Kinh Ratthapāla
____________
I. Đại lượcHỏi: Xin cho biết đại lược về bài kinh này.
Ðáp: Đây là bài kinh số 82 của Trung Bộ Kinh, Kinh Tạng Pālī. Tên kinh là Ratthapāla Sutta vì nói về cuộc đời và một giai thoại liên quan tới tôn giải Ratthapāla.
Khi Phật đến thuyết pháp tại thị trấn Thullakotthita, thanh niên con nhà giàu nên Ratthapāla xin cha mẹ theo Phật xuất gia. Cha mẹ không cho, Ratthapāla bèn tuyệt thực gần chết nên cha mẹ buộc lòng cho phép. Ratthapāla được xuất gia, thọ đại giới [1]. Chẳng bao lâu ông chứng quả A la hán [2]. Sau khi chứng quả, tôn giả Ratthapāla xin Phật về nhà thăm cha mẹ.
Khi về đến làng cũ, Ratthapāla tuần tự khất thực đến nhà cha mẹ. Người cha không nhận ra nên mắng nhiếc xua đuổi, nghĩ chính những người này đã khiến con mình bỏ nhà ra đi. Khi tôn giả bỏ đi, trông thấy người tớ gái đem cháo thiu [3] đi đổ, ông bảo hãy trút vào bát của mình. Nữ tỳ đến gần để trút cháo, nhận ra tiểu chủ bèn vào báo tin. Ông bà chạy ra, bảo: "Ồ con, có chứ [4] ... sao ngồi đấy ăn cháo thiu mà không đi vào nhà của con ?" Tôn giả nói ông không có nhà, ông có đến khất thực song chỉ nhận được những lời mắng nhiếc. Rồi ông nhận lời cha mẹ hôm sau đến dùng cơm.
Người cha sửa soạn đón tôn giả, cho chất vàng bạc của cải thành đống, lấy màn che lại; và bảo các bà vợ cũ của tôn giả trang sức lộng lẫy để đón tiếp. Khi tôn giả vào nhà, ông chỉ đống vàng mà khuyên tôn giả hãy hoàn tục tu tại gia, làm phước bố thí. Tôn giả khuyên hãy đổ tất cả xuống sông, vì đấy là nguồn gốc của sầu bi khổ não cho gia chủ. Kế đến, các bà vợ đi ra ôm chân tôn giả mà hỏi có phải vì mê thiên nữ nên đi tu để được lên đấy. Tôn giả bảo thưa bà chị, không phải vì mục đích sanh thiên mà bần tăng xuất gia tu phạm hạnh. Khi ấy các bà vợ cũ lăn lóc nói chồng bây giờ lại gọi mình bằng bà chị. Tôn giả bảo gia chủ muốn bố thí đồ ăn thì hãy dọn ra, chớ có phiền nhiễu ngài. Người cha mời tôn giả ăn.
Ăn xong tôn giả đọc một bài kệ nói đến tính dơ uế, khổ, vô thường của thân xác nhưng lại được tô điểm [5] để lừa bịp kẻ ngu. Rồi ngài đi vào rừng của vua để nghỉ trưa. Vua Koravya nghe tôn giả [6] trở về bèn cho thắng cỗ xe đến thăm. Khi gặp tôn giả, vua hỏi người đời vì bốn sự suy vong mà đi tu, là lão suy, bệnh suy, tài suy, thân suy. Nay tôn giả không có bốn cái suy ấy thì cớ gì xuất gia. Tôn giả đáp vì bốn điểm thuyết giáo của đức Thế tôn.
II. Nội dung chínhHỏi: Những điểm quan trọng gì được nói đến qua bài kinh nầy ?
Ðáp: Thế giới là vô thường đi đến hủy diệt.
-- Tôn giả Ratthapāla đã nói: "Thế giới là vô thường đi đến hủy diệt," ý nghĩa của lời nói này cần phải được hiểu như thế nào, thưa Tôn giả Ratthapāla ?
-- Thưa Ðại vương, Ðại vương nghĩ thế nào ? Khi Ngài 20 tuổi, hay 25 tuổi, Ngài có thiện nghệ về voi, thiện nghệ về ngựa, thiện nghệ về xe, thiện nghệ về cung, thiện nghệ về kiếm, bắp vế mạnh và cánh tay mạnh, có khả năng và thiện nghệ trong nghề đánh giặc ?
-- Thưa Tôn giả Ratthapāla, khi tôi được 20 hay 25 tuổi, tôi thiện nghệ về voi, tôi thiện nghệ về ngựa, thiện nghệ về xe, thiện nghệ về cung, thiện nghệ về kiếm, bắp vế mạnh, và cánh tay mạnh, có khả năng và thiện nghệ trong nghề đánh giặc. Có đôi lúc, thưa Tôn giả Ratthapāla, tôi cảm thấy có thần lực và xem không ai có thể bằng tôi về sức mạnh.
-- Thưa Ðại vương, Ðại vương nghĩ thế nào ? Nay Ðại vương vẫn còn bắp vế mạnh, cánh tay mạnh, có khả năng và thiện nghệ đánh giặc như vậy không ?
-- Không như vậy, thưa Tôn giả Ratthapāla, nay tôi đã già, niên cao, lạp lớn, đã đến tuổi trưởng thượng, đã sống mãn kỳ, đã gần mệnh chung, gần 80 tuổi thọ. Có đôi lúc, thưa Tôn giả Ratthapāla, tôi nghĩ: "Ở đây, ta sẽ bước chân", nhưng tôi lại bước chân tại chỗ khác.
-- Chính liên hệ với nghĩa này, này Ðại vương, mà Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đã nói: "Thế giới là vô thường, đi đến hủy diệt", và tôi sau khi biết, sau khi thấy và sau khi nghe như vậy đã xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
-- Thật vi diệu thay, Tôn Giả Ratthapāla! Thật hy hữu thay, Tôn giả Ratthapāla! Ý nghĩa này được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, Bậc A la hán, Chánh Ðẳng Giác đã khéo nói: "Thế giới là vô thường, đi đến hủy diệt". Thật vậy, thưa Tôn giả Ratthapāla, thế giới là vô thường, đi đến hủy diệt.
Thế giới là vô hộ, vô chủ.
Nhưng thưa Tôn giả Ratthapāla, ở vương quốc này, có đội quân voi, cũng có đội quân ngựa, cũng có đội quân xa, cũng có đội quân bộ, nếu chúng tôi gặp nguy khốn thời các đội quân bảo vệ chúng tôi. Tôn giả Ratthapāla đã nói: "Thế giới là vô hộ, vô chủ", ý nghĩa của lời nói này, cần phải được hiểu như thế nào, thưa Tôn giả Ratthapāla ?
-- Thưa Ðại vương, Ðại vương nghĩ thế nào ? Ðại vương có mắc chứng bệnh kinh niên nào không ?
-- Thưa Tôn giả Ratthapāla, tôi có bệnh phong kinh niên. Nhiều khi, thân hữu quen biết, bà con huyết thống đứng xung quanh tôi và nói: "Nay vua Koravya sẽ mệnh chung, nay vua Koravya sẽ mệnh chung".
-- Thưa Ðại vương, Ðại vương nghĩ thế nào ? Ðại vương có thể nói chăng, với các thân hữu quen biết, bà con huyết thống của Ðại vương: "Mong rằng Tôn giả thân hữu quen biết, bà con huyết thống làm vơi nhẹ sự đau khổ của tôi! Mong tất cả hãy san sẻ cảm thọ này, để tôi có thể có một cảm thọ nhẹ nhàng hơn"; hay là Ðại vương chỉ có thể thọ lãnh cảm thọ ấy một mình ?
-- Thưa Tôn giả Ratthapāla, tôi không có thể nói với các thân hữu quen biết, bà con huyết thống của tôi: "Mong rằng các Tôn giả thân hữu quen biết, bà con huyết thống làm vơi nhẹ sự đau khổ của tôi. Mong tất cả hãy san sẻ cảm thọ này để có thể có một cảm thọ nhẹ nhàng hơn"; và tôi chỉ có thể thọ lãnh cảm thọ ấy một mình".
-- Chính liên hệ với nghĩa này, này Ðại vương mà Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đã nói: "Thế giới là vô hộ, vô chủ", và tôi sau khi biết, sau khi thấy và sau khi nghe như vậy, đã xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
-- Thật vi diệu thay, Tôn giả Ratthapāla! Thật hy hữu thay, Tôn giả Ratthapāla! Ý nghĩa này được Thế Tôn bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đã khéo nói: "Thế giới là vô hộ, vô chủ". Thật vậy, thưa Tôn giả Ratthapāla, thế giới là vô hộ, vô chủ.
Thế giới là vô sở hữu, ra đi cần phải từ bỏ tất cả.
Nhưng thưa Tôn giả Ratthapāla, ở vương quốc này có rất nhiều vàng nén và tiền vàng dưới đất và trên mặt đất". Tôn giả Ratthapāla đã nói: "Thế giới là vô sở hữu, ra đi cần phải từ bỏ tất cả". Ý nghĩa của lời nói này cần phải được hiểu như thế nào, thưa Tôn giả Ratthapāla ?
-- Thưa Ðại vương, Ðại vương nghĩ thế nào ? Dầu cho nay Ðại vương sống thụ hưởng mãn túc, cụ túc năm món dục trưởng dưỡng, Ðại vương có thể nói được như sau: "Chính như vậy, tôi thọ hưởng mãn túc, cụ túc năm món dục trưởng dưỡng này"; hay là người khác sẽ thọ hưởng tài sản này, còn Ðại vương sẽ phải đi theo nghiệp của mình ?
-- Thưa Tôn giả Ratthapāla, dầu cho nay tôi sống thụ hưởng mãn túc, cụ túc năm món dục trưởng dưỡng. Tôi không có thể nói được như sau: "Chính như vậy tôi thọ hưởng mãn túc, cụ túc năm món dục trưởng này". Chính người khác sẽ thọ hưởng tài sản này, còn tôi phải đi theo nghiệp của tôi.
-- Chính liên hệ với nghĩa này, này Ðại vương, mà Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đã nói: "Thế giới là vô sở hữu, cần phải ra đi, từ bỏ tất cả". Và tôi sau khi biết, sau khi thấy và sau khi nghe như vậy, đã xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
-- Thật vi diệu thay, Tôn giả Ratthapāla! Thật hy hữu thay, Tôn giả Ratthapāla! Ý nghĩa này được Thế Tôn bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đã khéo nói: "Thế giới là vô sở hữu, cần phải ra đi, từ bỏ tất cả". Thật vậy, thưa Tôn giả Ratthapāla, thế giới là vô sở hữu, cần phải ra đi, từ bỏ tất cả.
Thế giới là thiếu thốn, khao khát, nô lệ cho tham ái.
Tôn giả Ratthapāla đã nói: "Thế giới là thiếu thốn, khao khát, nô lệ cho tham ái". Ý nghĩa của lời nói này cần phải được hiểu như thế nào, thưa Tôn giả Ratthapāla ?
-- Thưa Ðại vương, Ðại vương nghĩ thế nào ? Có phải Ðại vương trị vì ở Kuru, một nước phồn thịnh ?
-- Thưa vâng, Tôn giả Ratthapāla. Tôi trị vì ở Kuru, một nước phồn thịnh.
-- Thưa Ðại vương, Ðại vương nghĩ thế nào ? Nếu có người đáng tin cậy, chánh trực đến với Ðại vương từ phương Ðông, và sau khi đến tâu với Ðại Vương: "Tâu Ðại vương, Ðại vương có biết chăng ? Tôi từ phương Ðông lại. Ở đấy, tôi có thấy một quốc độ lớn, phú cường, phồn thịnh, dân cư trù mật. Tại đấy có nhiều đội voi, đội ngựa, đội xe, bộ đội. Tại đấy có nhiều ngà voi, tại đấy có nhiều vàng nén, tiền vàng chưa làm và đã làm, có nhiều phụ nữ. Và có thể chinh phục quốc độ ấy với vũ lực như thế ấy. Tâu Ðại vương, hãy đi chinh phục !" Ðại vương sẽ hành động như thế nào ?
-- Thưa Tôn giả Ratthapāla, sau khi chinh phục quốc độ ấy, tôi sẽ trị vì.
-- Thưa Ðại vương, Ðại vương nghĩ thế nào ? Ở đây có người đến với Ðại vương từ phương Tây ... từ phương Bắc ... từ phương Nam ... từ bờ biển bên kia, người ấy đáng tin cậy, chánh trực, tâu với Ðại vương: "Tâu Ðại vương, Ðại vương có biết chăng ? Tôi từ bờ biển bên kia lại. Ở đây, tôi thấy có một quốc độ lớn, phú cường, phồn thịnh, dân cư trù mật. Tại đấy có nhiều đội voi, đội ngựa, đội xe, bộ đội. Tại đấy có nhiều ngà voi. Tại đấy có nhiều vàng nén, tiền vàng chưa làm và đã làm, có nhiều phụ nữ. Và có thể chinh phục quốc độ ấy với vũ lực như thế ấy. Tâu Ðại vương , hãy đi chinh phục". Ðại vương sẽ hành động như thế nào ?
-- Thưa Tôn giả Ratthapāla, sau khi chinh phục quốc độ ấy, tôi sẽ trị vì.
-- Chính liên hệ với nghĩa này, này Ðại vương mà Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đã nói: "Thế giới là thiếu thốn, khao khát, nô lệ cho tham ái, " và tôi sau khi biết, sau khi thấy, sau khi nghe như vậy, đã xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
-- Thật vi diệu thay, Tôn giả Ratthapāla! Thật hy hữu thay, Tôn giả Ratthapāla! Ý nghĩa này được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đã khéo nói: "Thế giới là thiếu thốn, khao khát, nô lệ cho tham ái". Thật vậy, thưa Tôn giả Ratthapāla, thế giới là thiếu thốn, khao khát, nô lệ cho tham ái.
III. Người Xưa Chốn CũHỏi: Xin cho biết thêm chi tiết về thị trấn Thullakot.t.hita và tôn giả Ratthapāla ?
Đáp: Thullakot.t.hita là một thị trấn của nước Kuru. Đây là quê hương của ngài Ratthapāla, và là nơi Đức Phật dừng chân trong chuyến du hành thuyết pháp ở xứ Kuru. Thị trấn này có tên như vậy là vì các kho lương thực của thị trấn này luôn luôn đầy (thulla = đầy, kot.t.ha = kho) nhờ mùa màng phong phú.
Tôn giả Ratthapāla xuất thân trong một gia đình giàu có ở Thullakot.t.hita. Sau khi nghe Đức Phật thuyết pháp ngài xin phép cha mẹ xuất gia. Cha mẹ không cho, ngài bèn tuyệt thực gần chết nên cha mẹ buộc lòng cho phép. Chẳng bao lâu ngài chứng quả A la hán và xin Đức Phật về nhà thăm cha mẹ. Cha mẹ và những người vợ cũ tìm cách lôi kéo ngài trở về đời sống tại gia, nhưng vô hiệu vì ngài đã hoàn toàn diệt tận tham ái. Tôn giả Ratthapāla được Đức Phật khen là đệ nhất về tín tâm xuất gia (saddhāpabbajitānam.).
IV: Chữ và Nghĩa Hỏi: Từ vô hộ vô chủ có đồng nghĩa với vô ngã không ?
Ðáp: Danh từ vô hộ (at.t.āno), vô chủ (anabhissaro) không thể hiểu hoàn toàn đồng nghĩa với từ vô ngã (anatta). Bởi vì trong bài kinh này đã giải thích ý nghĩa vô hộ, vô chủ là tình trạng ở đời không có một tha lực có thể cứu giúp hay thay thế nỗi đau của mình, mà phải tự mình nhận lãnh dù là một vị vua có quyền hạn. Trong khi đó, từ vô ngã (anatta) là nói lên bản chất giả hợp không có thực thể đơn thuần bất biến của pháp hữu vi; và trong chừng mực nào đó, vô ngã cũng được hiểu là không có chủ quyền quyết định đối với những hiện tượng tự nhiên như là sanh, già, bệnh, chết…
V. Học và hỏi
Hỏi: Nếu cuộc đời chỉ là khổ lụy thì Phật Pháp có cho điều nào là sinh thú để tha thiết không ?
Ðáp: Khi nói đời là khổ đúng theo cách nói của Phật Pháp là sabbe sankhārā dukkhati thì chữ khổ phải được hiểu khác hơn là vui khổ trong ngôn ngữ hằng ngày. Cũng tương tự như khi chúng ta nói mọi vật luôn thay đổi rồi đem câu đó hỏi rằng pho tượng đá ngoài sân đã đứng yên bao năm qua như vậy có sai không. Sự đứng yên của một pho tượng là nói cách nói thường thức. Các nhà vật lý cho biết là tất cả phân tử vật chất luôn trong trạng thái chuyển động. Trở lại với câu hỏi, cái vui khổ, thú vị hay buồn chán trong đời sống hằng ngày được nói trong một phạm trù khác biệt với câu đời là khổ. Hai ý niệm về khổ đó không giống nhau. Cái khổ của pháp hữu vi được hiểu là sự rỗng không, có tùy thuộc nhân duyên và không bao giờ hoàn toàn thỏa mãn. Ý nghĩa nầy rộng lớn hơn khi chúng ta nói cái mình thích và không thích trong đời sống hằng ngày.
VI. Đố Vui
1. Hiểu đúng theo Phật Pháp thì tại sao chúng ta không bao giờ hoàn toàn thỏa mãn với cuộc sống ?
a. Vì chưa đạt được cái để mãn nguyện.
b. Vì con người sinh ra để mà khổ sao có thể thỏa chí được ?
c. Bản chất của khát ái là không thỏa mãn dù có được bao nhiêu cũng vậy.
d. Câu b và c đúng.
2. Trong bài kinh trên tôn giả Ratthapāla đã đi xuất gia vì:
a. Niềm tin ở Đức Phật.
b. Ý thức được sự tầm thường của đời sống.
c. Thấy được sự cao quí của đời sống phạm hạnh.
d. Cả ba điều trên.
3. Câu nào dưới đây không đúng với lời thuyết pháp của tôn giả Ratthapāla ?
a. Dù người đời có bao nhiêu cũng không thể thỏa mãn.
b. Dù người đời có khả năng bao nhiêu cũng không thể bảo vệ mình trước tử thần.
c. Dù người đời có tu bao nhiêu cũng không làm cuộc sống khác hơn.
d. Dù người đời có thủ đắc bao nhiêu rồi cũng phải bỏ tất cả.

