Thứ Hai, 4 tháng 9, 2006

Bài Đọc ngày thứ 2 của MC

Phần I
Lễ Tam Bảo, Phần này đọc sau khi dứt kinh tụng


Namo Buddhaya
MC1: Con ............. (................ điền khuyết) thành kính đảnh lễ Chư Tôn Ðức Tăng Ni, thân chào tất cả quí vị hiện diện. Hôm nay ngày 04 tháng 09 năm 2006 Phật lịch 2550. Ðây là chương trình Phật Học trực tiếp thực hiện trên Paltalk mỗi ngày, giờ VN nhằm 7:30 đến 10:00 tối, giờ Houston 7:30 đến 10:00 sáng, giờ NY từ 8:30 đến 11:00 sáng, giờ Cali 5:30 đến 08:00 sáng, giờ Paris 2:30 đến 5:00 chiều, giờ Sydney 11:30 tối đến 2:00 sáng.

Kính thưa quý vị hôm nay là lớp Lịch Sử Phật Giáo chúng ta sẽ học bài CUỘC ĐỜI ĐỨC PHẬT - Phần II: Sau ngày thành đạo (tt) do SC Liễu Pháp giảng giải phần II nội dung chính. Chúng ta sẽ được nghe chư Tôn Ðức giảng giải các phần khác trong bài học, chương trình tiếp tục với các câu đố và kết thúc với bản tin Phật Giáo.

Mở đầu chương trình xin tất cả chúng ta trang nghiêm tam nghiệp đảnh lễ Tam Bảo.

Chúng con xin kính thỉnh Đại Đức Minh Hạnh đọc kinh Lễ Tam Bảo hôm nay. Namo Buddhaya

(Đại Đức Minh Hạnh)

Nhất tâm đảnh lễ Ðức Như Lai bậc Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Ðiều Ngự, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.

Nhất tâm đảnh lễ Chánh Pháp do Phật thiện thuyết, thiết thực hiện tiền, vượt ngoài thời gian, đến để chứng nghiệm, hiệu năng hướng thượng, trí giả thân chứng.

Nhất tâm đảnh lễ Chư Tăng đệ tử Thế Tôn bậc diệu hạnh, trực hạnh, như lý hạnh, chân chánh hạnh, gồm bốn đôi tám vị, đáng nhận lễ phẩm, tặng phẩm, tế phẩm, kính lễ, là phước điền vô thượng trong đời.

Nguyện cầu uy đức Phật Bảo
Nguyện cầu uy đức Pháp Bảo
Nguyện cầu uy đức Tăng Bảo
Xin Tam Bảo gia hộ
Ngăn ngừa mọi tai ương
Những hiện tượng bất tường
Những mộng mị xấu xa
Những nghịch duyên trở ngại
Thảy đều mau tan biến
Nguyện muôn loài chúng sanh
Người khổ xin hết khổ
Người sợ hết sợ hãi
Người sầu hết sầu bi
Biết cho với niềm tin
Biết hộ trì giới hạnh
Biết lạc trú trong thiền
Chư thiên đã vân tập
Xin tùy hỷ phước lành
Ðược cát tường như ý
Rồi phản hồi thiên xứ
Chư Toàn Giác đại lực
Chư Ðộc Giác đại lực
Thinh Văn Giác đại lực
Nguyện tổng trì uy đức
Cầu phúc lành phát sanh (lạy)
*****************************
___________________________________________________

(MC1 của phần I: ............... (.............. điền khuyết) )

Kính tri ân Sư Minh Hạnh.
Kính bạch chư tôn đức
Kính thưa đại chúng

Bài Học hôm nay:

"2500 YEARS OF BUDDHISM" - 2500 LỊCH SỬ PHẬT GIÁO

---o0o---


CUỘC ĐỜI ĐỨC PHẬT

Phần II: Sau ngày thành đạo

Tác giả P. V. Bapat
Việt dịch Hữu Song Nguyễn Đức Tư

____________

I. Đại lược

Hỏi: Xin cho biết đại lược về bài học.

Ðáp:
Đức Thế Tôn thành đạo năm ngài ba mươi lăm tuổi. Được xem là một bậc đạo sư trẻ thời ấy nhưng Ngài đã khởi đầu con đường hoằng pháp bằng sự cảm hoá và thu nhận những đệ tử lỗi lạc vào Tăng chúng. Đồng thời Ngài cũng đón nhận sự quy ngưỡng của những vi vua có ảnh hưởng lớn nhất thời bấy giờ. Có thể nói thời bình minh của Phật Pháp ghi đậm nét những thành tựu lớn trong sự hoằng đạo của Đức Phật.

Chúng con cung thỉnh ............ từ bi thuyết giảng Phần I bài học hôm nay. Namo Buddhaya.

MC 2 ................. / ĐK: ..................

II. Nội dung chính

Hỏi: Xin đơn cử những điểm chính của bài học hôm nay ?

Ðáp: Thâu nhận 1000 đệ tử tại Uruvela.

Ca Diếp (Kassapa) ở Ưu-lâu-tần-loa (Uruvela), một Bà la môn thờ Thần Lửa, tóc bện, đang làm lễ cúng tế thì được Đức Phật thực hiện một phép mầu. Những người Bà la môn không thể nhóm lửa lên được nếu không được Đức Phật cho phép. Một trận lụt lớn đã xảy ra khi họ đang nhóm lửa. Tuy nhiên, Đức Phật đã làm phép cứu thoát cho những người tế lễ. Sau đó Ca Diếp cùng các tín đồ của ông ta gia nhập vào Tăng đoàn (Sangha). Cùng với tất cả những người này, Đức Phật đến đồi Tượng Đầu (Gayasirsa) và Ngài đã có bài giảng nổi tiếng về sự đốt cháy. Từ đồi Tượng Đầu, Ngài đi tiếp đến Vương Xá (Rājagaha), kinh đô nước Ma-kiệt-đà để giữ trọn lời hứa với vua Tần-bà-xa-la (Bimbisara). Vị vua này đã dâng cúng Tăng đoàn rừng trúc của hoàng gia để làm tu viện.

MC 3 ................. / ĐK: ..................

Hai thượng thủ thinh văn.

Tại kinh đô nước Ma-kiệt-đà có một người tu sĩ khổ hạnh là Sanjaya với một số đông môn đệ, trong đó có Xá-lợi-phất (Sārīputta) và Mục-kiền-liên (Moggallana). Xá-lợi-phất từng được nghe từ Ngài Assaji, một thánh đệ tử của Đức Phật, bài kệ như sau:

“Muôn vật từ duyên sinh
Cũng do duyên mà diệt
Bậc giác ngộ tuyệt vời.
Đã từng như vậy thuyết.”

Khi đã hiểu hết ý nghĩa của bài kệ trên qua Assaji, Xá-lợi-phất trở thành môn đệ của Đức Phật. Mục-kiền-liên cũng làm theo ông. Tăng đoàn được tăng cường thêm hai Bà la môn lớn, họ đều trở thành những đệ tử hàng đầu của Giáo chủ. Xá lợi của hai Ngài đến nay vẫn còn được lưu giữ và được thờ cúng tại nhiều thánh địa.

MC 4 ................. / ĐK: ..................

Phật Pháp truyền vào Kosala (Kiều Tát La)

Số tín đồ thế tục cứ tiếp tục tăng thêm nhanh chóng. Cấp-cô-độc (Anāthapin.d.ika), một thương gia giàu có ở Xá-vệ (Sāvatthi) đã mua lại của Thái tử Kỳ-đà (Jeta) một khu vườn với số vàng lát kín cả mặt đất và dựng lên một tu viện, gọi là Kỳ thọ Cấp-cô-độc viên (Jetavana Vihāra), để cúng dường cho Tăng đoàn. Hoàng đế Ba-tư-nặc (Pasenadi) nước Kiều-tất-la, một phu nhân giàu có tên Visākhā và nhiều nhân vật nổi tiếng của nước Kiều-tất-la đều trở thành môn đệ của Đức Phật. Sau đó, Ngài đi đến thành Vương-xá (Rājagaha), tại đây một ngự y là Jīvaka Kumarabhrtya trở thành đệ tử và chăm sóc sức khỏe cho Đức Phật và Tăng chúng.


Chúng con cung thỉnh ............ từ bi thuyết giảng Phần II bài học hôm nay. Namo Buddhaya.

MC 5 ................. / ĐK: ..................

III. Người Xưa Chốn Cũ

Hỏi: Xin cho biết vài chi tiết về Uruvela ? Có bao nhiêu vị đệ tử nổi tiếng thời Phật có tên Kassapa ?

Đáp:
Danh từ “Uruvela” có nghĩa là “bãi cát lớn” (great sandbank). Uruvela thời Phật còn tại thế là một thị trấn nhỏ nằm cạnh sông Ni Liên Thuyền (Niranjara) thuộc vương quốc Ma Kiệt Ðà (Magadha), dưới quyền trị vì của vua Bimbisara. Trước khi chứng đạo giác ngộ, đức Phật đả trải qua sáu năm tu khổ hạnh ở đây. Và cũng tại nơi này, đức Bồ Tát khi chưa thành Phật đã nhận bát cháo sữa do tín nữ Sujata dâng cúng trong khi Ngài đang tu thiền định dưới gốc cây cổ thụ Ajapala.

Sau khi thành đạo và đến thuyết pháp đầu tiên tại vườn Lộc Uyển, đức Phật đã trở lại Uruvela để hóa độ cho ba anh em ông Ca Diếp theo đạo thờ lửa là Uruvela Kassapa, Nadi Kassapa và Gaya Kassapa xuất gia tu hành và sau này cả ba vị đều chứng đắc quả A La Hán. Uruvela ngày nay tức làng Urel, cách sáu dặm từ thị trấn Gaya, trong quận Gaya, tiểu bang Bihar, miền đông bắc Ấn Ðộ.

MC 6 ................. / ĐK: ..................

Đức Phật có năm vị đệ tử nổi tiếng cùng mang tên Kassapa.

1. Mahā Kassapa xuất thân là con của một triệu phú gia ở Magadha. Sau khi xuất gia chẳng bao lâu ngài đắc quả A-La-Hán và trở thành một vị Ðại Ðệ-tử, tín-cẩn nhất của Ðức Phật. Ðại-Ðức Maha Kassapa có uy tín lớn, nên sau giờ Niết-Bàn của Ðức-Phật, Ngài đảm đương nhiều trọng-nhiệm: chủ-tọa lễ hóa-táng Ðức-Phật tại Kurinara và sau đó 100 ngày, chủ-tọa Ðại-hội Thánh-Tăng, kết-tập Tam-Tạng lần đầu tiên tại Rajagaha. Ngài được Đức Phật khen là tối thắng về hạnh đầu đà.

2. Kumāra-Kassapa vốn là con của một vị tỷ kheo ni. Vì được nhà vua nuôi dưỡng và vì ngài xuất gia khi còn thiếu niên, ngài được gọi là Kumàra-kassapa, dầu cho khi ngài đã lớn. Ngài được bậc Ðạo Sư ấn chứng cho là vị thuyết pháp lanh lợi đệ nhất.

3. Ba anh em Kassapa: Uruvela Kassapa, Nadi Kassapa và Gaya Kassapa. Ba anh em ông là những người có danh vọng lớn ở Magadha, và là những đạo sĩ thờ thần lửa, tự cho mình đã chứng quả A La Hán. Sau khi Đức Phật dùng thần thông để hóa độ họ, ba anh em tin rằng chính Đức Phật mới là người đã chứng quả Thánh, chứ không phải là mình. Sau đó cả ba anh em Kassapa và 1.000 đệ tử đều xin xuất gia theo Phật. Uruvela Kassapa được Đức Phật khen là có đồ chúng nhiều nhất.

Chúng con cung thỉnh ............ từ bi thuyết giảng Phần III bài học hôm nay. Namo Buddhaya.

MC 7 ................. / ĐK: ..................

IV. Chữ và nghĩa

Hỏi: Thượng Thủ Thinh Văn nghĩa là gì ? Tại sao gọi là đại thí chủ ?

Ðáp:
Danh từ Thượng thủ thinh văn (aggasāvaka), nghĩa là vị đệ tử có vị trí tối cao. Trong số chư Thinh văn đệ tử Đức Phật, Tôn giả Sārīputta và Moggallāna là hai vị thượng thủ thinh văn tả hữu của Đức Phật. Vị trí nầy do phước nguyện của hai vị ấy từ đời quá khứ, không phải do Đức Phật phong tước hiệu.

Danh từ Đại thí chủ (Mahādāyaka), nghĩa là vị thí chủ lớn; nghĩa đen là vị thí chủ quan trọng. Đúng nghĩa vị đại thí chủ trong Phật Giáo phải là người có niềm tin Tam Bảo kiên định, có tâm hoan hỷ xã tài, luôn luôn đặt trọng tâm hộ pháp. Thuở Đức Phật hiện tiền, Ngài có hai vị đại thí chủ là ông thiện nam Anāthapin.d.ika và bà tín nữ Visākhā. Tuy nhiên, danh từ đại thí chủ cũng dùng để chỉ chung cho những người cư sĩ bố thí rộng rãi.


Chúng con cung thỉnh ............ từ bi thuyết giảng Phần IV bài học hôm nay. Namo Buddhaya.

MC 8 ................. / ĐK: ..................

V. Học và hỏi

Hỏi: Đạo Phật không chấp nhận việc phân chia giai cấp trong xã hội Ấn là hợp lý. Vậy những vi vua và những người trí thức đến với Phật giáo trong thời ban sơ có đóng vai trò gì quan trọng không ?

Ðáp:
Không phân biệt giai cấp có nghĩa là quan niệm rõ ràng là sự tu tập nội tâm và khả năng giác ngộ không tùy thuộc và giai cấp sang hèn. Đức Phật đã cho phép những người thuộc mọi giai cấp trở thành thành viên của Tăng Đoàn. Dù vậy chúng ta không thể phủ nhận sự thật là sự quy ngưỡng Tam Bảo của những vua chúa, các nhà trí thức, những người giàu có đã là những yếu tố quan trọng cho sự quãng bá Phật Pháp sâu rộng ở bất cứ thời nào.


Chúng con cung thỉnh ............ từ bi thuyết giảng Phần V bài học hôm nay. Namo Buddhaya.


VI. Đố Vui

1. Qua câu chuyện Đức Phật tiếp độ 1000 vị đạo sĩ thờ lửa Uruvelakassapa, hãy nhận xét Đức Phật đã dùng loại thần thông gì để thu phục họ:

a. Biến hóa thần thông.
b. Tiên tri thần thông.
c. Giáo hóa thần thông.
d. Gồm cả ba loại thần thông.

2. Hai vị thượng thủ thinh văn của Đức Phật là Ngài Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên, được giác ngộ chân lý do ai là thầy khai đạo cho hai vị ấy:

a. Chính Đức Phật.
b. Tôn giả Assaji (Mã Thắng).
c. Tôn giả Mahākassapa (Đại Ca Diếp).
d. Khổ hạnh giả Sañjaya.

3. Ngôi chùa ở tại Xá vệ (Sāvatthī) do trưởng giả Cấp Cô Độc xây cất cúng dường Đức Phật. Ngôi chùa ấy có tên là:

a. Kỳ viên tự.
b. Bố kim tự.
c. Kỳ đà lâm.
d. Cả ba tên gọi đều đúng.

________________________________________

Phần II:
Hồi Hướng này đọc khi kết thúc phần đố vui và giảng sư mời Pt MC lên hoàn mãn buổi học. Giới thiệu bài học hôm sau/ Hồi Hướng (Tri Chúng lên hồi hướng)

Sadhu! Sadhu ! Lành Thay!
Con .......... thay mặt đại chúng trong room, chúng con kính tri ân Chư Tôn Đức đã mở lòng bi mẫn giảng dạy Phật pháp hữu ích cho chúng con , đã hướng dẫn, dìu dắt chúng con tiến bước trên hành trình tu tập hầu mong đem lại an lạc trong đời sống và hướng đến đạo quả giải thoát luân hồi. Nguyện hồi hướng phước báu pháp thí đến Ni Sư Diệu Tịnh được nhiều an lạc, tùy tâm mãn nguyện. Cám ơn đại chúng đã lắng tâm thanh tịnh thính pháp. Kính cám ơn quý chủ nhiệm, Ops, xướng ngôn viên đã yểm trợ cho các phần hành trong lớp học được hoàn tất mỹ mãn. Chúng con kính chúc chư Tôn Đức thân tâm thường lạc, đạo hạnh trang nghiêm, tâm bồ đề viên đắc, Phật đạo chóng viên thành, chúc quý đạo hữu luôn an lạc cát tường trong chánh pháp nhiệm màu của Đức từ phụ Thích Ca Mâu Ni.

Kính Bạch chư Tôn Đức,
Kính thưa quý đạo hữu,

Ngày mai chúng ta sẽ có Lớp Ngôn ngữ Thiền Môn do TT Giác Đẳng đảm trách phần II Nội Dung Chính và chư Tôn Ðức giảng sư trong room Diệu Pháp ở các phần khác, với sự điều hợp chương trình của các Ops và MC trong room Diệu Pháp. Để kết thúc chương trình xin chúng ta nhất tâm hồi hướng.

Nguyện công đức đã làm
Kết duyên lành giải thoát
Nguyện hồi hướng chư thiên
Hàng thiện thần hộ pháp
Nguyện các bậc hữu ân
Ðồng thừa tư công đức
Nguyện chánh pháp trường tồn
Chúng sanh cầu giải thoát
Namo Buddhaya

mở kinh tụng và nhạc, (đóng room)

Namo Buddhaya
Kính thưa đại chúng, chương trình sinh hoạt hôm nay đến đây đã kết thúc. Kính chào tạm biệt tất cả, xin hẹn ngày mai vào giờ thường lệ. Xin được phép đóng room trong vài giây tới. Namo Buddhaya.

Chủ Nhật, 3 tháng 9, 2006

No. 1099 NEW (Upekha dịch)

Khảo Cổ Ấn Ðộ khám phá thêm di chỉ Phật Giáo

Amaravath - 8/28/2006 -- Những khám phá của ngành Khảo cổ tại một làng quê nhỏ thuộc quận hạt Andra Pradesh West Godavari do Nghiên Cứu Khảo Cổ Học của Ấn Độ thực hiện đã đưa đến một phát hiện có thể liên quan to tát đến công trình nghiên cứu Phật Pháp.

Các nhà khảo cổ thuộc Viện Khảo Cổ ASI khảo sát một bia văn từ thế kỷ thứ nhứt trước Công Nguyên đã đề cập đến Dakiniyana (Dakini là tên một nữ thần, yana có nghĩa giáo phái). Ðiều này nói rằng đây là lần đầu tiên giáo phái thờ nữ thần được đề cập đến, đi trước các sự chú ý khác vào khoảng 700 năm .

Bia văn được khám phá tại khu vực mà ASI đã khai quật cách 42 km từ Vijayawa và 70 km từ Guntur tại vành đai Amaravathi là khu vực Phật Giáo nổi tiếng trên thế giới

Phân tích về những chi tiết lạ lùng được khám phá, Dr Jitendar Das, quản lý khảo cổ thuộc ASI Hyderabad , nói khu vực Kantamanenivari Gudem cách 2 km từ khuôn viên ngôi chùa Thạch động nổi danh tại Guntupalli,

chủ trại cừu và chủ nông trại dâu đưa thông tin đến , nhóm ASI khai quật tại chỗ và thâu lượm kết qủa đã nói đến. Ở giữa những di vật được phát hiện đầu tiên, họ tìm được một hình tượng Phật ngồi Dhyana đổ nát ,Padma Peetha, những cột trụ trang hoàng và nhiều sản phẩm đồ gốm lịch sử có giá trị

Bên cạnh đó, họ tìm thấy bia văn trong ngôn ngữ Prakrit dùng chữ viết Brahmi ngày tháng từ thế kỷ thứ I sau Tây Lịch

Ông D. Kanna Babu, phụ tá quản lý khảo cổ học và viên chức Viện Bảo Tàng Amaravathi,cùng chung một nhóm, đã chuyển ngữ 3 hàng bia văn như sau”tặng phẩm một bát đầy đồng tiền (masakas) cho Arya sangh (giới trí thức Phật Giáo) và tất cả môn đồ, những người đã trú ngụ tại Jinanagamhaparvatha, do chủ hộ Nagaputa từ Sakuda cùng với vợ của ông , Bodhi và con gái”.

Ông Kanna Babu nói, “ Điều đó đưa ra giả thuyết việc thờ cúng nữ thần của Đạo Phật đã không thấy mãi cho đến thế kỷ thứ 8 sau Tây Lịch. Công Nguyên. Nhưng bia văn này cho thấy việc thờ cúng nữ thần tại nơi trong vòng 5 thế kỷ sau khi Đức Phật nhập diệt.

Ông Babu nói Dakini được đề cập đến như một trong bốn người mẹ hàng đầu nữ thần trong trường phái Vajrayana - Kim Cang Thừa. (Tantrayana) thuộc thế kỷ thứ 7. Dakini đóng vai trò lớn lao trong những nghi lễ của Vajrayana Mật Tông. Tên tuổi được tìm qua văn học Vajrayana của thế kỷ thứ 10.

Khai quật mới được khám phá cho thấy lần đầu tiên một hệ phái được đặt tên là Dakini. Dakini được tin tưởng là người giới thiệu con đường đạo pháp

Trong lễ hội quán đảnh Kalachakra Đức Đa Lai Lạt Ma tiến hành sớm hơn trong năm nay tại Amaravathi. Dakinivana là một vị thần nổi bật trong lễ hội.

Dr Das nói rằng mẫu mã của các cột trụ, chất lượng chạm trổ, thực hiện các đề án, trang trí nghệ thuật đường nét đặc thù của trường phái nghệ thuật Amaravathi.

------------------------------------------------------------------------------------------


No. 1110 NEW (Hạt Cát dịch)

Hòa Thượng Thánh Nghiêm truyền trao

trách nhiệm lãnh đạo cho nguời thừa kế

Ðài Loan - The China Post staff 2006/9/3 -- Hòa Thượng Thánh Nghiêm, vị sáng lập Phật Giáo Pháp Cổ Sơn, một tổ chức Phật Giáo lớn trụ sở chính ở miền Bắc Ðài Loan, ngày hôm qua đã chính thức truyền thừa trách nhiệm lãnh đạo tổ chức Pháp Cổ Sơn lại cho một đệ tử trong một buổi lễ được tham dự bởi đông đảo tín chúng và chư tăng ni.

Lý do chính khiến Lão Sư Thánh Nghiêm chọn lựa bước xuống là vì sức khỏe, đồng thời việc này cho phép Pháp Cổ Sơn có được một lãnh đạo trẻ tuổi hơn.

Pháp Sư Quách Ðổng, 51 tuổi, được Lão Sư Thánh Nghiêm chọn lựa kế thừa - một ứng viên trong danh sách 5 ứng viên - để lãnh đạo Pháp Cổ Sơn bởi vì ông nắm vững cốt lõi quan niệm mà Lão Sư Thánh Nghiêm muốn thực hiện là khuyến tấn bảo vệ môi truờng tâm linh, mục đích chính của Pháp Cổ Sơn.

Khi phát biểu tại buổi lễ truyền thừa, Lão Sư Thánh Nghiêm nói trách nhiệm của vị lãnh đạo là củng cố nguồn nhân lực bên ngoài cũng như bên trong tu viện để thanh tịnh hóa tâm thức nhân loại và xã hội để phục vụ quần chúng hữu hiệu hơn.

Về phần mình, Pháp Sư Quách Ðổng nói rằng bởi vì tổ chức Pháp Cổ Sơn đã được hoàn chỉnh, ông sẽ tận dụng khả năng bản thân để cống hiến cho Pháp Cổ Sơn, cho quần chúng và Phật Giáo Trung Hoa trong suốt thời gian có trách nhiệm lãnh đạo Pháp Cổ Sơn.

Pháp Sư Quách Ðổng nói rằng Lão Sư Thánh Nghiêm sẽ mãi là vị lãnh đạo tinh thần của Pháp Cổ Sơn, ông thệ nguyện sẽ thực hiện quan niệm và tinh thần của Ngài Thánh Nghiêm trong nền móng Pháp Cổ Sơn.

Lão Sư Thánh Nghiêm đã tạo được uy tín, địa phương cũng như quốc tế, về việc mồi lửa cho một sự phục hồi Phật Giáo Trung Hoa. Ðức Ðạt Lai Lạt Ma miêu tả Ngài Thánh Nghiêm như là “một hành giả tâm linh chân chính sâu sắc và uyên bác vô cùng khiêm tốn. Lão Sư Thánh Nghiêm cũng được dành một ghế trong Hội Ðồng Lãnh Ðạo Tôn Giáo Thế Giới.

Trong một cuộc thăm dò ý kiến được thực hiện bởi tạp chí Common Wealth, một tạp chí tiếng tăm Ðài Loan, Ngài Thánh Nghiêm được chọn là một trong 50 người có uy thế nhất tại Ðài Loan trong 400 năm qua.

Ngài thành lập Pháp Cổ Sơn năm 1989 để truyền bá và đề cao giáo lý thuần túy Phật Giáo.

Nhiệm vụ của Pháp Cổ Sơn là “đề cao tính chất nhân bản và xây dựng một cõi tịnh độ nhân gian”. Ðể thực hiện lý tưởng này, Pháp Cổ Sơn chủ trương bảo vệ môi trường tinh thần cũng như ba tính cách giáo dục: Giáo dục qua học thuật, giáo dục qua tiếp cận quần chúng và giáo dục qua phục vụ chu đáo.


Nhật Hành

Ngày: 03 tháng 09 năm 2006

Tri chúng: Nguồn Đức Hạnh

Tri chúng điền khuyết: Upekha

Môn học: Lớp Phật Học Thường Thức

Bài học: Làm Quen Với Tam Tạng Kinh điển

Giảng Sư Chính: ÐÐ Tuệ Quyền

Giảng Sư Điền khuyết: TT Tuệ Siêu


Vị Tăng hoặc Ni nói lời cầu nguyện đầu lớp học: ĐĐ Minh Hanh

Xướng ngôn viên: MC Phần 1:
http://bandieuhanh.blogspot.com & http://baidocmc.blogspot.com

Người mở room: NguonDucHanh, Hat Cat

Người mở nhạc và kinh tụng: NguonDucHanh, Hat Cat, Anitya, Tinh Tan, Bich Thu.

Người hoán chuyển bài cho Room: NguonDucHanh, Nhu Phuc (đk)

Người post bài cho Room: Hat Cat, Tinh Tan, Bich Thu, NguonDucHanh. (đk)

Người post và gửi bài riêng cho chư Tăng: NguonDucHanh.

Trực room (op): TC đk & NguonDucHanh (clean và trực room), Karuna (coi sau nick mới vào room), Upekha (trực mic giảng sư). Các ops khác bounce nếu cần thì remove all mic

Thông báo (nếu có): Dieu Quang xin nghỉ vài tuần bắt đầu từ ngày 2/9.
Bài Đọc ngày Chủ Nhật của MC

Phần I
Lễ Tam Bảo, Phần này đọc sau khi dứt kinh tụng


Namo Buddhaya
MC1: Con ............. (................ điền khuyết) thành kính đảnh lễ Chư Tôn Ðức Tăng Ni, thân chào tất cả quí vị hiện diện. Hôm nay ngày 03 tháng 09 năm 2006 Phật lịch 2550. Ðây là chương trình Phật Học trực tiếp thực hiện trên Paltalk mỗi ngày, giờ VN nhằm 7:30 đến 10:00 tối, giờ Houston 7:30 đến 10:00 sáng, giờ NY từ 8:30 đến 11:00 sáng, giờ Cali 5:30 đến 08:00 sáng, giờ Paris 2:30 đến 5:00 chiều, giờ Sydney 11:30 tối đến 2:00 sáng.

Kính thưa quý vị hôm nay là Lớp Phật Học Thường Thức chúng ta sẽ học bài LÀM QUEN VỚI TAM TẠNG KINH ĐIỂN - Phần II: Nên học Kinh điển như thế nào ? do ĐĐ Tuệ Quyền giảng giải phần II nội dung chính. Chúng ta sẽ được nghe chư Tôn Ðức giảng giải các phần khác trong bài học, chương trình tiếp tục với các câu đố và kết thúc với bản tin Phật Giáo.

Mở đầu chương trình xin tất cả chúng ta trang nghiêm tam nghiệp đảnh lễ Tam Bảo.

Chúng con xin kính thỉnh Đại Đức Minh Hạnh đọc kinh Lễ Tam Bảo hôm nay. Namo Buddhaya

(Đại Đức Minh Hạnh)

Nhất tâm đảnh lễ Ðức Như Lai bậc Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Ðiều Ngự, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.

Nhất tâm đảnh lễ Chánh Pháp do Phật thiện thuyết, thiết thực hiện tiền, vượt ngoài thời gian, đến để chứng nghiệm, hiệu năng hướng thượng, trí giả thân chứng.

Nhất tâm đảnh lễ Chư Tăng đệ tử Thế Tôn bậc diệu hạnh, trực hạnh, như lý hạnh, chân chánh hạnh, gồm bốn đôi tám vị, đáng nhận lễ phẩm, tặng phẩm, tế phẩm, kính lễ, là phước điền vô thượng trong đời.

Nguyện cầu uy đức Phật Bảo
Nguyện cầu uy đức Pháp Bảo
Nguyện cầu uy đức Tăng Bảo
Xin Tam Bảo gia hộ
Ngăn ngừa mọi tai ương
Những hiện tượng bất tường
Những mộng mị xấu xa
Những nghịch duyên trở ngại
Thảy đều mau tan biến
Nguyện muôn loài chúng sanh
Người khổ xin hết khổ
Người sợ hết sợ hãi
Người sầu hết sầu bi
Biết cho với niềm tin
Biết hộ trì giới hạnh
Biết lạc trú trong thiền
Chư thiên đã vân tập
Xin tùy hỷ phước lành
Ðược cát tường như ý
Rồi phản hồi thiên xứ
Chư Toàn Giác đại lực
Chư Ðộc Giác đại lực
Thinh Văn Giác đại lực
Nguyện tổng trì uy đức
Cầu phúc lành phát sanh (lạy)
*****************************
___________________________________________________

(MC1 của phần I: ............... (.............. điền khuyết) )

Kính tri ân Sư Minh Hạnh.
Kính bạch chư tôn đức
Kính thưa đại chúng

Bài Học hôm nay:

LÀM QUEN VỚI TAM TẠNG KINH ĐIỂN

Phần II: Nên đọc kinh điển như thế nào
?


http://minhhanhdp.brinkster.net/access_to_insight/BefriendingTheSuttas.htm
____________


I. Đại lược

Hỏi: Xin cho biết đại lược về bài học.

Ðáp:
Để tiếp thâu hầu hết những gì bạn nghiên cứu nơi kinh điển, có thể là một điều hữu ích với việc để ý vài nguyên lý căn bản trước khi bạn thật sự bắt đầu đọc, và một khi bạn bắt đầu đọc, sẽ có một vài câu hỏi phát khởi trong tâm bạn.


Chúng con cung thỉnh ............ từ bi thuyết giảng phần I của bài học hôm nay. Namo Buddhaya.

MC 2 ................. / ĐK: ..................

II. Nội dung chính

Hỏi: Kinh điển nào cần đọc
?

Ðáp:
Không có gì là "tuyệt đối" trong việc dịch thuật.

Đừng quên rằng Thánh Điển Pālī đã được ghi chép bằng ngôn ngữ Pālī, không phải bằng ngôn ngữ Anh ngữ. Không một bài giảng nào trong cuộc đời hoằng Pháp của Đức Phật mà Ngài nói đến "Suffering" (đau khổ) hoặc "enlightenment" (giác ngộ); để thay cho chữ dukkha và nibbana. Hãy ghi nhớ rằng, tất cả những bản dịch Anh ngữ đã được sửa chữa và cải biên bởi các dịch giả để cho phù hợp với bài kinh - Một vài người đã thấm nhuần sâu xa trong văn hóa của họ trong một giai đoạn nào đó, và kinh nghiệm cũng như sự hiểu biết của họ đã không thể nào tránh khỏi làm thay đổi bản dịch. Những bản dịch của người Anh vào cuối thế kỷ 19th và đầu thế kỷ 20th, thì nghèo nàn và không sáng sủa đối với chúng ta ngày hôm nay, 100 năm về sau từ hôm nay, những bản dịch ngày nay chắc chắn sẽ trở thành xưa cổ. Dịch thuật, giống như người vẽ họa đồ cố gắng làm một đồ án vòng quanh trái đất lên trên tờ giấy bằng phẳng, đó là một nghệ thuật không hoàn hảo.

MC 3 ................. / ĐK: ..................

Điều tốt nhất là đừng chấp nhận đặc biệt bất cứ một bản dịch nào, không một chữ nào hay bài kinh nào. Chỉ vì, một dịch giả dịch chữ "suffering" đồng nghĩa với dukkha hoặc chữ "Unbinding" với chữ nibbana, nó không có nghĩa là bạn phải chấp nhận những bản dịch đó là chân ly'. Hãy thử dùng những chữ đó, để xem chữ nào thích hợp với bạn. Hãy chừa khoảng trống cho sự hiểu biết của bạn thay đổi và trưởng thành, và trau dồi thiện ý để suy xét những bản dịch lệch lạc. Có thể, nhiều lần, sự ưa thích của bạn sẽ thay đổi (thí dụ, bạn có thể tìm thấy chữ "stress" và "quenching" có ích hơn). Nên nhớ rằng bất cứ bản dịch nào cũng chỉ là để thuận lợi - nhưng là tạm thời - bạn phải dùng cho đến khi bạn có thể tự hiểu ý tưởng mà nó diễn tả.

Nếu bạn thật sự nghiêm túc trong việc muốn hiểu bài kinh nói về vấn đề gì, bạn hãy chịu khó học tiếng Phạn. Nhưng cũng có một cách tốt hơn là: đọc các bản dịch và đem giáo lý áp dụng vào sự thực hành cho đến khi bạn nhận được kết quả như lời Đức Phật giảng dạy. Thuần thục Pālī thì tốt nhưng không phải là điều kiện tiên quyết để Giác Ngộ.

MC 4 ................. / ĐK: ..................

Không một bài kinh nào chứa đựng tất cả giáo lý.

Để gặt hái những lợi lạc lớn lao từ kinh điển, hãy nghiên cứu tỉ mỉ nhiều kinh điển khác nhau, không chỉ một vài bài kinh. Các bài pháp về chánh niệm tỉnh giác, thí dụ, mặc dù có giá trị to lớn, lại chỉ tiêu biểu phần nhỏ của toàn thể giáo pháp của Đức Phật: Nguyên tắc là: bất cứ khi nào bạn nghĩ rằng bạn hiểu được tất cả giáo pháp của Đức Phật là gì, hãy nắm lấy điểm đó và đào sâu hơn vào.

Đừng lo lắng về nội dung bài kinh có thật sự từ kim khẩu của Đức Phật lịch sử hay không.

Không có cách nào có thể chứng minh điều đó. Hãy chỉ đọc kinh điển, hãy thực hành giáo pháp những gì bạn có thể làm, và quan sát cái gì xảy ra.

Nếu bạn thích một quyển kinh, hãy đọc lại.

Đôi khi bạn sẽ bắt gặp một quyển kinh lôi cuốn bạn theo một cách nào đó khi lần đầu bạn đọc nó. Hãy tin cậy vào phản ứng này và hãy đọc lại; nghĩa là quyển kinh có điều gì đó quí giá để dạy cho bạn và bạn đã chín mùi để tiếp nhận những giáo pháp mà nó đem lại. Đôi khi đọc lại những quyển kinh bạn nhớ đã thích hàng nhiều tháng hoặc nhiều năm, bạn có thể phát hiện ở chúng một số sắc thái mà trước kia bạn đã bỏ qua.

Nếu bạn không thích đọc một quyển kinh, hãy đọc lại.

Đôi khi bạn sẽ bắt gặp một quyển kinh chỉ làm bạn bực bội. Hãy tin cậy vào phản ứng này; có nghĩa là quyển kinh đó có điều gì giá trị để dạy cho bạn, dù rằng có thể là bạn chưa sẵn sàng cho điều đó. Hãy làm dấu ở đấy và bây giờ hãy tạm để cuốn kinh sang môt bên. Một vài tuần,tháng, năm sau, hãy cầm nó lên và thử đọc lại. Có lẽ một ngày nào đó bạn sẽ kết nối được với nó.

(còn tiếp)

Chúng con cung thỉnh ............ từ bi thuyết giảng phần II của bài học hôm nay. Namo Buddhaya.


MC 5 ................. / ĐK: ..................

III. Người Xưa Chốn Cũ

Hỏi:
Sarnath là nơi nào ? Khujjutarā là ai ?

Đáp:
Sarnath (Lộc vương) là tên mới thay cho Migadāya (Lộc Uyển) hay Rishipatana. Chữ Sarnath không có trong văn chương Pālī hay Sanskrit. Kinh Pālī thường dùng chữ Migadāya hay Isipatana, nhiều khi dùng cả hai Migadāya và Isipatana. Ispatana, chữ Sanskrit là Rsipatana, nghĩa là chỗ trú của các vị ẩn sĩ. Còn chữ Migadāya nghĩa là Lộc uyển, là chỗ Vua Ba-la-nại để cho loài lộc được sống tự do, không ai được săn bắn giết hại. Tự nhiên chỗ này trở nên lý tưởng cho những vị ẩn sĩ muốn xa lánh thành thị. Ðức Phật chuyển Pháp luân lần đầu tiên tại đây. Do đó, Sarnath là thánh tích quan trọng bậc nhì sau Buddhagaya. Sarnath được xem là bất động xứ (avijahitat.t.hānāni) vì tất cả các Đức Phật đều dùng chỗ này để thuyết pháp lần đầu tiên.

Khujjutarā là nữ tỳ của hoàng hậu Sāmāvati. Một lần đến mua hoa ở nhà anh làm vườn Sumana, bà được nghe Đức Phật thuyết pháp và chứng đắc Sơ quả. Mỗi ngày bà đều đi nghe Đức Phật thuyết pháp, ghi nhớ, và khi trở về hoàng cung bà đã thuyết pháp cho hoàng hậu cùng năm trăm cung nữ nghe y như Thế Tôn đã thuyết. Kết quả tất cả những người này cũng đều chứng đắc Sơ quả. Bà được Đức Phật khen là tối thắng về đa văn (bahussutànam.) trong số các nữ cư sĩ. Những bài kinh trong bộ Itivuttaka (Kinh Phật thuyết như vậy) là những bài kinh mà Khujjutāra đã nghe từ Đức Phật và trùng tuyên lại cho hoàng hậu Sāmāvati cùng năm trăm cung nữ.

Chúng con cung thỉnh ............ từ bi thuyết giảng phần III của bài học hôm nay. Namo Buddhaya.

MC 6 ................. / ĐK: ..................

IV: Chữ và Nghĩa

Hỏi: Xin cho định nghĩa các chữ văn huệ, tư huệ và tu huệ ?

Ðáp:
Văn huệ hay trí văn (Sutamayapaññā) là trí tuệ có được do nhờ học hỏi từ nơi người khác. Như nghe thầy dạy, nghe bạn hữu đàm luận... thậm chí là học từ sách vỡ kinh điển.

Tư huệ hay trí tư (cintāmayapaññā) là trí tuệ có được do suy luận, thẫm xét, tự nhận thức. Do học mà biết, đó là văn huệ; do suy nghĩ mà hiểu, đó là tư huệ.

Tu huệ (bhāvanāmayapaññā) là trí tuệ có được do tu chứng. Khi một người tu hành đắc chứng được thiền định, đạo quả thì trí tuệ bừng sáng, liễu tri được các pháp chưa từng được học, chưa từng suy nghĩ


Chúng con cung thỉnh ............ từ bi thuyết giảng phần IV của bài học hôm nay. Namo Buddhaya.

MC 7 ................. / ĐK: ..................

V. Học và hỏi

Hỏi: Nghi ngờ giáo pháp có tội không ?

Ðáp:
Có hai sự nghi ngờ. Sự nghi ngờ thứ nhất là nghi vấn trước những điều khó hiểu hay đáng nghi. Đặt câu hỏi để tìm câu trả lời chứ không phải để phủ lên vấn đề cái nhìn tiêu cực. Đây là sự nghi ngờ "lành mạnh" thuộc vì trí tuệ. Sự nghi ngờ thứ hai là thái độ lưỡng lự, phân vân, không quyết định. Thông thường thì đây là một thói quen "trù trừ" thuộc về phiền não nghi hoặc. Thái độ nghi ngờ thứ nhất tốt cho người học đạo. Thái độ sau là thứ hoài nghi có hại. Nêu ghi nhớ một điều là một người vấn nạn bằng cách nêu lên những câu hỏi có tính xuyên tạc là tà kiến hơn là hoài nghi.

Chúng con cung thỉnh ............ từ bi thuyết giảng phần V của bài học hôm nay. Namo Buddhaya.

VI. Đố Vui

1. Danh từ “kinh điển” có ý nghĩa chính xác là nghĩa nào dưới đây:

a. Tạng kinh trong giáo lý Phật Giáo.
b. Gồm ba tạng Kinh, Luật, Vi Diệu Pháp.
c. Tất cả những gì ghi trong Tam Tạng và sách chú giải.
d. Nói chung về văn hóa sách báo.

2. Trong sự học hỏi giáo lý của người phật tử phải học như thế nào là đúng cách:

a. Phải nghe theo lời giảng của những vị thầy.
b. Không nên nghe theo lời giảng của những vị thầy.
c. Tự mình đọc hiểu kinh điển là đủ.
d. Dùng trí nhận định khi đọc hoặc nghe giảng.

3. Ngôn ngữ có cần thiết hay không cần thiết cho một người tầm cầu sự giải thoát:

a. Không cần, vì sự giải thoát vượt ngoài ngôn ngữ lý luận.
b. Rất cần, vì sự trình bày con đường giải thoát là phải nhờ phương tiện ngôn ngữ.
c. Tùy lúc, giai đoạn tìm hiểu con đường thì cần ngôn ngữ; giai đoạn thực hành để chứng đạt thì không cần ngôn ngữ.
d. Câu b và c đúng.

________________________________________

Phần II:
Hồi Hướng này đọc khi kết thúc phần đố vui và giảng sư mời Pt MC lên hoàn mãn buổi học. Giới thiệu bài học hôm sau/ Hồi Hướng (Tri Chúng lên hồi hướng)

Sadhu! Sadhu ! Lành Thay!
Con .......... thay mặt đại chúng trong room, chúng con kính tri ân Chư Tôn Đức đã mở lòng bi mẫn giảng dạy Phật pháp hữu ích cho chúng con, đã hướng dẫn, dìu dắt chúng con tiến bước trên hành trình tu tập hầu mong đem lại an lạc trong đời sống và hướng đến đạo quả giải thoát luân hồi. Nguyện hồi hướng phước báu pháp thí đến Ni Sư Diệu Tịnh được nhiều an lạc, tùy tâm mãn nguyện. Cám ơn đại chúng đã lắng tâm thanh tịnh thính pháp. Kính cám ơn quý chủ nhiệm, Ops, xướng ngôn viên đã yểm trợ cho các phần hành trong lớp học được hoàn tất mỹ mãn. Chúng con kính chúc chư Tôn Đức thân tâm thường lạc, đạo hạnh trang nghiêm, tâm bồ đề viên đắc, Phật đạo chóng viên thành, chúc quý đạo hữu luôn an lạc cát tường trong chánh pháp nhiệm màu của Đức từ phụ Thích Ca Mâu Ni.

Kính Bạch chư Tôn Đức,
Kính thưa quý đạo hữu,

Ngày mai chúng ta sẽ có Lớp Phật Giáo Sử do SC Liễu Pháp đảm trách phần II Nội Dung Chính và chư Tôn Ðức giảng sư trong room Diệu Pháp ở các phần khác, với sự điều hợp chương trình của các Ops và MC trong room Diệu Pháp. Để kết thúc chương trình xin chúng ta nhất tâm hồi hướng.

Nguyện công đức đã làm
Kết duyên lành giải thoát
Nguyện hồi hướng chư thiên
Hàng thiện thần hộ pháp
Nguyện các bậc hữu ân
Ðồng thừa tư công đức
Nguyện chánh pháp trường tồn
Chúng sanh cầu giải thoát
Namo Buddhaya

mở kinh tụng và nhạc, (đóng room)

Namo Buddhaya
Kính thưa đại chúng, chương trình sinh hoạt hôm nay đến đây đã kết thúc. Kính chào tạm biệt tất cả, xin hẹn ngày mai vào giờ thường lệ. Xin được phép đóng room trong vài giây tới. Namo Buddhaya.

Thứ Bảy, 2 tháng 9, 2006


Nhật Hành

Ngày: 02 tháng 09 năm 2006

Tri chúng: Giới Hương

Tri chúng điền khuyết: Vo Thuong

Môn học: Lớp Luật Nghi Cư Sĩ

Bài học: “ THIỆN HỮU, ÁC HỮU ”


Giảng Sư Chính: ĐĐ Pháp Đăng

Giảng Sư Điền khuyết: TK Giác Đẳng


Vị Tăng hoặc Ni nói lời cầu nguyện đầu lớp học: ĐĐ Minh Hạnh

Xướng ngôn viên: TC, Nguon Đuc Hanh, Tinh Tan, Hat Cat, Chanh Hanh, Bich Thu, Sangkhaly, Upekha, Karuna, Anitya, Nhu Phuc, Minh Chau54
http://baidocmc.blogspot.com & http://bandieuhanh.blogspot.com

Người mở room: Upekha, Hạt Cát (đk).

Người mở nhạc và kinh tụng: Upekha, Hạt Cát, Anitya, Tinh Tan, Bich Thu (đk).

Người hoán chuyển bài cho Room: Bich Thu - Hat Cat - NguonDucHanh - Tinh Tan.

Người post bài cho Room: NguonDucHanh, Bich Thu.

Người post và gửi bài riêng cho chư Tăng: Hat Cat.

Trực room (op): TC đk & Nhu Phuc, Upekha, Karuna.

Thông báo (nếu có):
Lớp Luật Nghi Cư Sĩ

THIỆN HỮU, ÁC HỮU

____________

Giảng sư: ĐĐ Pháp Đăng


I. Đại lược

Hỏi: Xin cho biết đại lược về bài học.

Ðáp:
Thân cận dẫn đến ảnh hưởng, tiêm nhiễm. Dù trong đạo hay ngoài đời thì bạn lành vẫn là trợ duyên quan trọng cho sự tăng tiến. Đời sống người cư sĩ vốn tiếp cận với muôn người. Biết chọn bạn kết giao là yếu tố thành công. Đức Phật đặc biệt có những lời dạy soi sáng về điểm nầy.

Tài liệu trích Cư sĩ giới pháp. Tỳ khưu Giác Giới (Bodhisīla Bhikkhu).


II. Nội dung chính

Hỏi: Những điểm quan trọng gì được nói đến trong bài học nầy
?

Ðáp:
BỐN HẠNG NGỤY BẰNG HỮU, HẠNG BẠN GIẢ DỐI, KHÔNG PHẢI BẠN TỐT.

Điều này cũng được Đức Phật thuyết cho gia chủ tử Sin°gālaka:

1- Bạn vụ lợi (Aññadatthuhara), là người có tính tham lam: gặp gì cũng muốn lấy, cho ít đòi hỏi nhiều, vì sợ mới làm theo, giao du vì mưu lợi.

2- Bạn khẩu biện (Vacīparama), là người chỉ biết nói giỏi: tỏ thân tình việc đã qua, tỏ thân tình việc chưa đến, mua chuộc tình cảm bằng lời ngọt, khi bạn hữu sự thì tỏ ra bất lực.

3- Bạn dua nịnh (Anuppiyabhān.ī), là người nịnh bợ ton hót: đồng tình việc làm xấu, bất đồng việc làm tốt, ca tụng ở trước mặt, xuyên tạc phía sau lưng.

4- Bạn trụy lạc (Apāyasahāya), là người tính hư hỏng: say sưa rượu chè, du hành chơi đêm, hoang dâm đàng điếm, đam mê cờ bạc. -- D.III.185.

BỐN HẠNG CHÂN BẰNG HỮU (SUHADAMITTA), HẠNG BẠN CHÂN TÌNH, HẠNG BẠN TỐT.

Điều này cũng được Đức Phật thuyết cho gia chủ tử Sin°gālaka:

1- Bạn tán trợ (Upakārakamitta), là người bạn giúp đỡ nhau: bảo vệ nhau khi bất cẩn; giữ tài sản của bạn sơ suất, làm chỗ nương tựa khi có sợ hãi, nhiệt tình giúp đỡ khi bạn bè hữu sự.

2- Bạn đồng cam cộng khổ (Samānasukhadukkhamitta), là người chung vui chung khổ: tỏ chuyện thầm kín của mình, giữ kín chuyện bí mật của bạn bè, không bỏ nhau khi gặp hoạn nạn, dám hy sinh vì bạn.

3- Bạn khuyến lợi (Atthakkhāyīmitta), là người bạn khuyên nhắc lợi ích: can ngăn điều ác, khuyến khích điều thiện, nói cho nghe pháp chưa từng nghe, chỉ bày cho biết con đường thiên giới.

4- Bạn thân tình (Anukampakamittta), là người bạn chí cốt tình nghĩa: không vui khi bạn bè gặp nạn, vui mừng khi bạn bè gặp may, phản đối người nói xấu bạn, khích lệ người khen tụng bạn. -- D. III. 187.

III. Người Xưa Chốn Cũ

Hỏi:
Visākhā là người thế nào ? Pubbarāma là ngôi chùa ở đâu ?

Đáp:
Bà Visākhā sanh trưởng tại thành Bhaddiya, trong vương quốc Anga. Cha bà là Dhananjaya, một triệu phú và là quan giữ kho của nhà vua và mẹ bà là Sumanadevi. Lúc vừa lên bảy, bà nhiệt thành lắng nghe những lời giảng giải rõ ràng và trong sáng của Đức Bổn Sư và chứng đắc tầng thánh thứ nhất (nhập lưu). Theo tập tục thời bấy giờ, vào năm lên mười sáu tuổi bà được gả cho Punnavaddhana, con của quan giữ kho tên Migara. Nhờ bà mà toàn thể gia quyến nhà chồng trước đây là tín đồ của giáo phái Nigantha đều theo về với Đức Phật, và ông cha chồng chứng đắc Tu Đà Hườn. Vì lẽ ấy mà bà được tôn vinh là ‘Mẹ của Migara’, mặc dầu bà chỉ là con dâu. Bà Visākhā nổi danh là vị nữ thí chủ quan trọng nhất của Đức Phật và tăng chúng. Bà cho xây dựng ngôi chùa Pubbàràma rộng lớn và dâng đến Đức Phật và chư Tăng. Niềm tin và lòng thỏa thích phục vụ đạo pháp của bà thật vô bờ bến.

Pubbārāmā hay Đông Phương Tự là ngôi chùa do bà thí chủ Visākhā xây ở phía đông cổng thành Sāvatthi để dâng cúng đến Đức Phật và chư Tăng. Ngôi chùa được biết nhiều với tên Migaramatupāsāda (Lộc Mẫu giảng đường). Trong suốt thời gian Đức Phật ở Sāvatthi, Ngài sử dụng luân phiên hai ngôi chùa Kỳ Viên Tự và Đông Phương Tự. Ban đêm Ngài nghỉ tại chùa Kỳ Viên, ban ngày vào buổi trưa Ngài trú tại Lộc mẫu giảng đường hoặc ngược lại. Chư Tăng ở tại hai ngôi chùa, chỉ riêng Đức Phật luân phiên như vậy. Khoảng cách giữa hai ngôi chùa Kỳ Viên và Đông phương tự không xa, ước tính cách thành Xá Vệ 100m và Lộc mẫu giảng đường nằm cách khoảng 150m. Đức Phật nhập hạ sáu lần ở ngôi chùa này.

IV: Chữ và Nghĩa

Hỏi: Thế là bạn (mitta) trong định nghĩa của kinh điển ?

Ðáp:
Trong Phật học nói riêng và văn học Ấn nói chung thì quan niệm về bằng hữu là một đề tài quan trọng. Chữ mitta có nghĩa đen là thân thiện. Nói rộng hơn là người nào dành cho chúng ta sự thân tình và lợi ích thì đúng nghĩa là bạn. Nói theo Phật Pháp là người nên thân cận. Trong văn hóa Ấn thì một vị thầy, một người mẹ, một quí nhơn gặp được trên đường tất cả đều có thể gọi là thiện hữu. Thường gần bạn lành (kalyāna-mitta) là một yếu tố quan trọng trong sự tu tập Phạn ngữ mettā (từ tâm) có liên hệ với chữ mitta (bạn).

V. Học và hỏi

Hỏi: Nếu người Phật tử chỉ thận cận bạn tốt thì ai cứu độ người xấu ?

Ðáp:
Cảm hóa người xấu và thận cận người xấu là hai việc khác nhau. Thân cận hay giao du nói lên sự ưa thích, xu hướng như câu "mã tầm mã, ngưu tầm ngưu". Tất nhiên có một số người đủ bản lãnh để "gần mực mà không đen" nhưng với đa số sự tiêm nhiễm là điều khó tránh. Có rất nhiều điều mà mỗi cá nhân có thể làm cho cuộc đời nhưng tự thân phải có đủ nghị lực, sáng suốt để là "bàn tay lành lặn không sợ thuốc độc". Với phần đông thì sự an lạc, vô sự bản thân là điều kiện tốt để cống hiến cho đời hơn là những rắc rối phiền phức.

VI. Đố Vui

1. Xem cha mẹ, thầy tổ như bạn có phải lại điều bất kính chăng ?

a. Đúng vậy chỉ có người ngang với mình mới là bạn được.
b. Không hẳn. Nếu bạn được nghĩa là người đối với mình bằng lòng từ và sự chân thật.
d. Đúng là điều nên phân biệt như Đức Phật dạy cha mẹ là phương đông, bằng hữu là
phương tây.
c. Xem nhau là bạn thì vui hơn.

2. Tai sao thân cận bạn lành là điều quan trọng trong sự tu tập ?

a. Vì tự lực không đủ mà phải có tha lực.
b. Vì bạn lành giúp ta có cái nhìn khách quan về bản thân.
c. Vì bạn lành có ảnh hưởng tốt đối với hành vi, tư tưởng của mình.
d. b và c đúng.

3. Đức Phật ca ngợi đời sống độc cư lại nói rằng thân cận thiện hữu là toàn phần của Phạm hạnh như vậy Ngài có mâu thuẩn chăng ?

a. Không mâu thuẩn vì một điều dạy cho hàng thượng căn, một điều dạy cho hàng độn căn.
b. Mâu thuẩn. Có lẽ kinh điển bị tam sao thất bổn.
c. Không mâu thuẩn. Thân cận bạn lành không hẳn là từ bỏ độc cư.
d. Thích điều nào thì làm điều đó không có gì là mâu thuẩn.

Thứ Sáu, 1 tháng 9, 2006

Bài Đọc ngày thứ 7 của MC

Phần I
Lễ Tam Bảo, Phần này đọc sau khi dứt kinh tụng


Namo Buddhaya
MC1: Con ............. (................ điền khuyết) thành kính đảnh lễ Chư Tôn Ðức Tăng Ni, thân chào tất cả quí vị hiện diện. Hôm nay ngày 02 tháng 09 năm 2006 Phật lịch 2550. Ðây là chương trình Phật Học trực tiếp thực hiện trên Paltalk mỗi ngày, giờ VN nhằm 7:30 đến 10:00 tối, giờ Houston 7:30 đến 10:00 sáng, giờ NY từ 8:30 đến 11:00 sáng, giờ Cali 5:30 đến 08:00 sáng, giờ Paris 2:30 đến 5:00 chiều, giờ Sydney 11:30 tối đến 2:00 sáng.

Kính thưa quý vị hôm nay Lớp Luật Nghi Cư Sĩ chúng ta sẽ học bài THIỆN HỮU, ÁC HỮU do ĐĐ Pháp Đăng giảng giải phần II nội dung chính. Chúng ta sẽ được nghe chư Tôn Ðức giảng giải các phần khác trong bài học, chương trình tiếp tục với các câu đố và kết thúc với bản tin Phật Giáo.

Mở đầu chương trình xin tất cả chúng ta trang nghiêm tam nghiệp đảnh lễ Tam Bảo.

Chúng con xin kính thỉnh Đại Đức Minh Hạnh đọc kinh Lễ Tam Bảo hôm nay. Namo Buddhaya

(Đại Đức Minh Hạnh)

Nhất tâm đảnh lễ Ðức Như Lai bậc Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Ðiều Ngự, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.

Nhất tâm đảnh lễ Chánh Pháp do Phật thiện thuyết, thiết thực hiện tiền, vượt ngoài thời gian, đến để chứng nghiệm, hiệu năng hướng thượng, trí giả thân chứng.

Nhất tâm đảnh lễ Chư Tăng đệ tử Thế Tôn bậc diệu hạnh, trực hạnh, như lý hạnh, chân chánh hạnh, gồm bốn đôi tám vị, đáng nhận lễ phẩm, tặng phẩm, tế phẩm, kính lễ, là phước điền vô thượng trong đời.

Nguyện cầu uy đức Phật Bảo
Nguyện cầu uy đức Pháp Bảo
Nguyện cầu uy đức Tăng Bảo
Xin Tam Bảo gia hộ
Ngăn ngừa mọi tai ương
Những hiện tượng bất tường
Những mộng mị xấu xa
Những nghịch duyên trở ngại
Thảy đều mau tan biến
Nguyện muôn loài chúng sanh
Người khổ xin hết khổ
Người sợ hết sợ hãi
Người sầu hết sầu bi
Biết cho với niềm tin
Biết hộ trì giới hạnh
Biết lạc trú trong thiền
Chư thiên đã vân tập
Xin tùy hỷ phước lành
Ðược cát tường như ý
Rồi phản hồi thiên xứ
Chư Toàn Giác đại lực
Chư Ðộc Giác đại lực
Thinh Văn Giác đại lực
Nguyện tổng trì uy đức
Cầu phúc lành phát sanh (lạy)
*****************************
___________________________________________________

(MC1 của phần I: ............... (.............. điền khuyết) )

Kính tri ân Sư Minh Hạnh.
Kính bạch chư tôn đức
Kính thưa đại chúng

Bài Học hôm nay:

THIỆN HỮU, ÁC HỮU
____________

I. Đại lược

Hỏi: Xin cho biết đại lược về bài học.

Ðáp:
Thân cận dẫn đến ảnh hưởng, tiêm nhiễm. Dù trong đạo hay ngoài đời thì bạn lành vẫn là trợ duyên quan trọng cho sự tăng tiến. Đời sống người cư sĩ vốn tiếp cận với muôn người. Biết chọn bạn kết giao là yếu tố thành công. Đức Phật đặc biệt có những lời dạy soi sáng về điểm nầy.

Tài liệu trích
Cư sĩ giới pháp. Tỳ khưu Giác Giới (Bodhisīla Bhikkhu).


Chúng con cung thỉnh ............ từ bi thuyết giảng phần I của bài học hôm nay. Namo Buddhaya.

MC 2 ................. / ĐK: ..................

II. Nội dung chính

Hỏi: Những điểm quan trọng gì được nói đến trong bài học nầy
?

Ðáp:
BỐN HẠNG NGỤY BẰNG HỮU, HẠNG BẠN GIẢ DỐI, KHÔNG PHẢI BẠN TỐT.

Điều này cũng được Đức Phật thuyết cho gia chủ tử Sin°gālaka:

1- Bạn vụ lợi (Aññadatthuhara), là người có tính tham lam: gặp gì cũng muốn lấy, cho ít đòi hỏi nhiều, vì sợ mới làm theo, giao du vì mưu lợi.

2- Bạn khẩu biện (Vacīparama), là người chỉ biết nói giỏi: tỏ thân tình việc đã qua, tỏ thân tình việc chưa đến, mua chuộc tình cảm bằng lời ngọt, khi bạn hữu sự thì tỏ ra bất lực.

3- Bạn dua nịnh (Anuppiyabhān.ī), là người nịnh bợ ton hót: đồng tình việc làm xấu, bất đồng việc làm tốt, ca tụng ở trước mặt, xuyên tạc phía sau lưng.

4- Bạn trụy lạc (Apāyasahāya), là người tính hư hỏng: say sưa rượu chè, du hành chơi đêm, hoang dâm đàng điếm, đam mê cờ bạc. -- D.III.185.

MC 3 ................. / ĐK: ..................

BỐN HẠNG CHÂN BẰNG HỮU (SUHADAMITTA), HẠNG BẠN CHÂN TÌNH, HẠNG BẠN TỐT.

Điều này cũng được Đức Phật thuyết cho gia chủ tử Sin°gālaka:

1- Bạn tán trợ (Upakārakamitta), là người bạn giúp đỡ nhau: bảo vệ nhau khi bất cẩn; giữ tài sản của bạn sơ suất, làm chỗ nương tựa khi có sợ hãi, nhiệt tình giúp đỡ khi bạn bè hữu sự.

2- Bạn đồng cam cộng khổ (Samānasukhadukkhamitta), là người chung vui chung khổ: tỏ chuyện thầm kín của mình, giữ kín chuyện bí mật của bạn bè, không bỏ nhau khi gặp hoạn nạn, dám hy sinh vì bạn.

3- Bạn khuyến lợi (Atthakkhāyīmitta), là người bạn khuyên nhắc lợi ích: can ngăn điều ác, khuyến khích điều thiện, nói cho nghe pháp chưa từng nghe, chỉ bày cho biết con đường thiên giới.

4- Bạn thân tình (Anukampakamittta), là người bạn chí cốt tình nghĩa: không vui khi bạn bè gặp nạn, vui mừng khi bạn bè gặp may, phản đối người nói xấu bạn, khích lệ người khen tụng bạn. -- D. III. 187.

Chúng con cung thỉnh ............ từ bi thuyết giảng phần II của bài học hôm nay. Namo Buddhaya.

MC 4 ................. / ĐK: ..................

III. Người Xưa Chốn Cũ

Hỏi:
Visākhā là người thế nào ? Pubbarāma là ngôi chùa ở đâu ?

Đáp:
Bà Visākhā sanh trưởng tại thành Bhaddiya, trong vương quốc Anga. Cha bà là Dhananjaya, một triệu phú và là quan giữ kho của nhà vua và mẹ bà là Sumanadevi. Lúc vừa lên bảy, bà nhiệt thành lắng nghe những lời giảng giải rõ ràng và trong sáng của Đức Bổn Sư và chứng đắc tầng thánh thứ nhất (nhập lưu). Theo tập tục thời bấy giờ, vào năm lên mười sáu tuổi bà được gả cho Punnavaddhana, con của quan giữ kho tên Migara. Nhờ bà mà toàn thể gia quyến nhà chồng trước đây là tín đồ của giáo phái Nigantha đều theo về với Đức Phật, và ông cha chồng chứng đắc Tu Đà Hườn. Vì lẽ ấy mà bà được tôn vinh là ‘Mẹ của Migara’, mặc dầu bà chỉ là con dâu. Bà Visākhā nổi danh là vị nữ thí chủ quan trọng nhất của Đức Phật và tăng chúng. Bà cho xây dựng ngôi chùa Pubbàràma rộng lớn và dâng đến Đức Phật và chư Tăng. Niềm tin và lòng thỏa thích phục vụ đạo pháp của bà thật vô bờ bến.

Pubbārāmā hay Đông Phương Tự là ngôi chùa do bà thí chủ Visākhā xây ở phía đông cổng thành Sāvatthi để dâng cúng đến Đức Phật và chư Tăng. Ngôi chùa được biết nhiều với tên Migaramatupāsāda (Lộc Mẫu giảng đường). Trong suốt thời gian Đức Phật ở Sāvatthi, Ngài sử dụng luân phiên hai ngôi chùa Kỳ Viên Tự và Đông Phương Tự. Ban đêm Ngài nghỉ tại chùa Kỳ Viên, ban ngày vào buổi trưa Ngài trú tại Lộc mẫu giảng đường hoặc ngược lại. Chư Tăng ở tại hai ngôi chùa, chỉ riêng Đức Phật luân phiên như vậy. Khoảng cách giữa hai ngôi chùa Kỳ Viên và Đông phương tự không xa, ước tính cách thành Xá Vệ 100m và Lộc mẫu giảng đường nằm cách khoảng 150m. Đức Phật nhập hạ sáu lần ở ngôi chùa này.

Chúng con cung thỉnh ............ từ bi thuyết giảng phần III của bài học hôm nay. Namo Buddhaya.

MC 5 ................. / ĐK: ..................

IV: Chữ và Nghĩa

Hỏi: Thế là bạn (mitta) trong định nghĩa của kinh điển ?

Ðáp:
Trong Phật học nói riêng và văn học Ấn nói chung thì quan niệm về bằng hữu là một đề tài quan trọng. Chữ mitta có nghĩa đen là thân thiện. Nói rộng hơn là người nào dành cho chúng ta sự thân tình và lợi ích thì đúng nghĩa là bạn. Nói theo Phật Pháp là người nên thân cận. Trong văn hóa Ấn thì một vị thầy, một người mẹ, một quí nhơn gặp được trên đường tất cả đều có thể gọi là thiện hữu. Thường gần bạn lành (kalyāna-mitta) là một yếu tố quan trọng trong sự tu tập Phạn ngữ mettā (từ tâm) có liên hệ với chữ mitta (bạn).

Chúng con cung thỉnh ............ từ bi thuyết giảng phần IV của bài học hôm nay. Namo Buddhaya.

MC 6 ................. / ĐK: ..................

V. Học và hỏi

Hỏi: Nếu người Phật tử chỉ thận cận bạn tốt thì ai cứu độ người xấu ?

Ðáp:
Cảm hóa người xấu và thận cận người xấu là hai việc khác nhau. Thân cận hay giao du nói lên sự ưa thích, xu hướng như câu "mã tầm mã, ngưu tầm ngưu". Tất nhiên có một số người đủ bản lãnh để "gần mực mà không đen" nhưng với đa số sự tiêm nhiễm là điều khó tránh. Có rất nhiều điều mà mỗi cá nhân có thể làm cho cuộc đời nhưng tự thân phải có đủ nghị lực, sáng suốt để là "bàn tay lành lặn không sợ thuốc độc". Với phần đông thì sự an lạc, vô sự bản thân là điều kiện tốt để cống hiến cho đời hơn là những rắc rối phiền phức.

Chúng con cung thỉnh ............ từ bi thuyết giảng phần V của bài học hôm nay. Namo Buddhaya.

________________________________________

Phần II:
Hồi Hướng này đọc khi kết thúc phần đố vui và giảng sư mời Pt MC lên hoàn mãn buổi học. Giới thiệu bài học hôm sau/ Hồi Hướng (Tri Chúng lên hồi hướng)

Sadhu! Sadhu ! Lành Thay!
Con .......... thay mặt đại chúng trong room, chúng con kính tri ân Chư Tôn Đức đã mở lòng bi mẫn giảng dạy Phật pháp hữu ích cho chúng con, đã hướng dẫn, dìu dắt chúng con tiến bước trên hành trình tu tập hầu mong đem lại an lạc trong đời sống và hướng đến đạo quả giải thoát luân hồi. Nguyện hồi hướng phước báu pháp thí đến Ni Sư Diệu Tịnh được nhiều an lạc, tùy tâm mãn nguyện. Cám ơn đại chúng đã lắng tâm thanh tịnh thính pháp. Kính cám ơn quý chủ nhiệm, Ops, xướng ngôn viên đã yểm trợ cho các phần hành trong lớp học được hoàn tất mỹ mãn. Chúng con kính chúc chư Tôn Đức thân tâm thường lạc, đạo hạnh trang nghiêm, tâm bồ đề viên đắc, Phật đạo chóng viên thành, chúc quý đạo hữu luôn an lạc cát tường trong chánh pháp nhiệm màu của Đức từ phụ Thích Ca Mâu Ni.

Kính Bạch chư Tôn Đức,
Kính thưa quý đạo hữu,

Ngày mai chúng ta sẽ có Lớp Phật Học Thường Thức do ĐĐ Tuệ Quyền đảm trách phần II Nội Dung Chính và chư Tôn Ðức giảng sư trong room Diệu Pháp ở các phần khác, với sự điều hợp chương trình của các Ops và MC trong room Diệu Pháp. Để kết thúc chương trình xin chúng ta nhất tâm hồi hướng.

Nguyện công đức đã làm
Kết duyên lành giải thoát
Nguyện hồi hướng chư thiên
Hàng thiện thần hộ pháp
Nguyện các bậc hữu ân
Ðồng thừa tư công đức
Nguyện chánh pháp trường tồn
Chúng sanh cầu giải thoát
Namo Buddhaya

mở kinh tụng và nhạc, (đóng room)

Namo Buddhaya
Kính thưa đại chúng, chương trình sinh hoạt hôm nay đến đây đã kết thúc. Kính chào tạm biệt tất cả, xin hẹn ngày mai vào giờ thường lệ. Xin được phép đóng room trong vài giây tới. Namo Buddhaya.

No. 1092 NEW (Tinh Tấn dịch)

Thiện tín hợp lực cứu nguy cây Bồ Đề thiêng liêng

Được viết bởi Tan Hui Yee, The Straits Times,
Ngày 19 tháng 08, 2006.

Singapore -- Một ngôi cổ tự 65 tuổi nằm gần đường Bartley và cây Bồ Đề to lớn của nó - đang nằm trong quy hoạch mở đường của Chính Phủ - thu hút du khách hàng tuần đang được kêu gọi bảo tồn cả hai.

Từ lúc Tu viện Phật giáo đưa ra các thông tin trong tháng Tư rằng cây Bồ Đề của chùa trồng nay đã hơn 100 năm tuổi – hơn 6,000 ngàn người đã kéo xuống Tu Viện tại Lorong How Sun để kiểm chứng.

Một số người đã thực hiện những trang web và bắt đầu đưa đơn thỉnh cầu lên mạng để cứu vãn ngôi chùa tường gỗ - mái tôn mà một chuyên gia đã nói không thể nào phá hủy mà không ảnh hưởng đến cây Bồ Đề vì nền móng của chùa đã bị rễ cây quyện vào.

Ban quản trị tu viện đã nói với nhà báo The Straits Times rằng tu viện đã xin được 5,000 chữ ký từ tháng Tư trong chiến dịch phản đối quy hoạch vùng đất của chùa.

Cây Bồ Đề được xem là thiêng liêng vì Đức Phật Thích Ca đã chứng được đạo quả Chánh Đẳng Chánh Giác trong khi Ngài ngồi dưới một cội Bồ Ðề. Cây Bồ Đề tại Kim Long Tự có thân lớn khoảng 8.5 m và cao 30.5 m.

Theo Tiến Sĩ Shawn Lun, phó chủ tịch của Hội Xã hội Thiên Nhiên (Singapore), cây Bồ Đề này là cùng lứa với cây Bồ Đề tại Khuôn viên Thành Phố Pearl’s Hill đã được bảo tồn như một cây di sản bởi Ủy Ban Công viên Quốc gia (NParks).

Ủy Ban này (NParks) đã cho biết vẫn còn đang nghiên cứu cây Bồ Đề này có thể là một cây di sản hay không.

Ông Richard Or, 45 tuổi, hy vọng rằng cây Bồ Đề sẽ được bảo tồn. Một thương gia đã viếng thăm tu viện lần đầu tiên Chủ Nhật vừa qua đã nói: “Cây Bồ Đề này rất uy nghi và là ranh giới chính yếu của khu vực này”.

Theo một người trong ban quản trị tu viện, Ông Tan Poh Heong, 74 tuổi, tu viện đón nhận những du khách địa phương từ các chuyến xe bus cũng như các du khách từ các quốc gia như Nhật Bản, Thái Lan và Trung Quốc hàng tuần.

Đơn thỉnh cầu trên mạng được khởi đầu bởi các du khách viếng thăm tu viện cho biết làm thế nào Cơ Quan Di Dời Ðịa Trạch đã trả chi phí 200, 000 đô la năm qua và chuyển hướng con đường Braddell để bảo vệ một cây cổ thụ angsana 80 tuổi. Đơn này đã thỉnh cầu chính quyền thực hiện cùng quan điểm đối với cây Bồ Đề ở Kim Long Tự.

Cơ Quan Tái thiết Thành phố đã nói rằng khoảng đất tu viện, nằm trên một ngọn đồi phía sau trạm Circle Line Bartley tương lai, đã được hoạch định để sát nhập vào vùng đất của quốc gia để xây dựng được nhiều nhà hơn.

Lãnh thổ Singapore bị giới hạn, cần có một sự nổ lực liên tục để tối ưu hóa về việc xử dụng đất đai của chúng ta, đặc biệt các địa điểm phục vụ cho hạ tầng cơ sở giao thông công cộng chính yếu như Trục GiaoThông và các trạm xe hỏa tốc hành MRT (Mass Rapid Transit) khác. Cơ Quan thẩm quyền cũng nói rằng họ đang làm việc với Ủy Ban Công viên Quốc gia (NParks) để lượng định rằng cây Bồ Đề có nên được bảo tồn hay không.

Tu viện được đền bù để chọn một địa điểm khác tại Punggol, nhưng ban quản lý chùa vẫn còn hy vọng tu viện sẽ không bị dời đi.

Được hỏi rằng ông sẽ làm gì nếu đơn thỉnh cầu bị từ chối, Ông Tan, người đã phụng sự cho tu viện trong 20 năm, trông sửng sờ. Tuôn lệ, ông trả lời bằng tiếng Quan Thoại: “Tôi là người đầu tiên sẽ khóc”.

------------------------------------------------------------------------------------------


No. 1105 NEW (Minh Châu dịch)

Tòa án cho phép Phật tử cầu nguyện

nhưng không được cư trú tại chỗ.

Ngày 31 tháng 8, 2006

Santa Ana, Calif. -- Vị thẩm phán liên bang đã cho phép Phật tử của một ngôi chùa Việt Nam, chùa Quan Âm - trong những tuần qua có sự tranh tụng với chính quyền thành phố - tạm thời tổ chức những khóa lễ tại một cơ sở y tế, mặc cho sự chống đối của chính quyền quận hạt Garden Grove dựa vào lý do trở ngại lưu thông và sự ồn náo.

Vị thẩm phán tỉnh ông Cormac Carney ngày Thứ Tư đã tạm thời đưa ra một thỏa hiệp và yêu cầu cả hai bên đi đến một thỏa thuận về việc Phật tử có thể sử dụng cơ sở mà họ đang giữ chủ quyền. Ông Carney nói ông sẽ lập ra một phiên tòa theo lời yêu cầu của chùa để ban lệnh ngăn cấm chính quyền thành phố thi hành luật qui vùng của họ, nếu không có sự thỏa thuận trước ngày Thứ Sáu.

Vị luật sư của chính quyền, Lois Bobak, nói rằng bà không phản đối việc điều đình với nguyên cáo, nhưng bà nhấn mạnh rằng chính quyền sẽ không cho phép những vị lãnh đạo chùa Quan Âm cư trú tại cơ sở này.

Trong tháng này hội American Civil Liberties Union đã nhân danh chùa đưa đơn kiện, rằng nhà cầm quyền thành phố đã vi phạm luật hiến pháp khi cản trở việc xây cất tại ngôi chùa.

Theo trong đơn kiện, chùa đã mua lại cơ sở này trên diện tích 1 mẫu 8 với số tiền 1 triệu 9 trăm năm mươi ngàn đô vay từ bổn đạo, nhưng chính quyền tỉnh đã tiếp tục từ chối sửa lại điều lệ qui vùng để cho một cơ sở tôn giáo được xây cất trên cuộc đất này.

Chính quyền thành phố đã bác bỏ đơn xin theo sự khiếu nại của hàng xóm.

Theo lời khiếu nại, ngôi chùa đã được kiến lập vào năm 1999 với vài Phật tử nhưng đã phát triển thành một cơ sở hai tầng vào năm 2003. Bà Belinda Helzer, luật sư của chùa nói, một khóa lễ bình thường vào cuối tuần có thể có đến 100 người, và trong những buổi lễ đặc biệt có thể lên đến 350 người, nhưng những buổi lễ này thường được tổ chức ở một địa điểm khác.


Nhật Hành

Ngày: 01 tháng 09 năm 2006

Tri chúng: Tinh Tấn

Tri chúng điền khuyết: Bich Thu

Môn học: Chương trình đặc biệt

Bài học: TƯỞNG NIỆM NGÀI K. SRI DHAMMANANDA

Giảng Sư Chính: TT Giác Đẳng

Giảng Sư Điền khuyết: TT Tuệ Siêu

Vị Tăng hoặc Ni nói lời cầu nguyện đầu lớp học: ĐĐ Minh Hạnh

Xướng ngôn viên: Tinh Tn, Anitya, Hatcat, Bich Thu, Nguon Đuc Hanh, Sangkhaly, Nhu Phuc, Upekha, Karuna, Minh Chau54 ….. http://baidocmc.blogspot.com & http://bandieuhanh.blogspot.com

Người mở room: Bich Thu, Tinh Tan.

Người mở nhạc và kinh tụng: Bich Thu, Tinh Tan.

Người hoán chuyển bài cho Room: Nguon Duc Hanh – Hat Cat (đk)

Người post bài cho Room: Tinh Tan, Bich Thu

Người post và gửi bài riêng cho chư Tăng: Upekha.

Trực room (op): Bich Thu.

Thông báo (nếu có):
Chương trình đặc biệt

TƯỞNG NIỆM NGÀI K. SRI DHAMMANANDA

Tiểu sử Ngài K. Sri Dhammananda


( ÐÐ Nguyên Tạng dịch)
____________

Hướng dẫn chương trình: TT Giác Đẳng


Thuở Thiếu Thời:

Hòa thượng Dhammananda, thế danh Martin (vì sanh ra trong thời gian đô hộ của Thực dân Anh quốc, nên phải dùng tên tiếng Anh), sinh ngày 18 tháng 3 năm 1919 trong một gia đình trung lưu, cha là cụ ông K. A. Garmage tại làng Kirinde, tỉnh Matara, miền Nam nước Tích Lan (Ceylon), Ngài là người con trưởng trong một gia đình có 6 anh chị em.

Ngài bắt đầu học tiểu học năm 7 tuổi tại trường làng Kirinde. Không giống như những làng khác ở Tích Lan, Kirinde chưa hề bị tác động bởi chiến dịch truyền đạo của Ky Tô giáo. Nhờ thế mà PG vẫn còn ảnh hưởng mạnh mẽ đến sinh hoạt của người dân và ngôi chùa của địa phương. Bên cạnh người mẹ mộ đạo, Ngài được người cậu ruột là một Tăng sĩ trụ trì ngôi chùa của địa phương này giúp đỡ và hướng dẫn ngài học Phật, chẳng bao lâu ý tưởng xuất gia học đạo phát khởi trong tâm hồn của ngài.

Năm 12 tuổi, Ngài xuất gia làm chú tiểu (samanera) với Hòa thượng K Dhammaratana Maha Thera ở chùa Kirinda với pháp danh là Dhammananda, (Pháp Hỷ, nghĩa là "người chứng nghiệm hạnh phúc qua giáo Pháp" (one who experiences happiness through the Dhamma). Tiếp đó Ngài được gởi vào trường để học Phật Pháp trong vòng 10 năm trước khi đăng đàn thọ Tỳ kheo giới (Bhikkhu) vào năm Ngài 22 tuổi (1940). Hòa thượng dẫn đầu trong giới đàn này là Trưởng Lão K. Ratanapala Maha Thera tại chùa Kotawila.

Tu học tại Tích Lan:

Tiếp đó Ngài đã ghi danh vào học trường Dhammarama Pirivena và rồi Học viện Phật giáo Vidyawardhana tại thủ đô Colombo, niên khóa 1935-1938. Giáo sư chính thức của Ngài là HT. Kotawila Deepananda Nayaka Thera. Năm 1938, Ngài tốt nghiệp tại trường này và tiếp tục học tại trường Vidyalankara Pirivena, ở Peliyagoda, là một đại học Phật giáo rất nổi tiếng ở Tích Lan vào thời bấy giờ. Trong bảy năm lưu học tại đây, ngài đã học Pālī, Sanskrit, Triết học, Tam Tạng Kinh Điển và nhiều môn học xã hội khác để trang bị cho chương trình giáo dục phổ cập và hoằng dương Phật Pháp của Ngài về sau. Ở tuổi 26, Ngài đã hoàn tất chương trình học tại nơi đây.

Bảy năm được đào tạo trong môi trường Phật học và lối sống nghiêm khắc của Tu viện tại đây đã mang lại những hữu ích về sau trong sứ mạng truyền giáo của Ngài. Vị Pháp sư tinh thần của Ngài tại đại học này là Trưởng lão Lunupokune Sri Dhammananda Nayaka Thera, một bậc học giả uyên bác của Phật giáo Tích Lan.

Tu học tại Ấn Độ:

Tiếp đó, vào năm 1945, HT. Dhammananda được đại học Hindu, Ấn Độ cấp học bổng và Ngài đã lên đường du học. Bạn cùng khóa với ngài lúc ấy hiện nay còn Hòa thượng P. Pannananda Nayaka Maha Thera, (đang ở Tích Lan); Hòa Thượng Tiến sĩ. H. Saddhatissa Maha Thera (ở Luân đôn); Hòa thượng Tiến sĩ U. Dhammaratana (chủ tịch Hội Đại Bồ Đề, Ấn) và Hòa thượng Tiến sĩ Amritananda Thera (Chủ Tịch Hội Đồng Tăng Già Nepal). Sau bốn năm học tại đây, HT. Dhammananda đã tốt nghiệp với bằng cấp Cao học về Triết học Ấn Độ vào năm 1949. Một trong số những giáo sư nổi tiếng của Ngài tại đại học này là cố Tiến sĩ S. Radhakrishnan, cũng là vị tổng thống đầu tiên của Cộng Hòa Ấn Độ.

Hoằng Pháp tại quê nhà:

Sau khi tốt nghiệp, Ngài trở về Tích Lan và mở một Trường Phật giáo Sudharma tại Kotawila để giúp cho dân chúng học Phật. Ngài cũng cho phát hành một tờ báo tiếng Tích Lan để phổ biến giáo lý. Những lớp giáo lý, những bài thuyết pháp và nhiều hoạt động giáo dục khác của Ngài đều truyền cảm hứng đẹp đẽ cho dân làng quy hướng về Chánh Pháp. Trong số những vị phụ giúp Ngài lúc đó có Đại đức K.Pemaloka và Đại đức K. Hemasiri, những người về sau vẫn theo Ngài đến Mã Lai để tiếp tục công tác truyền giáo tại Brickfields.

Sứ mạng truyền giáo tại Mã Lai:

Năm 1952, Hòa thượng K. Sri Pannasara Nayaka Thera, Viện Trưởng Tu viện Vidyalanakara Pirivena, đã nhận một lá thư từ Hội PG Sasana Abhiwurdhi Wardhana, Mã Lai. Hội này có một ngôi chùa ở Brickfields, được xem là một Hội PG lâu đời nhất trong cộng đồng Tích Lan tại Mã Lai. Hội muốn thỉnh cầu một vị Tăng Mã Lai để hướng dẫn đời sống tâm linh cho cộng đồng Tích Lan tại xứ sở này.

Hòa Thượng Dhammananda với chư Tăng Mã Lai:

Trong số 400 Tăng sĩ ở tu viện Vidyalankara Pirivena, Tỳ kheo Dhammananda đã được tuyển chọn để gởi đi hoằng Pháp tại Mã Lai. Ngài đã sẵn lòng tiếp nhận lời thỉnh cầu này dù Ngài rất muốn ở lại quê nhà để hoằng Pháp. Tuy nhiên, Ngài ý thức được rằng tại quê nhà còn nhiều vị tăng khác có thể làm công tác hoằng pháp, trong khi ấy tại Mã Lai, nhu cầu chấn hưng Phật Pháp là việc khẩn thiết, vì vào thời điểm ấy tình hình PG tại Mã Lai, dù có nhiều chùa người Trung Hoa, nhưng phần lớn không có giảng dạy giáo lý và tổ chức tu học mà chỉ nặng phần lễ nghi và cúng kiến. Do đó HT. Dhammananda quyết định lên đường trong một thời gian ngắn. Ngài đã xuống tàu thủy vào sáng ngày 2 tháng giêng năm 1952. Ba ngày sau Ngài đã đến được cảng Penang, miền Bắc của Mã Lai.

Sự nghiệp hoằng Pháp tại Mã Lai:

Khi đến Penang, Ngài lưu trú tại chùa Mahindarama trước khi đón máy bay đến chùa Brickfields ở Kuala Lumpur. Tháng 3 năm 1952, Ngài nhận được một lá thư của Tổng Toàn quyền Anh tại Mã Lai, ông Gerald Templer, yêu cầu được gặp Ngài để tìm hiểu xem Phật Pháp có mối liên hệ nào với ý thức hệ Cộng sản (Communist ideology) chăng. Vì lúc bấy giờ có nhiều nguồn tin cho rằng sẽ có những cuộc nổi dậy chống chính quyền từ các cộng đồng PG người Hoa. Những ý tưởng sai lầm về PG của ông Toàn quyền Gerald đã được HT. Dhammananda đả thông và hướng dẫn ông ta trở về nghiên cứu Đạo Phật. Ngài nói với ông ta rằng "Đạo Phật là một tôn giáo từ bi và không bạo động vì Đức Phật hướng dẫn con người sống trong hòa hợp và hòa bình với chính mình và người khác" (Buddhism is a non-violent and compassionate religion taught by the Buddha to show Man to live in peace and harmony with oneself and others). Hòa thượng Dhammananda nhấn mạnh thêm rằng Đạo Phật dạy cho con người tu tập tâm linh và sống có đạo đức, trong khi Cộng sản là một phong trào chính trị. Đoán chắc HT. Dhammananda không phải là "đơn vị thứ năm" của Cộng sản, toàn quyền Gerald đã mời Hòa thượng giúp đỡ chính quyền về mặt tâm lý để trấn an quần chúng, nhất là cộng đồng di dân người Hoa tại Mã Lai, vì chính quyền hồ nghi rằng cộng đồng này có khuynh hướng theo chủ nghĩa Cộng sản.

Hòa thượng Dhammananda đã nắm lấy cơ hội ấy để mở rộng chương trình hoằng Pháp của Ngài trên khắp Mã Lai. Ngài đã giúp cho Hội PG Sasana Abhiwurdhi Wardhana và Trung Tâm PG Selangor cũng như Hội Liên Hữu PG Thế giới tại Mã Lai đẩy mạnh công tác truyền giáo. Kết quả cho thấy cộng đồng người Hoa đã quy hướng về với đạo Phật rất nhiều.

Trong hai thập niên 1950 và 1960, PG Mã Lai rất nghèo nàn ở trong hầu hết các cộng đồng. PG trong thời kỳ này chỉ là một vỏ bọc đầy những sinh hoạt mê tín dị đoan, tràn lan trên khắp Mã Lai. Phần lớn người Hoa trí thức đều chán ngán và bỏ theo đạo Ky Tô, vì họ nhìn thấy Ky Tô giáo có nhiều sinh hoạt tôn giáo tích cực, rõ ràng, hợp lý hơn do các nhà truyền giáo nước ngoài mang vào.

HT. Dhammananda cố gắng loại bỏ những quan điểm sai lầm về PG trong tâm trí của quần chúng ở Mã Lai. Ngài đã phát động một phong trào diễn thuyết PG rầm rộ trên toàn Mã Lai, phụ tá của Ngài bây giờ có các vị Tỳ kheo như K Gunaratana, Chuk Mor and Tỳ kheo Tiến sĩ người Mỹ Sumangalo đã làm cho phong trào ngày càng thêm thu hút và nhiều kết quả khả quan.

Sự phát triển của tổ chức hoằng Pháp:

Năm 1961, HT. Dhammananda đã thảo luận với các nhà lãnh đạo cư sĩ PG Mã Lai để thành lập một tổ chức truyền bá lời Phật dạy để đáp ứng lại nhu cầu bức thiết của Mã Lai. Năm 1962, Hội Truyền Bá Chánh Pháp (Buddhist Missionary Society/BMS) đã được thành lập tại chùa PG Brickfields với các mục tiêu: Học hỏi, quảng bá PG và văn hóa PG; khuyến khích và cổ võ mọi người học hỏi và hành trì Phật Pháp; in ấn và phát hành Kinh sách PG; cung cấp những pháp môn phù hợp để mọi người thực hành; an ủi, hướng dẫn, giúp đỡ cho mọi Phật tử trong các trường hợp đau bệnh hay chết chóc v.v...

HT. Dhammananda nghĩ rằng một trong những phương cách để truyền bá PG là viết sách về nhiều lĩnh vực khác nhau để người tín đồ có thể nương theo đó mà hành trì trong đời sống hằng ngày. Vì thế Ngài bắt đầu viết những bài báo, rồi những cuốn sách nhỏ bỏ túi, nội dung của sách phản ảnh những thắc mắc của người Mã Lai. Một trong những tập sách đầu tiên là hướng dẫn cách trì tụng Kinh tiếng Pālī của Đạo Phật sao cho tương hợp với thời khoa học và tâm lý học. Từ đó Ngài tiếp tục viết nhiều tác phẩm khác để cung ứng cho nhu cầu học Phật của tín đồ tại Mã Lai. Tính đến nay Ngài đã viết trên dưới 50 tác phẩm, trong số này có nhiều tác phẩm đặc sắc như "Người Phật Tử phải tin gì ?" (What Buddhists believe); "Làm thế nào để sống khỏi sợ hãi và lo lâu" (How to live without fear and worry); "Bạn có tin tái sinh không ?'' (Do you believe in Rebirth); "Hạnh Phúc lứa đôi" (A happy married life); "Thiền Định, con đường duy nhất" (Meditation, the Only way); "Kho báu của Chánh Pháp" (Treasures of the Dhamma)..v.v... các tác phẩm đã nhanh chóng thu hút mọi giới Phật tử Mã Lai và đến nay những tác phẩm này đã được dịch ra nhiều thứ tiếng trên thế giới như Ấn Độ, Nam Dương, Triều Tiên, Mỹ Nam Phi, Bangladesh, Hòa Lan, Việt Nam..v.v....

Đây là lần đầu tiên nền giáo dục PG bằng tiếng Anh được phổ biến trong giới Phật tử ở Mã Lai, trước đó chỉ có những Kinh sách được viết chữ Tàu. Sự tác động mạnh này nhanh chóng ảnh hưởng đến giới thanh thiếu niên Mã Lai. Kết quả, HT. Dhammananda đã nhận hàng núi thư từ mọi giới, đặc biệt là học sinh và sinh viên để tìm hiểu về Phật học.

Mặc dù không phải là một nhà Pháp sư hùng biện, nhưng HT. Dhammananda đã làm say đắm giới trẻ với những bài giảng mang tính khoa học, trong sáng và rõ ràng của Ngài. Điều này đã giúp cho nhiều hội đoàn thanh niên Phật tử ra đời trong thập niên sáu mươi. Rất nhiều giới trẻ hoặc đã nghe giảng hoặc đã đọc sách của Ngài mà quy hướng về với Chánh Pháp.

Ngoài những ảnh hưởng bên ngoài xã hội, HT. Dhammananda cũng có công đưa PG vào trong học đường Mã Lai. HT. Dhammananda đã kết hợp với Thượng tọa tiến sĩ Sumangalo, một Tăng sĩ người Mỹ, thành lập một Học viện PG để làm việc với đại học Malaya, đại học Sains Malaysia, đại học Pertanian, Cao đẳng Kỹ thuật Malaysia, Viện Ngôn ngữ Mã Lai, Trường Đại Học Sư Phạm Mã Lai, Trường Cao đẳng Tunku Abdul Rahman, Trường Cao đẳng Quân sự Hoàng gia (Royal Military college) và gần đây nhất là đại học Utara Malaysia ở Kedah. Tất cả những sinh viên của các trường trên đều có học những giờ căn bản về giáo lý Phật giáo do HT. Dhammananda và nhiều Pháp sư khác giảng dạy.

Để khuyến khích và cổ động tầng lớp trẻ học và làm việc Phật, tổ chức của Ngài đã thu nhận giới trẻ vào làm việc cho các cơ sở hoằng Pháp, Học viện, in ấn và phát hành kinh... đã có rất nhiều cư sĩ tham gia và đã trở thành những người lãnh đạo các hội đoàn cư sĩ Phật tử, nổi bật trong số hiện nay có các đạo hữu như Mess Tan Gin Soon, Leong Kok Hing, Ang Choo Hong, Charlie Chia và Victor Wee, tất cả đều được ảnh hưởng đến đạo đức và tác phong làm việc của HT. Dhammananda.

Sự thừa nhận và tán dương về công hạnh hoằng Pháp:

Để thừa nhận và tuyên dương các công đức hoằng pháp của HT. Dhammananda tại Mã Lai, Tăng thống PG Thái Lan, Đại lão Hòa thượng Amunugama Rajaguru Sri Vipassi Maha Nayaka Thera ở Chùa Răng Phật (Buddha Tooth Relic), đã phong ban cho Ngài danh hiệu "Đại đạo sư" (Chief Sangha Nayaka Thera) của PG Mã Lai vào năm 1965.

Ngài cũng được cung thỉnh vào Ban chứng minh cho đại hội lần thứ 9 của Hội Liên Hữu PG Thế giới (World Buddhist Followship) nhóm tại Kuala Lumpur từ ngày 13 đến 20 tháng 4 năm 1969. Trong kỳ đại hội, Ngài cũng được tuyên dương là một danh tăng của PG Mã Lai.

Vào năm 1970, HT. Dhammananda khởi xướng và làm cố vấn tinh thần cho Hội Thanh Niên Phật Tử Mã Lai (The Young Buddhist Association of Malaysia (YBAM) đây là một tổ chức đại diện cho tất cả các hội đoàn Phật tử trẻ tuổi tại Mã Lai, hiện nay vẫn còn hoạt động rất mạnh.

Từ năm 1970 đến 1975, HT. Dhammananda khởi đầu những chuyến đi hoằng Pháp thế giới. Trước hết ngài đến Anh quốc giảng tại Lancaster University, Hull University, Manchester University và Oxford University. Sau đó Ngài đến Hoa Kỳ và được thỉnh giảng tại Dhamma Realm University và Trường University of Oriental Studies, trong dịp này Trường đại học Pháp giới (Dhamma Realm University) đã phong tặng bằng Tiến sĩ danh dự (Honorary Doctor of Philosophy degree) để ghi nhận và tán thán công hạnh hoằng Pháp và những công trình sáng tác của ngài. Bằng cấp này cũng được các đại học khác phong tăng cho ngài, đại học Đông Phương (University of Oriental Studies) năm 1975, đại học Nalanda ở Pháp vào năm 1976 và đại học Benares Hindu, Ấn Độ năm 1980, và đại học ở Sri Lanka vào năm 1991, ban tặng cấp bằng Tiến sĩ văn chương (D. Litt.) để thừa nhận những tác phẩm Phật học giá trị của Ngài đã mang lại nhiều lợi ích thiết thực nền giáo dục tôn giáo tại Tích Lan.

Thiết lập chương trình đào tạo tăng tài ở Mã Lai:

Vào tháng 12 năm 1976, HT. Dhammananda đã khởi xướng và làm giám đốc chương trình đào tạo tăng tài cho PG Mã Lai, chương trình đã được khắp nơi ở Mã Lai áp dụng và thành công đáng kể, ngay cả ở Singapore cũng làm theo mô hình này. Đến nay chương trình vẫn được duy trì và số thanh niên Mã Lai phát tâm xuất gia ngắn hạn ngày càng đông.

Vào ngày 25 tháng 3 năm 1977, HT. Dhammananda đã thành lập Viện Phật Học Paramadhamma ở Tích Lan để tăng sĩ khắp nơi trên thế giới về tu học. Chương trình đào tạo từ ba đến năm năm, hoặc những khóa ngắn hạn cho những tăng sĩ hoặc cư sĩ lớn tuổi để đưa đi hoằng pháp ngay sau khóa học.

Những đóng góp cho xã hội:

Ngoài những hoạt động Phật sự, HT. Dhammananda còn có nhiều đóng góp để phát triển cộng đồng. Năm 1960, Ngài là một trong những vị lãnh đạo PG Mã Lai đứng lên đòi hỏi chính phủ Mã Lai tuyên bố ngày lễ Phật Đản là ngày nghỉ của toàn dân, lời yêu cầu đã được chấp thuận và vẫn duy trì cho đến ngày nay. Giữa những năm 1960, Ngài hoạt động tích cực với Tổ chức liên tôn giáo Mã Lai (Malaysian Inter-Religious Organisation MIRO) để kêu gọi các tôn giáo có mặt ở Mã Lai nên sinh hoạt trong sự hài hòa và tương kính lẫn nhau.

Năm 1984, Ngài là một trong những thành viên sáng lập của Hội đồng Tư Vấn Tôn giáo (Religious Consultative Council), bao gồm PG, Hồi giáo, Ky Tô giáo để giúp cho chính quyền có những chính sách đúng đắn đối với các tôn giáo. Do những hoạt động tích cực đóng góp cho xã hội này mà ngày 7 tháng 6 năm 1991, Hoàng đế của Mã Lai đã phong tặng cho Ngài tước vị cao quý "Johan Setia Mahkota".

Sự nghiệp trước tác:

Ngoài những thời thuyết giảng giáo lý sâu sắc, rõ ràng và dễ hiểu, Hòa thượng Dhammananda còn cống hiến cho hàng vạn độc giả trên khắp thế giới qua những tác phẩm Phật học của ngài. Từ những tập sách nhỏ bỏ túi cho đến những tập sách dày mấy trăm trang với nội dung phổ cập cho mọi tầng lớp, từ học giả uyên bác cho đến học sinh tiểu học đều có thể đọc và tiếp nhận lời dạy của ngài. Qua ngòi bút của ngài, giáo lý thâm diệu của Đạo Phật trở nên dễ hiểu, gần gũi và giải quyết thỏa đáng từng vần đề của đời sống hiện tại. Tác phẩm của ngài đã được chuyển ngữ ra nhiều thứ tiếng trên thế giới, không những nó được Phật tử tìm đọc mà những người không Phật tử cũng say mê không kém. Sau đây là một số tác phẩm của ngài:

Tại sao phải lo âu ? (Why worry ?)

Hạnh phúc lứa đôi (A Happy Married life).

Tại sao phải có Đạo Phật ? (Why Buddhism ?)

Tại sao phải có Tôn giáo ? (Why Religion ?)

Những gì người Phật tử tin (What Buddhists believe).

Nhân loại hướng về đâu (Whither Mankind).

Tôn giáo nầy là gì (What is this Religion)

Kho báu của Chánh pháp (Treasure of the Dhamma)

Phật giáo như một Tôn giáo (Buddhism as a Religion)

Kinh Nhật Tụng của Phật Tử (Daily Buddhist Devotions)

Bạn có tin tái sinh không ? (Do you believe in Rebirth ?)

Thiền định, con đường duy nhất (Meditation, the only way)

Cẩm nang của Phật tử (Handbook of Buddhists)

Tôn giáo trong thời đại khoa học (Religion in a Scientific Age)

Những viên ngọc của trí tuệ PG (Gems of Buddhist Wisdom)

Tại sao phải có bao dung về Tôn giáo (Why Religion tolerance ?)

Địa vị của Nữ giới trong Phật giáo (Status of Women in Buddhism)

Cuộc sống con người và những vấn nạn (Human life and Problems)

Phật giáo và những nhà Tư Tưởng Tự do (Buddhism and the Free Thinkers)

Những nhân vật vĩ đại trong Phật giáo (Great personalities on Buddhism)

Làm sao sống mà không sợ hãi và lo âu (How to live without fear and worry)

Phật giáo dưới con mắt của các nhà trí thức (Buddhism in the Eyes of Intellectuals)

Nguyên tắc đạo đức của PG đối với phẩm cách của con người (Buddhist Principles for Human Dignity).

Kinh Pháp Cú với tranh minh họa và truyện tích (The Dhammapada with illustrations and stories)

(Trích từ trang nhà www.quangduc.com)
.