cho chư tăng thì điều nào dưới đây là đúng:

a. Thời Ðức Phật, bình thường chư tăng đi đó đây, mùa mưa thì an cư một chổ.
b. Thời Ðức Phật, chư tăng ở chùa là chính, đến mùa an cư thì đi đến một nơi nào đó để an cư.
c. Thời Ðức Phật việc an cư chỉ áp dụng cho những du tăng khất sĩ chớ không áp dụng cho tất cả tỳ kheo.
d. Ba điều trên đều sai.

2. Những vị nào dưới đây đã tạo nên nhiều duyên sự khiến Ðức Phật ban hành giới luật:

a. Thầy Udayi.
b. Nhóm 17 tỳ kheo.
c. Nhóm 6 tỳ kheo.
d. Cả ba điều trên.

3. Trường hợp nào dưới đây "an cư mà không lạc nghiệp" ?

a. Người bị an trí.
b. Người an giấc ngàn thu.
c. Chư tăng an cư.
d. Cả ba câu trên.

________________________________________

Phần II:
Hồi Hướng này đọc khi kết thúc phần đố vui và giảng sư mời Pt MC lên hoàn mãn buổi học. Giới thiệu bài học hôm sau/ Hồi Hướng (Tri Chúng lên hồi hướng)

Sadhu! Sadhu ! Lành Thay!
Con .......... thay mặt đại chúng trong room, chúng con kính tri ân Chư Tôn Đức đã mở lòng bi mẫn giảng dạy Phật pháp hữu ích cho chúng con , đã hướng dẫn, dìu dắt chúng con tiến bước trên hành trình tu tập hầu mong đem lại an lạc trong đời sống và hướng đến đạo quả giải thoát luân hồi. Nguyện hồi hướng phước báu pháp thí đến Ni Sư Diệu Tịnh được nhiều an lạc, tùy tâm mãn nguyện. Cám ơn đại chúng đã lắng tâm thanh tịnh thính pháp. Kính cám ơn quý chủ nhiệm, Ops, xướng ngôn viên đã yểm trợ cho các phần hành trong lớp học được hoàn tất mỹ mãn. Chúng con kính chúc chư Tôn Đức thân tâm thường lạc, đạo hạnh trang nghiêm, tâm bồ đề viên đắc, Phật đạo chóng viên thành, chúc quý đạo hữu luôn an lạc cát tường trong chánh pháp nhiệm màu của Đức từ phụ Thích Ca Mâu Ni.

Kính Bạch chư Tôn Đức,
Kính thưa quý đạo hữu,

Ngày mai chúng ta sẽ có Lớp Trung Bộ Kinh do TT Tuệ Siêu đảm trách phần II Nội Dung Chính và chư Tôn Ðức giảng sư trong room Diệu Pháp ở các phần khác, với sự điều hợp chương trình của các Ops và MC. Để kết thúc chương trình xin chúng ta nhất tâm hồi hướng.

Nguyện công đức đã làm
Kết duyên lành giải thoát
Nguyện hồi hướng chư thiên
Hàng thiện thần hộ pháp
Nguyện các bậc hữu ân
Ðồng thừa tư công đức
Nguyện chánh pháp trường tồn
Chúng sanh cầu giải thoát
Namo Buddhaya

mở kinh tụng và nhạc, (đóng room)

Kính thưa đại chúng, chương trình sinh hoạt hôm nay đến đây đã kết thúc. Ban điều hành room Diệu Pháp xin phép được đóng room trong vài giây tới. Kính chào tạm biệt tất cả hẹn ngày mai sẽ trở lại trong giờ thường lệ. Namo Buddhaya.

Thứ Hai, 2 tháng 10, 2006

Thư Cảm Tạ

Về việc gây quỹ xây dựng Tăng Xá chùa Pháp Luân.

http://www.phapluan.net/Quyhophap/ThuCamTa.htm

Ngày 02 tháng 10, 2006

Kính bạch chư Tôn Ðức. Kính thưa quý đạo hữu,

Theo tinh thần Thư ngỏ số 2 gửi đi ngày 05 tháng 08, 2006, chúng ta đã được biết, để yểm trợ công trình xây dựng Tăng Xá chùa Pháp Luân hoàn tất kịp lúc, BDH room DP đã gửi bức thư số 1, số 2 kêu gọi chư Phật tử gần xa tiếp tay yểm trợ dưới nhiều hình thức và cũng đã được hưởng ứng nhanh chóng.

TT Giác Ðẳng, sau khi nhận được tài chánh từ Phật tử cho mượn, đã kịp thời thanh toán chi phí cho nhà thầu để họ tiếp tục công việc trong thời gian chờ đợi ngân khoản chính thức thu nhập từ buổi tiệc gây quỹ xây dựng Tăng Xá, được tổ chức tại nhà hàng Kim Sơn, thành phố Houston vào ngày 01 tháng 10, 2006.

Kính bạch chư Tôn Ðức, kính thưa quý đạo hữu.

Hôm nay, ngày 02 tháng 10, 2006, trong buổi sinh hoạt của Lớp Phật Học Diệu Pháp, như chúng ta đã được TT Giác Ðẳng cho biết kết quả sơ khởi, buổi dạ tiệc gây quỹ tại nhà hàng Kim Sơn, Houston ngày 01 tháng 10, 2006 vừa qua đã được thành công mỹ mãn, có thể nói là thành công ngoài sức tưởng tượng, tất cả các anh chị em trong BDH room Diệu Pháp cũng như chư Phật tử Ban Tổ Chức dạ tiệc ở tại chùa Pháp Luân, vô cùng hoan hỷ, nay Ban Ðiều Hành chúng tôi xin gửi bức Thư Cảm Tạ này để trình báo cho chư Tôn Ðức cùng tất cả quý đạo hữu, nhất là những ai không có mặt trong room Diệu Pháp ngày 02, tháng 10, 2006 hôm nay được lãm tường, sau khi thanh toán chi phí cho buổi tiệc khoảng $30,000 USD, quỹ xây dựng Tăng Xá còn thừa khoảng $121,000 USD, vừa đúng với con số của nhu cầu, BDH chúng tôi vô cùng hoan hỷ, xin được tán thán, tùy hỉ, cũng như xin cảm tạ công đức của chư Tôn Ðức, tất cả quý đạo hữu gần xa. Sadhu! Sadhu! Lành thay! Lành thay!.

Kính bạch chư Tôn Ðức, kính thưa quý đạo hữu,

Như đã thưa qua trong hai lá thư đầu, TT Giác Ðẳng đã trù liệu sẽ hoàn lại các trái khoản mà quý đạo hữu đã hoan hỷ cho chùa Pháp Luân mượn - để tạm thời ứng trước trả cho nhà thầu xây dựng - trong khoảng thời gian tháng 10, tháng 11, 2006, sau khi cuộc tổ chức tiệc gây quỹ được hoàn tất. Cho đến nay thì mọi việc trong kế hoạch đã được thực hiện và thành công mỹ mãn, đúng như lời hứa, TT Giác Ðẳng bắt đầu chương trình bồi hoàn các trái khoản kể từ ngày 03 tháng 10, 2006, BDH chúng tôi xin được nhắc nhở tất cả quý đạo hữu nào đã có gửi tịnh tài đến yểm trợ trong hình thức cho mượn, xin hãy liên lạc với TT Giác Ðẳng để làm các thủ tục bồi hoàn, càng nhanh càng tốt.

Một lần nữa chúng tôi xin thay mặt BÐH room Diệu Pháp cũng như Ban Tổ Chức Dạ Tiệc chân thành tán thán, tùy hỉ và cảm tạ công đức của chư Tôn Ðức cũng như quý đạo hữu Phật tử gần xa, trong, ngoài nước đã yểm trợ cho công trình xây dựng Tăng Xá chùa Pháp Luân sớm được hoàn tất.

Namo Buddhaya.

------------------------------------------------------------------------------------------

No. 1157 NEW (Upekha dịch)

Đức Đạt Lai Lạt Ma khuyến khích lòng từ ái nơi phụ nữ

Các nhân vật nữ tiếng tăm tham gia hội nghị do Thống Ðốc Phu Nhân chủ trì.

By LAURA MECOY
SACRAMENTO BEE
Published: Wednesday, Sep 27, 2006

LONG BEACH -- Vị lãnh tụ tinh thần lưu vong Tây Tạng, Đức Đạt Lai Lạt Ma, làm một chuyến xuất hiện lần đầu tiên của Ngài tại hội nghị phụ nữ để thuyết phục đám đông nhằm giúp đỡ thế giới thay đổi tạo dựng gia đình niềm an lạc, yên ổn và lòng thương.

KEVORK DJANSEZIAN / Associated Press The Dalai Lama meets Maria Shriver, wife of Gov. Arnold Schwarzenegger, on Tuesday at the California Governor and First Lady's Conference on Women in Long Beach.

Maria Shriver, người từng tranh đấu với bản thân về việc phải kết thúc sự nghiệp ngành truyền thông của bà để đảm nhận vai trò đệ nhất phu nhân của tiểu bang, thuật lại cảm giác khi bị ... mệnh danh "bà nội trợ" bởi cậu con trai Patric, 13 tuổi của bà.

"Lời lẽ của con trai tôi lúc ấy làm cho tôi cảm thấy chuyến xe mà tôi đang cỡi đã đến một đoạn đường ... gồ ghề, và điều đó thật làm tôi phiền não vô cùng, và tệ hơn nữa, tôi bị phiền não vì tôi đã bị phiền não (lẽ ra là tôi không nên phiền não để khỏi bị dính mắc vào chuyện đó)".

Mỗi đóng góp của ông hay lời khuyên bảo của bà và những câu chuyện cá nhân tại hội nghị phụ nữ lần thứ 20 do đệ nhất phu nhân của tiểu bang mỗi năm tập họp đã không còn là để nói về thống đốc có nghĩa là nói về những người danh tiếng, thống đốc phu nhân và gần 11,000 phụ nữ đến mỗi năm.

Hội nghị bắt đầu năm 1985 do cựu thống đốc Geogre Deukemejian khởi xướng như là tạo một mạng lưới giao dịch cho người phụ nữ, bà Shriver biến nó trở thành một loại hình trình diễn nhằm truyền bá tín ngưỡng và mục tiêu của bà, qua hội từ thiện giúp đỡ gia đình quân đội California.

Năm nay, Thống Ðốc Cali và phu nhân của ông với Hội Nghị Phụ Nữ chủ đề một "Ngôi làng Thiện Nguyện" với hơn 40 tổ chức ghi danh tình nguyện

Trọng tâm của một ngày dài được phát biểu trong đám đông, thứ tự từ chủ nhiệm tài chánh Suzu Orman đến Bà Nữ Công Tước York Sarah Ferguson một lần gần như phá sản.

Tim Russert, chủ tọa chương trình truyền hình "Meet the Press - Gặp Gỡ Báo Chí" nói với đám đông hầu hết là phụ nữ "Ối trời, tôi đang ở trên thiên đàng thì phải !"

Nhà bình luận báo chí Anna Quindlen tuyên bố phụ nữ đã “thay đổi thế giới trên cả cuộc đời của chúng ta”.

Người phụ nữ Mỹ đầu tiên đi vào không gian, Sally Ride, cựu phi hành gia, thúc đẩy hội chúng “Hãy mồi lửa cho thế hệ thiếu nữ tới đây vươn lên và hoàn thành giấc mơ của chúng”

Giữa cảnh náo nhiệt - ông Thống Ðốc, cựu diễn viên điện ảnh Schwarzenegger, mặc dù với danh tiếng của ông - ông cũng chỉ được vừa đủ 6 phút phát biểu tại hội nghị vào buổi sáng giữa nơi còn nhiều ghế trống.

Ðược giới thiệu bởi Katherine và Christina Schwarzenegger, hai cô con gái rượu, ông Thống Ðốc chào mừng quan khách, tán dương phu nhân và những người phụ nữ khác trong đời sống của ông “Tuyệt vời và mạnh mẽ” - và rời khỏi hội trường sau khi phát biểu một câu đầy ... hóm hỉnh.

"Trong khi tôi mong muốn được ngồi lại đây suốt ngày, một trong những điều tốt đẹp nhất mà tôi học được trong đời sống là khi một số đông phụ nữ đang tiến hành một nhiệm vụ tụ họp lại với nhau, người đàn ông thông minh tốt nhất là nên tránh xa chỗ đó ” và ông thống đốc nói thêm "Đó chính xác là việc mà tôi phải làm hôm nay".

Riêng về Ðức Ðạt Lai Lạt Ma, Vị lãnh đạo lưu vong Tây Tạng, Ngài nói ngài nhận lời mời của bà Shriver đến tham dự hội nghị phụ nữ bởi vì ngài tin rằng phụ nữ là nguồn cội của lòng từ ái trong xã hội.

Ngài thúc đẩy phụ nữ nên đóng nhiều vai trò lỗi lạc hơn trong chính phủ, chính trị và quân đội trong niềm tin vững chắc họ có thể ban rải tình thương nhiều hơn trong xã hội.

"Việc này có thể xảy ra, nếu chúng ta có nhiều nữ lãnh đạo từ bi trong nhiều lãnh vực của thế giới, tôi nghĩ vấn đề xã hội có thể giải quyết trên bình diện nhân bản".


Nhật Hành

Ngày: 02 tháng 10 năm 2006

Tri chúng: Anitya

Tri chúng điền khuyết: Nhu Phuc

Môn học: Lớp Phật Giáo Sử

Bài học: NGHỊ HỘI THỨ NHẤT

Giảng Sư Chính: NS Liễu Pháp

Giảng Sư Điền khuyết: TT Tuệ Siêu

Vị Tăng hoặc Ni nói lời cầu nguyện đầu lớp học: ĐĐ Minh Hạnh

Xướng ngôn viên: Duong Tieu, Nhu Phuc, Hat Cat, Tinh Tan, Nguon Duc Hanh, Upekha, Bich Thu, Karuna, Gioi Huong (tin tức), Sangkhaly, Minh Chau54 (rời room đúng giờ).
http://www.phapluan.net & http://bandieuhanh.blogspot.com

Người mở room: Bich Thu, Anitya, Upekha.

Người mở nhạc và kinh tụng: Bich Thu, Hat Cat

Người hoán chuyển bài cho Room: Hat Cat - Tinh Tan (đk)

Người post bài cho Room: NguonDucHanh - Bich Thu (Bài Học, Đố Vui, Tin Tức & Post End)

Người post và gửi bài riêng cho chư Tăng: Upekha, Hat Cat (đk).

Trực room (op): Upekha, Nhu Phuc.

Thông báo (nếu có): Minh Chau54 xin nghỉ phép thứ năm 28/09 đến hết thứ năm 05/10.
Bài Đọc ngày thứ 2 của MC

Phần I
Lễ Tam Bảo, Phần này đọc sau khi dứt kinh tụng


Namo Buddhaya
MC1: Con ............. (................ điền khuyết) thành kính đảnh lễ Chư Tôn Ðức Tăng Ni, thân chào tất cả quí vị hiện diện. Hôm nay ngày 02 tháng 10 năm 2006 Phật lịch 2550. Ðây là chương trình Phật Học trực tiếp thực hiện trên Paltalk mỗi ngày, giờ VN nhằm 7:30 đến 10:00 tối, giờ Houston 7:30 đến 10:00 sáng, giờ NY từ 8:30 đến 11:00 sáng, giờ Cali 5:30 đến 08:00 sáng, giờ Paris 2:30 đến 5:00 chiều, giờ Sydney 11:30 tối đến 2:00 sáng.

Kính thưa quý vị hôm nay là lớp Lịch Sử Phật Giáo chúng ta sẽ học bài NGHỊ HỘI THỨ NHẤT do NS Liễu Pháp giảng giải phần II nội dung chính. Chúng ta sẽ được nghe chư Tôn Ðức giảng giải các phần khác trong bài học, chương trình tiếp tục với các câu đố và kết thúc với bản tin Phật Giáo.

Mở đầu chương trình xin tất cả chúng ta trang nghiêm tam nghiệp đảnh lễ Tam Bảo.

Chúng con xin kính thỉnh Đại Đức Minh Hạnh đọc kinh Lễ Tam Bảo hôm nay. Namo Buddhaya

(Đại Đức Minh Hạnh)

Nhất tâm đảnh lễ Ðức Như Lai bậc Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Ðiều Ngự, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.

Nhất tâm đảnh lễ Chánh Pháp do Phật thiện thuyết, thiết thực hiện tiền, vượt ngoài thời gian, đến để chứng nghiệm, hiệu năng hướng thượng, trí giả thân chứng.

Nhất tâm đảnh lễ Chư Tăng đệ tử Thế Tôn bậc diệu hạnh, trực hạnh, như lý hạnh, chân chánh hạnh, gồm bốn đôi tám vị, đáng nhận lễ phẩm, tặng phẩm, tế phẩm, kính lễ, là phước điền vô thượng trong đời.

Nguyện cầu uy đức Phật Bảo
Nguyện cầu uy đức Pháp Bảo
Nguyện cầu uy đức Tăng Bảo
Xin Tam Bảo gia hộ
Ngăn ngừa mọi tai ương
Những hiện tượng bất tường
Những mộng mị xấu xa
Những nghịch duyên trở ngại
Thảy đều mau tan biến
Nguyện muôn loài chúng sanh
Người khổ xin hết khổ
Người sợ hết sợ hãi
Người sầu hết sầu bi
Biết cho với niềm tin
Biết hộ trì giới hạnh
Biết lạc trú trong thiền
Chư thiên đã vân tập
Xin tùy hỷ phước lành
Ðược cát tường như ý
Rồi phản hồi thiên xứ
Chư Toàn Giác đại lực
Chư Ðộc Giác đại lực
Thinh Văn Giác đại lực
Nguyện tổng trì uy đức
Cầu phúc lành phát sanh (lạy)
*****************************
___________________________________________________

(MC1 của phần I: ............... (.............. điền khuyết) )

Kính tri ân Sư Minh Hạnh.
Kính bạch chư tôn đức
Kính thưa đại chúng

Bài Học hôm nay:

"2500 YEARS OF BUDDHISM" - 2500 LỊCH SỬ PHẬT GIÁO

---o0o---


NGHỊ HỘI THỨ NHẤT

Tác giả P. V. Bapat
Việt dịch Hữu Song Nguyễn Đức Tư

____________

I. Đại lược

Theo truyền thuyết Pālī còn ghi lại thì đã có ba Nghị hội Kết tập (Sangitis) được tổ chức để chép lại các bản kinh, luật của Đức Phật cho thật thuần khiết. Nghị hội lần thứ nhất được tổ chức tại thành Vương-xá (Rajagrha) ngay sau khi Đức Phật nhập Đại bát niết bàn (parinirvana). Các học giả đều thừa nhận rằng Nghị hội thứ nhất kết tập (Dhamma) và Luật tạng (Vinaya). Theo kể lại thì tôn giả Đại-ca-diếp (Mahakassapa) chủ tọa hội nghị, trong đó đại đức Ưu-bà-ly (Upali) và A-nan-đà (Ananda) giữ một vai trò quan trọng. Ít có bất đồng về phần giáo lý nhưng cần có Nghị hội này do quyết tâm thành kính của các đệ tử muốn giữ sự thuần khiết cho các bài giảng của Đức Thế Tôn.

Chúng con kính cung thỉnh ............ từ bi thuyết giảng Phần I bài học hôm nay. Namo Buddhaya.

II. Nội dung chính (2500 Lịch Sử Phật Giáo"2500 Years Of Buddhism _ "Tác giả P. V. Bapat - Việt dịch Nguyễn Đức Tư Hữu Song)

IIA. Theo sách Culluvagga (Tiểu Phẩm) thì Đại-ca-diếp đã không có mặt khi Đức Phật nhập đại bát niết bàn tại Câu-thi-na (Kushinagara). Trong khi tôn giả này đang đi từ Pava đến Câu-thi-na với một đoàn tùy tùng đông đảo thì tin tức về sự viên tịch của Đức Giáo chủ được báo đến ông qua một tu sĩ khổ hạnh lõa hình thuộc môn phái Ajvika. Theo ghi chép thì lúc ấy có một khất sĩ (thera) tên là Subhadda lớn tiếng hô hào các tu sĩ đang khóc than thảm thiết, không cho họ bày tỏ sự buồn phiền, bảo họ hãy xem đây là một cơ hội để giải thoát. Vì trước đây họ bị Giáo chủ xem như những chú học trò, thường quở mắng họ về những kiểu xử sự không thích đáng nên giờ đây họ được tự do muốn làm gì thì làm, không ai cản trở. Lời lẽ bất kính này khiến cho Đại đức Đại-ca-diếp thấy lo lắng cho sự vẹn toàn và thuần khiết sau này của Chánh pháp đã được Giáo chủ giảng dạy. Ngoài ra Đại đức Đại-ca-diếp còn có những lý do lo lắng khác nữa. Ông đã được Giáo chủ trao cho chiếc áo của Ngài xem như một dấu hiệu quyền uy ngang hàng với Giáo chủ, nên ông quyết làm tròn nhiệm vụ được giao để xác lập chân lý. Lời nói của Subhadda rõ ràng báo hiệu cần phải triệu tập Nghị hội để có thể hoàn thành mục tiêu cao quý này.

Nhân đây có thể thấy rằng Subhadda không phải là người duy nhất có những ý nghĩ như trên. Còn có nhiều người khác đã cảm thấy rằng cùng với sự qua đời của Giáo chủ thì Chánh Pháp mà Ngài giảng dạy cũng sẽ tiêu tan. Sự miêu tả trong sách Dulva của Tây Tạng, và cả sự miêu tả của tôn giả Huyền Trang (Yuan Chwang) cũng đều nhắc đến cảm giác lo lắng và kinh ngạc vốn đã là động cơ của sự triệu tập Nghị hội thứ nhất.

IIB. Sau khi bàn bạc, thành Vương-xá đã được chọn làm nơi Nghị hội. Theo lời kể lại thì Nghị hội đã diễn ra tại hang Saptaparni, dù rằng theo sách Dulva của Tây Tạng thì người ta cho rằng Nghị hội đã được triệu tập tại hang Nyagrodha. Tuy nhiên, không cần phải nghi ngờ tính chính xác của sách Cullavagga và tài liệu này đã được hầu hết các bản tường thuật sau đó phỏng theo.

Biên niên sử Pālī nói rằng hang Saptaparni nằm bên sườn núi Vebhara và một cột đá đã được dựng lên bên ngoài hang theo ý muốn của vua A-xà-thế. Tuy nhiên, vị trí của hang này vẫn chưa được xác định rõ ràng. Dù sao, không có gì nghi ngờ là Nghị hội lần thứ nhất đã được diễn ra tại thành Vương-xá. Thành Vương-xá được chọn rõ ràng là vì tại đây có đủ tiện nghi cho khách các nơi đến và không có khó khăn trong khâu phục vụ. Tài liệu theo Dulva còn nói rằng thành Vương-xá được chọn là vì vua A-xà-thế là một Phật tử rất ngoan đạo nên sẽ chu cấp đầy đủ cho hội nghị về các khoản ăn, ở. Một số tư liệu khác như Mahavamsa (Đại Sử) và Samantapasadika (Thiện Kiến Luật) cũng hậu thuẫn cho điều khẳng định này.

Nghị hội đã diễn ra trong tháng thứ hai của mùa mưa. Trong tài liệu Samata-pasadika người ta thấy có sự mô tả chi tiết các nghi lễ được cử hành khoảng sáu tuần lễ trước khi chính thức khai mạc Nghị hội. Mặc dù những sự phóng đại thường có, có thể khẳng định rằng chính tôn giả Đại-ca-diếp là người đã có sáng kiến mở Nghị hội và đã chọn ra 499 Tỳ kheo (bhikkhus) tham dự. Các tài liệu Cullavagga và Dipavamsa nói rằng số Tỳ kheo này đã được chọn qua một cuộc bỏ phiếu của đông đảo chư Tăng họp lại trong ngày nhập diệt (parinibbana) của Đức Giáo chủ.

IIC. Theo ý kiến chung thì số Tỳ kheo được chọn là năm trăm. Tuy nhiên tôn giả Huyền Trang đã nói đến con số một nghìn. Đây có thể là một sự phóng đại có thể hiểu được nếu ta xét đến khoảng thời gian dài từ khi có Nghị hội cho đến thời đại của Huyền Trang.Tuy nhiên, đã có sự phản đối về việc không xếp A-nan-đà vào trong số thành viên Nghị hội. Trong Cullavagga có nói rằng các Tỳ kheo đã quyết liệt bênh vực cho A-nan-đà, mặc dù ông này chưa đắc A-la-hán quả, bởi vì ông có phẩm chất đạo đức cao và cũng vì ông đã được học Kinh tạng và Luật tạng từ chính Bổn sư. Sau cùng, A-nan-đà đã được Đại-ca-diếp chấp nhận do sự vận động của các Tỳ kheo. Tuy nhiên, về thủ tục áp dụng đối với A-nan-đà đã có những sự bất đồng. Ta sẽ thấy A-nan-đà phải trải qua một cuộc xét xử trong khi tiến hành Nghị hội. Sách Cullavagga, được Luật tạng của Mahisasakas và Mahasanghikas dựa theo, nói rằng A-nan-đà phải chịu những sự buộc tội khi kết tập Kinh tạng và Luật tạng, nhưng trong sách Dipavamsa, Mahavamsa, Samantapasadika của Buddhaghosa và sách Mahavastu thì không đả động đến các khuyết điểm của A-nan-đà.


Chúng con kính cung thỉnh ............ từ bi thuyết giảng Phần II bài học hôm nay. Namo Buddhaya.

III. Người Xưa Chốn Cũ (NS Liễu Pháp biên soạn)

Hỏi: Xin cho biết về tôn giả Pindola Bhāradvāja ? Dòng sông Nerañjarā được đề cập thế nào trong kinh điển ?

Đáp: Tôn giả Pindola Bhāradvāja
là con vị giáo sĩ của vua Udena xứ Kosambi. Sau khi học tập ba tập Vệ-đà, dạy các bài chú, bài tụng rất thành công cho các thanh niên Bà-la-môn, ngài chán ngấy với công việc đang làm. Từ giã họ, ngài đi đến Rājagaha, thấy chúng Tỷ-kheo được trọng vọng cúng dường, ngài xuất gia. Ban đầu, bản tính ngài rất tham lam, nhưng với phương pháp Phật dạy, ngài tiết độ trong ăn uống và chứng được sáu thắng trí. Ngài tuyên bố trước mặt đức Bổn Sư rằng ngài sẵn sàng trả lời tất cả những câu hỏi của Tỷ-kheo nào nghi ngờ đến con đường và kết quả. Đức Phật nói về ngài như sau: 'Trong các đệ tử của Ta rống tiếng rống con sư tử, Pindola Bhāradvāja là đệ nhất'.

Sau khi Bồ-tát Siddhattha đã thực hành những phương pháp tự hành xác khắc nghiệt nhất trong sáu năm trời, Ngài vẫn không đạt được những gì mà Ngài mong mỏi. Nhận thấy sự vô ích của lối tu hành xác, Bồ-tát đã từ bỏ con đường tu hành khổ hạnh và nhận bát cơm của nàng Sujata, con gái của vị trưởng làng bên cạnh, Senani. Hồi phục lại sức khỏe sau khi dùng bát cơm của nàng Sujata, Bồ-tát nhận ra các phương pháp thực hành trước đây đều là sai lệch. Xác định mục đích, Ngài vượt sông đến một cội Bồ-đề, phía tây của sông Neranjara (Ni-liên-thuyền). Ngài ngồi kiết già dưới cội Bồ-đề và phát nguyện không đứng dậy nếu không chứng đắc được chân lý tối thượng. Vào đêm trước khi Ngài chứng đắc Phật quả, Ma vương đã dùng những kỹ nữ xinh đẹp ca múa quyến rũ bằng nhiều cách để cản trở sự nỗ lực của Ngài. Nhưng mọi sự cản trở của Ma vương đều thất bại. Sau khi ngài chứng đắc Đạo quả, cũng chính ở đây, Phạm Thiên Sahampati đã thỉnh Đức Phật thuyết pháp. Sông Neranjara hiện nay là sông Nilajan hay Lilajan về phía nam khoảng 10 km của thành phố Gaya thuộc bang Bihar. Sông này được gọi là Neranjara vì nước sông rất xanh (nīla-jāla).

Chúng con kính cung thỉnh ............ từ bi thuyết giảng Phần III bài học hôm nay. Namo Buddhaya.

IV. Chữ và nghĩa (TT Tuệ Siêu biên soạn câu trả lời)

Hỏi: Abhidhamma dịch là Luận có đúng không ?

Ðáp:
Danh từ Abhidhamma nếu dịch là Luận chỉ là dịch thoát ý, nếu không muốn nói là sai.

Abhidhamma đúng chữ nghĩa phải dịch là Vi diệu pháp hay Thắng pháp, tức là phần Giáo Pháp thù thắng, vi diệu, đặc biệt. Vì Abhidhamma là phần giáo lý đặc biệt nhất trong ba tạng kinh điển Phật giáo.

Abhidhamma đã giải thích về bản thể của vạn pháp danh và sắc, lập luận xác thực, lập luận có hệ thống, do vậy người ta gọi đó là tạng luận. Gọi như vậy cũng có phần đúng.

Nhưng nếu chữ luận ở đây hiểu theo cách nói của truyền thống phái đại thừa, luận là sách được viết bởi những vị tổ sau nầy; với nghĩa nầy thì không đúng khi dịch Abhidhamma là Luận.

Chúng con kính cung thỉnh ............ từ bi thuyết giảng Phần IV bài học hôm nay. Namo Buddhaya.

V. Học và hỏi (Sư Tuệ Minh biên soạn câu trả lời)

Hỏi: Đối với các bậc hoàn toàn giải thoát thì có gì phải bận tâm tại sao lại nghiêm trọng về sự tồn tại của Giáo Pháp ?

Ðáp:
Đối với bậc Thánh thì hoàn toàn đoạn trừ phiền não không còn ưu tư đối với ngoại cảnh. Tuy nhiên sở hành của các Ngài xuất phát từ lòng từ bi là mong muốn làm kim chỉ nam để chúng sanh noi theo.

Kể từ khi Đức Phật níp bàn, có nhiều biến cố trong Tăng đoàn cho nên các Ngài vì sự tồn vong của giáo Pháp nên mới có những cuộc kết tập kinh điển nhằm duy trì tất cả lời dạy của Đức Phật.

Tăng chi bộ kinh Đức Phật đã chỉ ra 5 đức tính cao quý của bậc chân nhân, mà trong đó có đức tính "bố thí có nhìn ở tương lai".

Tấm lòng muốn gìn giữ giáo Pháp là xuất phát từ lòng từ bi của các bậc Thánh, nhằm để chúng sanh hiểu về giáo Pháp mà thực hành để mau chóng giải thoát.


Chúng con kính cung thỉnh ............ từ bi thuyết giảng Phần V bài học hôm nay. Namo Buddhaya.


VI. Đố Vui (NS Liễu Pháp biên soạn)

1. Ngài Mahākassapa đứng ra triệu tập hội nghị kết tập Tam tạng là vì:

a. Ngài được Đức Phật truyền y bát để lãnh đạo Tăng đoàn.
b. Ngài lo lắng cho sự vẹn toàn và thuần khiết của Chánh pháp sau này.
c. Giáo pháp bắt đầu bị mai một.
d. Cả ba lý do trên.

2. Trong lần kết tập kinh điển đầu tiên, các vị trưởng lão đã trùng tuyên:

a. Ba tạng Kinh, Luật và Luận (Tipitaka).
b. Chỉ có Tạng Kinh và Tạng Luật (Suttapitaka va Vinayapitaka).
c. Pháp và Luật (Dhamma và Vinaya).
d. Năm bộ Nikāya.

3. Theo truyền thống Phật giáo Nam truyền, đến nay đã có bao nhiêu hội nghị kết tập kinh điển ?

a. 3 lần
b. 5 lần
c. 6 lần
d. 7 lần.

________________________________________

Phần II:
Hồi Hướng này đọc khi kết thúc phần đố vui và giảng sư mời Pt MC lên hoàn mãn buổi học. Giới thiệu bài học hôm sau/ Hồi Hướng (Tri Chúng lên hồi hướng)

Sadhu! Sadhu ! Lành Thay!
Con .......... thay mặt đại chúng trong room, chúng con kính tri ân Chư Tôn Đức đã mở lòng bi mẫn giảng dạy Phật pháp hữu ích cho chúng con , đã hướng dẫn, dìu dắt chúng con tiến bước trên hành trình tu tập hầu mong đem lại an lạc trong đời sống và hướng đến đạo quả giải thoát luân hồi. Nguyện hồi hướng phước báu pháp thí đến Ni Sư Diệu Tịnh được nhiều an lạc, tùy tâm mãn nguyện. Cám ơn đại chúng đã lắng tâm thanh tịnh thính pháp. Kính cám ơn quý chủ nhiệm, Ops, xướng ngôn viên đã yểm trợ cho các phần hành trong lớp học được hoàn tất mỹ mãn. Chúng con kính chúc chư Tôn Đức thân tâm thường lạc, đạo hạnh trang nghiêm, tâm bồ đề viên đắc, Phật đạo chóng viên thành, chúc quý đạo hữu luôn an lạc cát tường trong chánh pháp nhiệm màu của Đức từ phụ Thích Ca Mâu Ni.

Kính Bạch chư Tôn Đức,
Kính thưa quý đạo hữu,

Ngày mai chúng ta sẽ có Lớp Ngôn ngữ Thiền Môn do TT Giác Đẳng đảm trách phần II Nội Dung Chính và chư Tôn Ðức giảng sư trong room Diệu Pháp ở các phần khác, với sự điều hợp chương trình của các Ops và MC. Để kết thúc chương trình xin chúng ta nhất tâm hồi hướng.

Nguyện công đức đã làm
Kết duyên lành giải thoát
Nguyện hồi hướng chư thiên
Hàng thiện thần hộ pháp
Nguyện các bậc hữu ân
Ðồng thừa tư công đức
Nguyện chánh pháp trường tồn
Chúng sanh cầu giải thoát
Namo Buddhaya

mở kinh tụng và nhạc, (đóng room)

Kính thưa đại chúng, chương trình sinh hoạt hôm nay đến đây đã kết thúc. Ban điều hành room Diệu Pháp xin phép được đóng room trong vài giây tới. Kính chào tạm biệt tất cả hẹn ngày mai sẽ trở lại trong giờ thường lệ. Namo Buddhaya.

Chủ Nhật, 1 tháng 10, 2006

No. 1152 NEW (Upekha dịch)

Pakistan sẽ chủ trì Hội Nghị Phật Giáo vào năm tới

International News Network, Sept 27, 2006

TOKYO, Japan -- Bộ Trưởng Bộ Du Lịch Pakistan, bà Nilofer Bakhtiar trong chuyến viếng thăm Nhật Bản, phát biểu rằng quốc gia của bà mong muốn tập họp Hội Nghị Phật Giáo Quốc Tế vào năm tới và hy vọng số đông du khách Nhật Bản cũng sẽ viếng thăm Pakistan trong dịp này.

Bà nói rõ việc này hơn với Viên Chủ Trì của ngôi chùa Kenchoji 800 năm xưa cổ, Rev.Roshi Yoshida hiện diện tại cuộc họp Iftar Dinner trong niềm vinh dự của Bộ Trưởng Du Lịch, Bà Nilofer Bakhitar và phái đoàn của bà trước ngày đó tại đây.

Bộ Trưởng tỏ lời tri ân viên chủ trì trong việc nhìn nhận lễ hội mùa chay thiêng liêng “Ramadhan” và hy vọng thế cách đó sẽ giúp đem lại niềm tin hòa hợp trên thế giới hơn. Bà lập lại lời mời Viên chủ trì Reverend Yoshida đến thăm viếng Pakistan.

Ngôi chùa xưa cổ là một phong cảnh đầy sinh khí của Nhật Bản. Một pho tượng sao chế pho tượng Fasting Buddha nổi tiếng đã được trao tặng đến ngôi chùa vào tháng 10 năm vừa qua.

Việc cúng dường thánh vật duy nhất này được Thủ Tướng Pakistan ông Shaukat Aziz quyết định trong lần viếng thăm Nhật Bản.

Bộ Trưởng cho viên chủ trì biết rằng các khu thánh tích Phật giáo đã được bảo quản tốt ở Pakistan. Bà nói Pakistan từng là chiếc nôi của nhiều nền văn minh cổ đại. Bà miêu tả nền “Văn minh Gandhara” đã một thời hưng thịnh ở phía bắc của Pakistan trong hai ngàn năm trước và đã lôi cuốn hành trình đến Nhật Bản, một trong nhiều chủ xướng quan trọng trong lịch sử của Pakistan.

Bà Nilofer Bakhtiar nhấn mạnh Pakistan mong mỏi sẽ triệu tập Hội Nghị Phật Giáo Quốc Tế năm tới. Chỉ huy chỉ đạo Hội Nghị hiện tại thăm viếng Pakistan nhằm lưu tâm ổn định sắp xếp trong việc này.

Viên chủ trì tri ân chính phủ và nhân dân Pakistan đã trao tặng tác phẩm điêu khắc hiếm có đến cho ngôi chùa.

------------------------------------------------------------------------------------------

No. 1160 NEW (Hạt Cát dịch)

Phải chăng Phật Giáo du nhập Hàn Quốc từ Pakistan ?

10-01-2006 20:30

By Yoon Won-sup
Staff Reporter

YONGGWANG, South Cholla Province -- Rất nhiền người Ðại Hàn nghĩ rằng Phật Giáo đến Hàn Quốc chính thức là từ Ấn Ðộ bởi vì đó là nơi Ðức Phật thành tựu đạo quả và giảng dạy giáo lý cho đệ tử của Ngài và Ngài cũng nhập diệt nơi đó. Tuy nhiên, nguồn gốc Phật Giáo tại Hàn Quốc không phải 100% đến từ Ấn Ðộ, căn cứ theo lời viên chức ngoại giao cao cấp nhất Pakistan tại Seoul.









Pakistani Ambassador to Seoul Masood Khalid, second from left, talks to Man Dang, head monk of Pulgab-sa Temple in Yonggwang, South Cholla Province, on his left, while Kang Jong-man, left, head of Yonggwang County, and the ambassador’s wife Sonia look on at the museum of Gandhara relics in Yonggwang, Monday. Korea Times Photo by Yoon Won-sup.

"Có lẽ những điều mà nhiều người Ðại Hàn không biết là Phật Giáo đã đến Hàn Quốc hồi thế kỷ thứ IV từ Gandhara, hiện nay là Pakistan. Ðại Sứ Pakistan Masood Khalid nói với tờ Korea Times như trên.

Vào năm 384, Maranantha, một tu sĩ từ Gandhara, đã đến Popsongpo tại YonggWang, miền Nam tỉnh Cholla, hồi thời vương triều Paekje và đã giới thiệu Phật Pháp vào Ðại Hàn.

Vì vậy, ngài Ðại sứ, đại sứ phu nhân, bộ trưởng ngoại giao và một học giả đã đến Popsongpo hôm thứ hai để tìm kiếm vị trí mà chính quyền địa phương đã thành lập một viện bảo tàng và các cơ sở thiết bị khác để đánh dấu sự du nhập của Phật Giáođến Paekje hồi tháng Năm vừa rồi.

Có một pho tượng của Sư Maranantha, một viện bảo tàng di sản Gandhara, một công viên với một hồ hoa sen và một vài đài kỷ niệm. Tổng thể khu vực chiếm 43,000 mét vuông này được mệnh danh là "Nơi khai sinh Phật Giáo tại Paekje" do chánh quyền địa phương thành lập.

Sự thực, Popsongpo trong văn học có nghĩa là một cửa khẩu nơi một bậc thánh truyền bá giáo pháp.

Min Hee Sik, một cựu giáo sư văn chương thuộc Ðại Học Hanyang ở Seoul, nói rằng khái niệm của người Hàn cho rằng Phật Giáo đến từ Ấn Ðộ là sai bởi vì 90% Phật Giáo Hàn Quốc được dựa trên Gandhara và phần còn lại dựa trên cuộc đời Ðức Phật ở Ấn Ðộ

Ông nói rằng các tài liệu Pháp quốc ủng hộ quan điểm cho Gandhara là địa phương mà từ đó Phật Giáo lan rộng ra thế giới cho đến như ngày nay. Các ngôi chùa Phật Giáo đã được xây dựng tại Gandhara trước hơn hết, theo lời vị đại sứ.

"Ba trăm năm sau khi Ðức Phật nhập diệt, vào khoảng năm 500 trước Tây Lịch, Vua Ashoka đã đưa Phật Giáo vào Gandhara, và từ đó Phật GiáoÐại Thừa phát triển với sự thiết lập rất nhiều tự viện Phật Giáo", ông Min nói như trên

Tuy nhiên, nhà học giả nói không dễ gì thuyết phục cho người ta tin rằng Phật Giáo du nhập vào Ðại Hàn từ Pakistan, không phải từ Ấn Ðộ, bởi vì quá nhiều người, kể cả chư Tăng, tin rằng Phật Giáo du nhập từ Ấn Ðộ.

Cùng lúc đó, Kang Jong-man, thị trưởng quận hạt Yonggwang, tình nguyện phát triển Yonggwang như một trung tâm Phật Giáo ở Nam Hàn. Ông Kang dự định sẽ thăm viếng Pakistan vào tháng Hai năm tới để nhập thêm di sản Gandhara về trưng bày trong viện bảo tàng.

Nhà đại sứ và phái đoàn của ông cũng viếng thăm chùa Pulgag-sa ở Yonggwang, ngôi chùa Phật Giáo đầu tiên ở Hàn Quốc, vốn được thành lập bởi nhà sư Maranantha khi ông đến viếng bán đảo này.

Pulgab-sa là ngôi chùa Phật Giáo đầu tiên ở Nam Hàn , và nó có rất nhiều bảo vật đặc biệt, kể cả 3 pho tượng Phật được chính phủ công nhận là bảo vật quốc gia số 1377, sư Man Dang, trụ trì chùa cho biết như trên.

Cùng lúc, sư Man Dang thay mặt ngôi chùa, đã gửi ba triệu đồng won cho ông đại sứ, nói là dùng để cứu trợ nạn nhân động đất xảy ra khỏang một năm trước tại Pakistan.


Nhật Hành

Ngày: 01 tháng 09 năm 2006

Tri chúng: Upekha

Tri chúng điền khuyết: Dieu Quang

Môn học: Lớp Phật Học Thường Thức

Bài học: Phật Giáo Nguyên Thủy - Giáo Lý Đại Cương

Giảng Sư Chính: ÐÐ Tuệ Quyền

Giảng Sư Điền khuyết: TT Giác Đẳng


Vị Tăng hoặc Ni nói lời cầu nguyện đầu lớp học: ĐĐ Minh Hanh

Xướng ngôn viên: Minh Lac, Tri Dat, Hat Cat, Anitya, Gioi Huong, Upekha, Dieu Quang, Bich Thu, Nguon Duc Hanh, Tinh Tan, Duong Tieu, Nhu Phuc, Chanh Hanh, Minh Chau54, Karuna. http://www.phapluan.net & http://bandieuhanh.blogspot.com

Người mở room: Dieu Quang, NguonDucHanh (đk).

Người mở nhạc và kinh tụng: Dieu Quang, (đk: NguonDucHanh, Anitya, Tinh Tan, Bich Thu, Upekha).

Người hoán chuyển bài cho Room: Hat Cat, NguonDucHanh (đk)

Người post bài cho Room: Hat Cat, Tinh Tan (đk).

Người post và gửi bài riêng cho chư Tăng: Hat Cat, NguonDucHanh (đk).

Trực room (op): TC đk & NguonDucHanh (clean và trực room), Karuna (coi sau nick mới vào room), Upekha (trực mic giảng sư). Các ops khác bounce nếu cần thì remove all mic

Thông báo (nếu có): Minh Chau54 xin nghỉ phép thứ năm 28/09 đến hết thứ năm 05/10.
Bài Đọc ngày Chủ Nhật của MC

Phần I
Lễ Tam Bảo, Phần này đọc sau khi dứt kinh tụng


Namo Buddhaya
MC1: Con ............. (................ điền khuyết) thành kính đảnh lễ Chư Tôn Ðức Tăng Ni, thân chào tất cả quí vị hiện diện. Hôm nay ngày 01 tháng 10 năm 2006 Phật lịch 2550. Ðây là chương trình Phật Học trực tiếp thực hiện trên Paltalk mỗi ngày, giờ VN nhằm 7:30 đến 10:00 tối, giờ Houston 7:30 đến 10:00 sáng, giờ NY từ 8:30 đến 11:00 sáng, giờ Cali 5:30 đến 08:00 sáng, giờ Paris 2:30 đến 5:00 chiều, giờ Sydney 11:30 tối đến 2:00 sáng.

Kính thưa quý vị hôm nay là Lớp Phật Học Thường Thức chúng ta sẽ học bài Phật Giáo Nguyên Thủy - Giáo Lý Đại Cương do ĐĐ Tuệ Quyền giảng giải phần II nội dung chính. Chúng ta sẽ được nghe chư Tôn Ðức giảng giải các phần khác trong bài học, chương trình tiếp tục với các câu đố và kết thúc với bản tin Phật Giáo.

Mở đầu chương trình xin tất cả chúng ta trang nghiêm tam nghiệp đảnh lễ Tam Bảo.

Chúng con xin kính thỉnh Đại Đức Minh Hạnh đọc kinh Lễ Tam Bảo hôm nay. Namo Buddhaya

(Đại Đức Minh Hạnh)

Nhất tâm đảnh lễ Ðức Như Lai bậc Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Ðiều Ngự, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.

Nhất tâm đảnh lễ Chánh Pháp do Phật thiện thuyết, thiết thực hiện tiền, vượt ngoài thời gian, đến để chứng nghiệm, hiệu năng hướng thượng, trí giả thân chứng.

Nhất tâm đảnh lễ Chư Tăng đệ tử Thế Tôn bậc diệu hạnh, trực hạnh, như lý hạnh, chân chánh hạnh, gồm bốn đôi tám vị, đáng nhận lễ phẩm, tặng phẩm, tế phẩm, kính lễ, là phước điền vô thượng trong đời.

Nguyện cầu uy đức Phật Bảo
Nguyện cầu uy đức Pháp Bảo
Nguyện cầu uy đức Tăng Bảo
Xin Tam Bảo gia hộ
Ngăn ngừa mọi tai ương
Những hiện tượng bất tường
Những mộng mị xấu xa
Những nghịch duyên trở ngại
Thảy đều mau tan biến
Nguyện muôn loài chúng sanh
Người khổ xin hết khổ
Người sợ hết sợ hãi
Người sầu hết sầu bi
Biết cho với niềm tin
Biết hộ trì giới hạnh
Biết lạc trú trong thiền
Chư thiên đã vân tập
Xin tùy hỷ phước lành
Ðược cát tường như ý
Rồi phản hồi thiên xứ
Chư Toàn Giác đại lực
Chư Ðộc Giác đại lực
Thinh Văn Giác đại lực
Nguyện tổng trì uy đức
Cầu phúc lành phát sanh (lạy)
*****************************
___________________________________________________

(MC1 của phần I: ............... (.............. điền khuyết) )

Kính tri ân Sư Minh Hạnh.
Kính bạch chư tôn đức
Kính thưa đại chúng

Bài Học hôm nay:

Phật Giáo Nguyên Thủy

GIÁO LÝ ĐẠI CƯƠNG


WHAT IS THERAVĀDA BUDDHISM ?

By John Bullitt - Dịch thuật: Lê Văn Phúc

____________

I. Đại lược (TK Giác Đẳng biên soạn)

Không lâu sau khi Giác ngộ, Đức Phật giảng bài pháp đầu tiên, trong đó Ngài trình bày cơ cấu chủ yếu làm cơ sở cho các giáo lý của Ngài về sau. Cơ cấu đó bao gồm Bốn Chân Lý Cao thượng, bốn nguyên tắc nền tảng của bản chất Pháp (Pháp-Dhamma) phát sinh từ sự đánh giá thấu đạt và chân thật tận cùng cội rễ điều kiện của con người. Ngài dạy các chân lý này không phải với tư cách các lý thuyết siêu hình hoặc như là những bài luận về đức tin, mà là các phạm trù, theo đó chúng ta phải khuôn dẫn thể nghiệm trực tiếp của chúng ta theo cách hỗ trợ cho sự Giác ngộ:

1. Khổ Thánh Đế: Khổ, sự không hài lòng, không thỏa mãn, áp lực căng thẳng (stress).

2. Tập Khổ Thánh Đế: Nguyên nhân của sự không thỏa mãn này là sự ham muốn (tanha) nhục cảm, muốn trở thành, muốn không trở thành.

3. Diệt Khổ Thánh Đế: Rời bỏ ham muốn.

4. Đạo diệt khổ thánh đế: Bát chánh đạo: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định.

Bởi vì vô minh (avijja) - Không biết được Tứ Thánh Đế, bởi vì không hiểu đối với thế giới quan đúng đắn, chúng ta mãi bị buộc ràng vào vòng luân hồi-samsara, mệt mỏi với sinh, lão, bệnh, tử, và tái sinh. Tham dục là động cơ thúc đẩy tiến trình này tiến lên, từ sát na này tới sát na khác và qua chu trình của vô vàn sinh mệnh, tùy theo nghiệp, kamma (Skt. karma), qui luật phổ quát của nhân quả. Theo qui luật bất biến này, mỗi hành động mà người ta làm ở phút giây hiện tại - dù là do thân, khẩu hay ý - cuối cùng sẽ có kết quả tùy theo sự khôn khéo của nó: hành động dại dột và có hại thì bất hạnh tiếp theo; hành động khôn khéo thì hạnh phúc nhất định tiếp nối. 12 Mãi khi nào ta còn không biết đến qui luật này, ta nhất định sống lông bông vô phương hướng: Lúc thì hạnh phúc, lúc lại khổ đau; một đời trên thiên đàng, kiếp sau lại rơi vào điạ ngục.

Đức Phật phát hiện ra rằng việc thoát khỏi luân hồi cần được giao cho mỗi Thánh Đế một nhiệm vụ cụ thể: Thánh đế thứ nhất phải được thấu hiểu, thứ hai: xả bỏ, thứ ba: thực hiện, thứ tư: phát triển. Thực hiện viên mãn Thánh Đế thứ ba dọn đường cho sự Giác ngộ: chấm dứt vô minh, tham, khổ, và nghiệp; trực nhập vào tự do tuyệt diệu và hạnh phúc siêu phàm như là đích cuối cùng cho mọi giáo lý của Đức Phật: Tự do, Tự tại, Bất tử, - Niết bàn - Nibbāna (Skt. Nirvana).


Chúng con kính cung thỉnh ............ từ bi thuyết giảng Phần I bài học hôm nay. Namo Buddhaya.

II. Nội dung chính

A. Bát chánh đạo và Thực hành Pháp.

Bởi vì cội rễ của vô minh xoắn xuýt mật thiết với mạng tâm lý chằn chịt, tâm vô minh có thể tự đánh lừa mình với sự khéo léo đáng kinh ngạc. Do đó mà giải pháp cần hơn là tử tế, quan tâm, yêu thương đơn thuần ở giây phút hiện tại. Hành giả phải tự trang bị cho mình kỹ năng cần thiết để sử dụng đa dạng các công cụ, để có thể khôn ngoan hơn, bền bỉ hơn và cuối cùng bứng gốc các xu hướng bất thiện của tâm. Chẳng hạn như thực hành bố thí (generosity) (dana) lần lần gột bỏ thói quen của tâm hướng về sự tham lam và dạy những bài học vô giá về các động cơ bên trong, và kết quả của hành động thiện. Thực hành giới luật (virtue) (sila) giữ cho ta khỏi lạc đường và rơi vào đường quấy. Nuôi dưỡng tâm từ (goodwill) (metta) thiện ý (tâm từ) (metta) giúp phá tan sự quyến dụ của sân hận. Mười pháp tùy niệm giúp ta các cách giảm bớt nghi tình, cam chịu khổ đau xác thịt, duy trì lòng tự trọng, khắc phục sự lười biếng, tự mãn, giữ mình khỏi tham dục không kềm chế. Và còn biết bao nhiêu kỹ năng khác cần học. Các phẩm hạnh tốt đẹp xuất hiện và chín mùi từ những công phu này không những làm cho con đường đến Niết bàn của hành giả được phẳng phiu; mà qua thời gian chúng còn có ảnh hưởng chuyển hóa hành giả thành một thành viên rộng lượng, giàu lòng yêu thương, hỉ xả, trầm tĩnh, và có đầu óc trong sáng hơn của xã hội. Sự theo đuổi Giác ngộ đó là món quà vô giá và đúng lúc cho một thế giới khát khao sự cứu giúp.

B. Giới Học (sila)

Chánh kiến, chánh tư duy tiếp tục chín muồi qua sự phát triển các nhân tố của con đường liên quan đến giới luật (sila), đức hạnh - cụ thể là, chánh ngữ, chánh nghiệp và chánh mạng. Tất cả những điều này súc tích dưới hình thức rất cụ thể, thực tiễn là ngũ giới, qui định nền tảng ứng xử đạo đức mà mỗi Phật tử tu Phật phải tuân giữ: không sát sinh, trộm cắp, tà dâm, nói dối và sử dụng chất độc hại (rượu, ma túy). Ngay cả giới luật phức tạp cuả nam tu sĩ gồm 227 giới và nữ tu sĩ 311 giới cũng tập trung có năm giới cơ bản này làm nòng cốt.

C. Định Học (samadhi)

Đã trụ vững trong sự thanh lọc của các hành vi hướng ngoại thông qua việc giữ gìn giới luật, nền móng thiết yếu đã được đặt cho việc tiến sâu vào các khía cạnh tế vi, chuyển hóa của đạo: thiền định và sự phát triển của samadhi, hoặc định. Điều này được chi tiết hóa thành ba yếu tố cuối cùng của đạo: chánh tinh tấn, theo đó hành giả học được cách ưu tiên cho các phẩm chất tinh nhuệ hơn là các phẩm chất vụng về; chánh niệm, theo đó hành giả học cách giữ cho sự chú ý của mình liên tục bám vào thể nghiệm phút giây hiện tại; và chánh định, theo đó hành giả học cách hòa tâm trọn vẹn và không xao động trong mục tiêu thiền định của mình để đi vào các cảnh thiền jhana, một loạt các trạng thái tiến dần sâu hơn của sự tịch tịnh thân tâm.

Chánh niệm và chánh định được phát triển nối đuôi thông qua niệm xứ - satipatthana (trạng thái của sự minh sát hay là nền tảng của định), một phương pháp có tính hệ thống để thực hành thiền quán xuyến các kỹ năng và kỹ thuật đa dạng. Trong số các luyện tập này, niệm thân - mindfulness of the body (đặc biệt là tức niệm (niệm hơi thở) - mindfulness of breathing đặc biệt có hiệu quả trong việc mang lại sự quân bình của hai phẩm chất song sinh là tịch tịnh (samatha) và quán chiếu (vipassana), hay là minh kiến thông qua việc luyện tập kiên trì, hành giả trở nên thuần thục trong việc kết hợp công lực của samatha - vipassana để thực hiện khám phá bản chất của tâm và thân. 13 Khi hành giả làm chủ được khả năng khuôn dẫn sự thể nghiệm tức thì của mình về anicca (vô thường), dukkha (khổ) và anata (vô ngã), ngay cả sự thể hiện tế vi nhất của ba đặc điểm thể nghiệm này cũng mang lại sự tập trung sắc bén vô song. Đồng thời, nguồn gốc của khổ (dukkha) - tham - bị phơi bày không thương tiếc dưới ánh sáng của sự thức tỉnh. Cuối cùng tham không còn nơi ẩn náu, toàn bộ tiến trình nghiệp thêu dệt nên khổ bị tháo tung, bát chánh đạo đạt điểm đỉnh, và hành giả đạt vĩnh viễn, ánh sáng bất chợt của cái không bị qui định buộc ràng - Niết bàn - Nibbana.

D. Trí huệ (panna)

Bát chánh đạo tốt nhất được hiểu như là một tập hợp các phẩm chất cá nhân cần tu dưỡng, phát triển, hơn là một chuỗi các bước xếp thứ tự tuyến tính. Sự phát triển chánh kiến, và chánh tư duy (các yếu tố được xác định đồng nhất với trí huệ và sự chiếu kiến) tạo điều kiện cho sự phát triển của chánh ngữ, chánh nghiệp, và chánh mạng (các yếu tố đạo đức). Khi đức hạnh phát triển thì các yếu tố đồng nhất với định (chánh tinh tấn, chánh niệm, và chánh định). Cũng như thế khi chánh định viên mãn, trí huệ tiến hóa vào mức càng sâu hơn. Và như thế tiền trình mở ra: sự phát triển của một yếu tố thúc đẩy sự phát triển của yếu tố tiếp theo, nâng hành giả cao lên trên con đường xoáy trôn óc của sự viên mãn tinh thần và cuối cùng đạt đến đỉnh cao Giác ngộ.

Con đường tỉnh thức dẫn đến Giác ngộ bắt đầu với nỗ lực thứ nhất là hành động trong chánh kiến - nhận thức giúp minh định được giá trị của Tứ Thánh Đế và nguyên lý của nghiệp. Con người bắt đầu nhận ra rằng hạnh phúc tương lai của mình không phải do số phận tiền định, mà cũng không phải phó mặc cho đấng thiêng liêng hay may rủi. Trách nhiệm cho hạnh phúc của con người nằm trên chính đôi vai của họ. Biết được điều này, các xu hướng của tâm sẽ nghiêng về các xu hướng khôn ngoan. Khi quyết định đúng đắn này phát triển mạnh hơn lên, thì ước muốn rõ mười mươi muốn sống cuộc sống công chính, lựa chọn các hành động với sự cẩn trọng cũng phát triển.

Vào điểm này, các tín đồ tự tâm phát nguyện nhập tâm giáo lý của Đức Phật, trở thành Phật tử bằng việc qui y Tam Bảo (Triple Gem) : PHẬT (Buddha) (cả Đức Phật trong lịch sử lẫn Phật tiềm năng nội tại của sự Giác ngộ), PHÁP (Dhamma) (cả giáo lý của Đức Phật và Chân lý tối thượng mà giáo lý hướng đến), và TĂNG (Sangha) (cả chư tổ sư truyền đời không gián đoạn đã giữ gìn giáo lý từ thời Đức Phật, và cả chư Tăng đã đạt được sự Giác ngộ ở chừng mực nào đó). Với đôi chân trụ vững trên nền chắc chắn, với sự giúp đỡ của các thiện hữu hoặc các bậc thầy đáng kính - admirable friend or teacher (kalyanamitta) hướng đạo, hành giả giờ đây đã được trang bị đầy đủ để tinh tấn trên đường Đạo, dõi theo bước chân của chính Đức Phật.


III. Người Xưa Chốn Cũ (NS Liễu Pháp biên soạn)

Hỏi: Xin cho biết thêm chi tiết về trưởng lão ni Mahāpajāpati Gotamī ?

Đáp:
Mahāpajāpati Gotamī là em ruột của hoàng hậu Mahamaya, và là di mẫu của Thái Tử Siddhattha. Sau khi sinh thái tử được bảy ngày thì hoàng hậu Maya băng, bà liền được vua Suddhodana tuyển vào cung và đưa lên ngôi hoàng hậu, có trách nhiệm nuôi dạy thái tử. Bà đã thương yêu thái tử như chính con ruột của mình. Năm thứ năm sau ngày Phật thành đạo, vua Tịnh Phạn băng hà. Sau lễ trà tỳ của nhà vua, bà đến vườn Nigrodha cầu xin Phật cho bà và phái nữ được xuất gia. Vì thấy chưa đến lúc thuận tiện, Đức Phật không chấp thuận. Bà khẩn cầu đến ba lần, Ngài vẫn từ chối. Bà buồn bã trở về cung. Sau đó đức Phật rời Kapilavatthu và đi đến hành hóa tại thành Vesali ngự tại tu viện Trùng Các (Kutagarasala) trong rừng Đại Lâm (Mahavana).

Bây giờ, tại Ca Tì La Vệ, ngoài thái hậu Mahāpajāpati Gotamī, còn có rất đông các mệnh phụ trong dòng Thích Ca cũng muốn xuất gia. Dù đã bị Phật từ chối, nhưng ý chí xuất gia của họ không lay chuyển. Bởi vậy, sau khi từ vườn Nigrodha trở về cung, thái hậu đã nảy ra một ý kiến táo bạo. Bà đề nghị với tất cả những mệnh phụ còn có ý muốn xuất gia, hãy tự mình xuống tóc, cởi bỏ tất cả quần áo xa hoa và đồ trang sức, khoác y vàng, chân không giày dép, cùng nhau đi bộ đến thành Vesali để xin Phật cho xuất gia. Tất cả mọi người đều vui vẻ thi hành đề nghị của thái hậu. Họ mặc nhiên coi bà là vị lãnh đạo của họ. Chuẩn bị xong đâu đấy bà dẫn mọi người rời Kapilavatthu, lên đường tiến về Vesali, cách đó khoảng bốn trăm cây số về hướng Đông Nam.

Thấy rõ quyết tâm của bà và những người đồng hành, Tôn giả Ananda đem hết lí lẽ, trọn tình, trọn lí, khẩn thiết trình bày lên Đức Phật, cố xin giùm cho thái hậu và phái nữ được xuất gia. Nhận thấy đã đến lúc thích hợp, Đức Phật bảo cho tôn giả A Nan biết, nếu thái hậu và đoàn người theo bà chấp nhận thi hành trọn vẹn bát kỉnh pháp, họ sẽ được phép xuất gia làm tì kheo ni. Thái hậu và tất cả mọi người đều vui mừng chấp nhận tuân hành bát kỉnh pháp. Thế là ngay sau đó, thái hậu và đoàn người của bà được thọ đại giới, trở thành các vị tì kheo ni đầu tiên. Ni sư Kiều Đàm Di đã được Đức Phật chỉ định làm ni trưởng để lãnh đạo mọi việc thuộc ni đoàn. Ni sư đã được đức Phật trực tiếp giảng dạy cho phép tắc tu học, và sau đó không lâu, ni sư đã đắc quả A la hán. Tiếp đó, các ni sư cùng xuất gia một lần với bà cũng đều chứng quả A la hán. Ni sư đã dìu dắt hàng ngàn ni chúng vào nếp sống nghiêm túc, tinh cần, và rất đông trong số họ đã thành công trong sự tu học, Đức Phật rất hoan hỉ và nhiều lần khen ngợi.

Chúng con kính cung thỉnh ............ từ bi thuyết giảng Phần III bài học hôm nay. Namo Buddhaya.

IV. Chữ và nghĩa (TT Giác Đẳng biên soạn câu trả lời)

Hỏi: Khi nói pháp học, pháp hành phải chăng là có pháp chỉ để học, có pháp chỉ để hành ?

Ðáp:
Tất cả tam tạng kinh điển đều là pháp học (parriyatti). Có những pháp học để biết. Có những pháp học để diệt. Có những pháp học để chứng. Có những pháp học để hành.

Pháp học bao gồm tất cả kinh điển. Pháp hành được đơn cử trong một số pháp nhất định trong ba mươi bảy pháp trợ bồ đề.

Học pháp tạo nên văn huệ. Hành pháp tạo thành tu huệ. Tư huệ có thể do cả hai. Trên đường tu tập pháp hành và pháp học thường bổ túc cho nhau. Trong sự đắc chưng thì pháp hành được tính là chủ yếu.

Chúng con kính cung thỉnh ............ từ bi thuyết giảng Phần IV bài học hôm nay. Namo Buddhaya.

V. Học và hỏi (Sư Tuệ Minh biên soạn câu trả lời)

Hỏi:
Chánh kiến là bước đầu của đường tu hay đoạn cuối ?

Ðáp:
Chánh kiến (sammādiṭṭhi) là thấy rõ tứ đế, thấy được tam tướng đối với ngũ uẩn, biết được pháp nào là thiện và pháp nào là bất thiện.

Đối với người tu Phật có được chánh tri kiến rất quan trọng, nhờ có tri kiến nên biết được đâu là chánh pháp, đâu là phi pháp, nhận biết như vậy mới thực hành đúng, nhờ có thực hành đúng nên thành tựu những pháp chưa thành tựu.

Bài kinh chánh tri kiến, Ngài Xá Lợi Phất đã giải thích tường tận cho các vị tỳ kheo biết về chánh tri kiến, có chánh tri kiến nên đoạn trừ được phiền não, đơn cử là tứ lậu (dục lậu, hữu lậu, kiến lậu và vô minh lậu). Trong pháp cú kinh Đức Phật đã nêu rõ tất cả các Pháp là vô thường, khổ, vô ngã. Thấy biết như thật về các Pháp như vậy thì không còn đau khổ, đưa đến an tịnh.

Chúng con kính cung thỉnh ............ từ bi thuyết giảng Phần V bài học hôm nay. Namo Buddhaya.


VI. Đố Vui (NS Liễu Pháp biên soạn)

1. Hình ảnh nào dưới đây diễn tả chính xác ý nghĩa của Bát chánh đạo ?

a. Một cái thang gồm tám bậc.
b. Một con đường có tám ngã rẽ.
c. Một thang thuốc gồm tám vị thuốc gộp lại.
d. Một ngôi nhà có tám cửa.

2. Đức Phật nói khổ là sự thật của cuộc đời. Vậy những niềm vui hay cảm giác dễ chịu là không có thật hay sao ?

a. Không, đó chỉ là những ảo giác mà thôi.
b. Không, vì với người này là niềm vui, nhưng đối với người khác có khi không phải.
c. Những niềm vui hay cảm giác dễ chịu tuy là có thật, nhưng không kéo dài, và khi nó mất đi thì khổ đau lại đến.
d. Các pháp hữu vi đều là vô thường, và cái gì vô thường thì đều là khổ.

3. Pháp nào dưới đây chỉ tìm thấy trong Phật giáo mà không tìm thấy trong các tôn giáo khác hay trong dân gian ?

a. Lý nghiệp báo.
b. Lý nhân quả.
c. Lý vô ngã.
d. Cả ba điều trên.


________________________________________

Phần II:
Hồi Hướng này đọc khi kết thúc phần đố vui và giảng sư mời Pt MC lên hoàn mãn buổi học. Giới thiệu bài học hôm sau/ Hồi Hướng (Tri Chúng lên hồi hướng)

Sadhu! Sadhu ! Lành Thay!
Con .......... thay mặt đại chúng trong room, chúng con kính tri ân Chư Tôn Đức đã mở lòng bi mẫn giảng dạy Phật pháp hữu ích cho chúng con , đã hướng dẫn, dìu dắt chúng con tiến bước trên hành trình tu tập hầu mong đem lại an lạc trong đời sống và hướng đến đạo quả giải thoát luân hồi. Nguyện hồi hướng phước báu pháp thí đến Ni Sư Diệu Tịnh được nhiều an lạc, tùy tâm mãn nguyện. Cám ơn đại chúng đã lắng tâm thanh tịnh thính pháp. Kính cám ơn quý chủ nhiệm, Ops, xướng ngôn viên đã yểm trợ cho các phần hành trong lớp học được hoàn tất mỹ mãn. Chúng con kính chúc chư Tôn Đức thân tâm thường lạc, đạo hạnh trang nghiêm, tâm bồ đề viên đắc, Phật đạo chóng viên thành, chúc quý đạo hữu luôn an lạc cát tường trong chánh pháp nhiệm màu của Đức từ phụ Thích Ca Mâu Ni.

Kính Bạch chư Tôn Đức,
Kính thưa quý đạo hữu,

Ngày mai chúng ta sẽ có Lớp Phật Giáo Sử do TT Giác Đẳng đảm trách phần II Nội Dung Chính và chư Tôn Ðức giảng sư trong room Diệu Pháp ở các phần khác, với sự điều hợp chương trình của các Ops và MC. Để kết thúc chương trình xin chúng ta nhất tâm hồi hướng.

Nguyện công đức đã làm
Kết duyên lành giải thoát
Nguyện hồi hướng chư thiên
Hàng thiện thần hộ pháp
Nguyện các bậc hữu ân
Ðồng thừa tư công đức
Nguyện chánh pháp trường tồn
Chúng sanh cầu giải thoát
Namo Buddhaya

mở kinh tụng và nhạc, (đóng room)

Kính thưa đại chúng, chương trình sinh hoạt hôm nay đến đây đã kết thúc. Ban điều hành room Diệu Pháp xin phép được đóng room trong vài giây tới. Kính chào tạm biệt tất cả hẹn ngày mai sẽ trở lại trong giờ thường lệ. Namo Buddhaya.