Thứ Bảy, 3 tháng 6, 2006

No. 0972 NEW (Hạt Cát dịch)

Cư dân Port Arthur, Texas lại được

thưởng ngoạn vườn sen chùa Bửu Môn

by Ashley Sanders, The Port Arthur News, June 2, 2006

PORT ARTHUR, Texas (USA) -- Ðức Phật đã có lần nói rằng “Mặc dù mọc lên từ bùn lầy nhưng hoa sen có một hương vị thanh khiết”. Tinh thần của bài học này để cho đệ tử Ngài hiểu rằng cái đẹp vẫn có thể tìm thấy ở những nơi tăm tối.

Cuối tuần này, tức là Thứ Bảy, 03 và hôm nay, Chủ Nhật, 04 tháng 06, hàng trăm cư dân miền Ðông Nam Texas và du khách từ xa đến sẽ được dịp thưởng ngoạn sắc màu tươi thắm đẹp xinh của hoa sen, ít nhất là 38 loại, trong lễ hội Liên Viên kỳ thứ tám và Ðại Lễ Vesak tại chùa Bửu Môn.

ÐÐ Brumfiel và TT Huyền Việt đã gửi thư mời cộng đồng đến tham quan 4 khu vườn cây cảnh nhiệt đới với các loại sen súng hiếm quý, ít nhất là 35 loại, và các loại tre trúc, nhất là một loại tre có chiều cao 80 feet nổi bật trên nền trời cuối xuân đầu hạ trong xanh, ngoài ra còn có các loại rau quả nhiệt đới được trồng tại vườn chùa.

Một nhà chuyên môn cây cảnh sẽ có mặt tại hội trường để hướng dẫn cư dân địa phương cách thức chăm sóc tre trúc, cam quít và phương pháp tưới tẩm tốt nhất.

Họa phẩm và hình ảnh sẽ được chưng bày trong khuôn viên ngôi chùa và cũng sẽ được bán để gây quỹ cho chùa vào ngày Thứ Bảy và Chủ Nhật.

Nếu như các loại hình nghệ thuật như cây cảnh và tranh ảnh chưa đủ cho cuộc thưởng ngoạn của bạn thì bạn có thể tham gia vào đám đông với màn múa lân sinh động.

Thêm vào đó, buổi lễ ngày Chủ Nhật sẽ còn đặc biệt hơn ngày thứ Bảy rất nhiều. Bắt đầu vào lúc 10:30 AM ngày Chủ Nhật, chùa Bửu Môn sẽ cử hành đại lễ Vesak, Khánh Ðản Phật Lịch 2550 với tất cả những tiết mục như trên. Quần chúng tham dự Ðại Lễ Vesak cũng sẽ được chiêu đãi cơm trưa sau khóa lễ chính.

Dưới đây là vài nét về chương trình vắn tắt

Ngày thứ Bảy 03, tháng 06, 2006

09:30 sáng đến 05:00 chiều: Giờ tham quan ngoạn cảnh các khu vườn.
10 - 11:30 sáng: Các chuyên gia hướng dẫn kỹ thuật làm vườn.
01 - 02:30 chiều: Các chuyên gia hướng dẫn kỹ thuật làm vườn tiếp theo.

Chủ Nhật 04 tháng 06, 2006

09:30 sáng đến 05:00 chiều : Giờ tham quan ngoạn cảnh các khu vườn.
10:30 sáng: Cử hành Ðại Lễ Vesak.
01:00 chiều: Ngọ Trai phục vụ cho tất cả mọi người tại Trai Ðường.

Nhật Hành

Ngày: 03 tháng 06 năm 2006

Tri chúng: Giới Hương

Tri chúng điền khuyết: Nguon Duc Hanh

Môn học: Lớp Luật Nghi Cư Sĩ

Bài học: “ Năm nghề buôn bán trái đạo của cư sĩ ”


Giảng Sư Chính: ĐĐ Pháp Đăng

Giảng Sư Điền khuyết: TT Giác Đẳng

Vị Tăng hoặc Ni nói lời cầu nguyện đầu lớp học: ĐĐ Minh Hạnh

Xướng ngôn viên: TC đk, SC Dieu Tinh, Nhi Do Mai, Hat Cat, Chanh Hanh, Khanh Van ( ĐK: Nhu Phuc, Sangkhaly, TieuLongNu )
http://baidocmc.blogspot.com & http://bandieuhanh.blogspot.com

Người mở room: Hạt Cát, Nhi Do Mai (đk)

Người mở nhạc và kinh tụng: Hạt Cát, Nhi Do Mai (đk)

Người hoán chuyển bài cho Room: Hat Cat - Nhu Phuc (đk)

Người post bài cho Room: Tinh Tan, NguonĐucHanh

Người post và gửi bài riêng cho chư Tăng: Hat Cat, NguonDucHanh , Nhu Phuc

Trực room (op): TC đk & Nhu Phuc, Nhi Do Mai, Tieu Long Nu.

Thông báo (nếu có):
Lớp Luật Nghi Cư Sĩ

“ Năm nghề buôn bán trái đạo của cư sĩ ”

Trích “Cư Sĩ Giới Pháp” của TK. Giác Giới
______________

Giảng sư: ĐĐ Pháp Đăng

I. Toát yếu: Những điểm chính

Ðức Phật dạy về 5 nghề mà cư sĩ không nên làm là:

1- Buôn bán vũ khí
2- Buôn bán chúng sanh
3- Buôn bán thịt
4- Buôn bán chất say
5- Buôn bán độc dược

II. Nội dung chính

Đức Phật đã thuyết điều này cho các tỳ kheo nghe; một người cư sĩ không nên làm năm nghề buôn bán này:


1- Buôn bán vũ khí (Satthavan.ijjā), nghĩa là buôn bán bất cứ vật gì gọi là khí giới, công cụ dùng để giết hại nhau như gươm đao, cung nỏ, súng đạn v.v...

2- Buôn bán chúng sanh (Sattavan.ijjā), theo chú giải, giải thích điều gọi là buôn bán chúng sanh tức bán con người cho mua về làm nô lệ.

3- Buôn bán thịt (Mam.savan.ijjā), theo chú giải, điều gọi là buôn bán thịt là buôn bán thú vật cho người ta mua về nuôi hoặc ăn thịt, kể cả việc mua đi bán lại thịt thú được giết mổ.

4- Buôn bán chất say (Majjavan.ijjā), nghĩa là buôn bán các chất làm cho say nghiện, như các loại rượu, cần sa á phiện ...

5- Buôn bán độc dược (Visavan.ijjā), tức là buôn bán chất độc, thứ dùng để đầu độc hại chúng sanh.

Người cư sĩ nuôi sống bằng một trong các nghề buôn bán này gọi là người sống tà mạng. -- [A. III. 208]

Thứ Sáu, 2 tháng 6, 2006

No. 941 NEW (TinhTấn dịch)

Ni viện Phật Giáo Theravada

đầu tiên tại California

Được viết bởi Cadace Murphy, Inside Bay Area, ngày 7 tháng 05, 2006

Tại Fremont, một vị Tăng Phật giáo thành lập tu viện dành cho phái nữ đầu tiên tại California.

Fremont, CA (USA) -- Trong chương trình truyền hình, vị Sư dường như luôn thuyết giảng cho môn sinh trẻ của Sư theo một cung cách giống nhau.

Sư lặng lẽ đi vào phòng và điều chỉnh tăng y. Nhẹ nhàng hạ mình xuống tọa cụ và khép đôi mắt lại, Sư bắt đầu theo dõi hơi thở với đôi môi cũng khép kín.

Sư nói: “Có một nguyên lý về sự an lạc, rằng những điều giá trị và quý báu nhất trong đời sống nhân loại không thể có bất cứ một giá biểu nào”, Sư mở đầu với một câu đề tài, rồi theo sau với một đọan văn “ Cao thượng và bình an đến không phải từ vật chất”.

Nhưng đây là đời sống thật sự của Sư, đúng ra là một Ni Sư Phật Giáo Theravada. Và đây là một cảnh tượng trong ngôi nhà của vị Tỳ khưu Ni Tathaaloka, người thọ giới xuất gia Tỳ Khưu Ni gần đây đã chuyển một căn nhà thuê cuối đường vòng Fremont thành một nữ tu viện Theravada đầu tiên của tiểu bang California mà cũng có thể là đầu tiên của cả nước Mỹ

Vị Tỳ Khưu Ni 37 tuổi, sinh quán tại Heather Buske, chịu ảnh hưởng bởi một vai trò nam tu sĩ mẫu mực. Mặc dù đã có nhiều cải tiến trong thế giới trần tục về lĩnh vực cư xử giữa nam và nữ, Phật giáo quan vẫn còn nặng vấn đề giới tính. Mặc dù có các vị Tỳ Khưu Ni – các nữ tu viện Phật giáo – hầu hết các Ni Sư trong Ni đoàn tại nước Mỹ đã phải du hành đến miền Đông Nam Á Châu để tu học trước khi thọ giới xuất gia.

Ni Sư Tathaaloka tu học tại Nam Hàn sau khi du hành qua Ấn Độ và miền Bắc Á Châu. Mặc dù các Ni Sư Phật Giáo đã được thọ giới xuất gia kể từ hơn 2,500 năm trước đây, phần nào hoạt động của Ni đoàn đã bị mất đi các đây 1,000 năm. Ni Sư Tathaaloka đã giúp phục hồi lại trào lưu vào năm 1997 khi Ni Sư được xuất gia tại tiểu bang Los Angeles trong một lễ thọ giới của đa quốc Phật giáo để đánh dấu sự phục hồi của tu viện Theravada đâu tiên dành cho phái nữ.

Ni Sư đã thành lập tu viện Dhammadharini, một trong ba nữ tu viện được biết trong nước, là một ngôi nhà hai tầng trong vùng cư dân giữa quận Niles (Niles Historic District) và Old Canyon. Mặc dù chó sủa, âm nhạc trổi mạnh, và tiếng xe lửa vang rền phía sân sau của láng giềng, tu viện vẫn có ý nghĩa làm thanh thản cho các phụ nữ khác để tìm sự an tĩnh, thanh bình và cuối cùng là lễ thọ giới.

Ni Sư nói: “Tôi nghĩ điều đó giống như đất bị nứt nẻ, nhưng qua các vết rạn, hạt giống chân thật sẽ hình thành, không phải là không có những phụ nữ vĩ đại, chỉ vì phần lớn họ không được nhìn thấy và không được biết đến.”
No. 0967 NEW (Hạt Cát dịch)

Phim “Ðấng Thế Tôn” nói tiếng Hindu

ra mắt khán giả Ấn Ðộ

The Telegraph (India), Monday, May 22, 2006

Calcutta - Ấn Ðộ -- Theo dấu thời gian 2,500 năm về trước bằng ngòi bút có thể là dễ dàng nhưng không dễ đối với máy thu hình. Tiểu thuyết gia Shahzad Firdaus đã gặp phải trường hợp này khi làm cuốn phim về Ðức Phật với một đoàn diễn viên kịch nghệ đi xuyên qua nội địa Ấn Ðộ. Phim “ Tathagata - Ðấng Thế Tôn ” sẽ được ra mắt vào ngày 3 tháng 06 tại hí viện Nandan II, Calcutta, Ấn Ðộ, ghi lại giai đoạn 6 năm khổ hạnh trong cuộc đời Ðức Phật trên hành trình tìm kiếm giác ngộ và khám phá con đường bất hại ahimsa.

Cuốn phim không có phân cảnh nào được thu hình bên trong nội thất và Firdaus đã du hành từ Rajgir tới Sarnath và Bodh Gaya để “theo dấu chân Ðức Phật”. Nhưng gắn liền với một sự kiện xác thực của thời điểm đó đã có những vấn đề không dự kiến được “Thiên nhiên thay đổi quá nhiều qua nhiều thế kỷ khiến ta không thể tìm thấy những loại cây cối được ghi chép trong kinh điển, cho nên, mỗi khi tôi nhắm ống kính, tôi chỉ thấy toàn cây bạch đàn, loại cây được trồng ở đất Mỹ, nhưng một khi phải làm thì phải làm với những gì có thể làm”. Firdaus đã nói như thế trong một cuộc hội thoại ở Viện Nghệ Thuật Cao Ðẳng .

Ðức Phật không chủ trương tôn thờ thần tượng. Ngài đã không tán thành việc sử dụng năng lực siêu nhiên, nhưng mỉa mai thay, chúng ta tôn thờ Ngài như một nhân vật siêu nhiên. Tôi hứng thú với Ðức Phật qua hình ảnh một con người, một người thực sự là một nhà cải cách xã hội và giảng dạy con đường bất hại”. Firdaus, một tác giả từ Ananda, đã xuất bản khoảng 17 tựa sách xoay quanh đề tài tôn giáo, từ thiên sử thi Ðại Ấn Mahabharata đến kinh thánh Cựu Ước và Tân Ước, truyền thống Hồi Giáo vv...

Ðã từng nghiên cứu rộng rãi về Ðức Phật qua nhiều năm tháng, Firdaus dự định viết một quyển tiểu thuyết với ba phần. Ý tưởng xây dựng quyển tiểu thuyết này thành phim truyện xảy ra khi Firdaus được giao phó thực hiện một tập phim truyền hình cũng trên chủ đề này. Firdaus, cũng là một nhà làm phim tài liệu, không lấy làm hứng thú lắm với chủ đề trên nhưng được yêu cầu không ngắn hơn một cuốn phim chính thức. Ông đã nghĩ đến việc làm cuốn phim Tathagata trong hai năm qua và cuối cùng đã lao vào thực hiện hồi tháng 06 năm 2005.

“Nếu cuộc đời Ðức Phật được đại khái chia làm ba giai đoạn - từ lúc đản sinh cho đến năm 29 tuổi, 6 năm rời nhà khổ hạnh và từ năm 36 đến năm 80 tuổi được biết đến với cương vị một vị đạo sư- giai đọan thứ hai là giai đoạn tốt đẹp nhất. Ðó là khi từ một thái tử Ngài bắt đầu trở thành một vị lãnh đạo tôn giáo, đó là khi Ngài chứng đạt đạo quả, nhưng đã không có nhiều tài liệu về giai đoạn này”. Firdaus, người đã nghiền ngẫm công trình của các học giả như Rhys Davis, Hermann Oldenberg và Thích Nhất Hạnh.

Firdaus đã thực hiện phim Tathagatha bằng ngôn ngữ Hindi để quảng bá trên toàn quốc với sự cộng tác của 35 diễn viên kịch nghệ Hindi. Ông đã lướt một vòng qua vài địa phương trong nước trước khi chọn lựa diễn viên từ Delhi, Mumbai, Bokaro, Lucknow v..v…Ông giải thích “Diễn viên chuyên nghiệp Hindi rất là đắc giá, nên tôi quyết định thực hiện cuốn phim với nhóm diễn viên kịch nghệ”.

Ðóng vai Ðức Phật là diễn viên Sanjay Singh thuộc Ðại Học Chandigarh, Delhi. Tất cả các viễn diên đóng các vai đệ tử Ðức Phật đều phải cạo đầu, không có việc mang tóc giả hay là trang điểm.

Nhật Hành

Ngày: 02 tháng 06 năm 2006

Tri chúng: Tinh Tấn

Tri chúng điền khuyết: Bich Thu

Môn học: Lớp A Tỳ Đàm

Bài học: “ Tam đề hữu nhân kiến đạo ưng trừ ”

Giảng Sư Chính: TT Tuệ Siêu

Giảng Sư Điền khuyết: TT Giác Đẳng


Vị Tăng hoặc Ni nói lời cầu nguyện đầu lớp học: ĐĐ Minh Hạnh

Xướng ngôn viên: Dẫn Nhập hay MC1: SC Dieu Tinh, Tieu Long Nu, Hat Cat.
Tin Tức: TC dk, Nguon Đuc Hanh, Sangkhaly, Nhi Do Mai. (ĐK: Mindvox, Anitya)
http://baidocmc.blogspot.com & http://bandieuhanh.blogspot.com

Người mở room: Hat Cat, Dieu Quang, Nhi Đo Mai

Người mở nhạc và kinh tụng: Dieu Quang, Hat Cat, Nhi Đo Mai, Anitya

Người hoán chuyển bài cho Room: Hat Cat – Nhu Phuc (đk)

Người post bài cho Room: Mindvox, Nhu Phuc, NguonĐucHanh (đk)

Người post và gửi bài riêng cho chư Tăng: Hat Cat, NguonDucHanh , Nhu Phuc

Trực room (op): TC đk & Nhu Phuc, NguonDucHanh, TieuLongNu.

Thông báo (nếu có):
Lớp A Tỳ Đàm

“ Tam đề hữu nhân kiến đạo ưng trừ ”
______________

Giảng sư: TT Tuệ Siêu

I. Toát yếu: Những điểm chính

Tam đề hữu nhân kiến đạo ưng trừ (dassana-hetutika) là chiết bán mà vô dư. Gồm 3 câu pháp:

1. Tất cả Pháp hữu nhân kiến đạo ưng trừ (Dassenena pahātabbahetukā dhammā). là những Pháp có nhân tương ưng hiệp mà đáng cho Trực giác bậc Tu-Ðà- Hườn sát trừ.

II. Nội dung chính

Tam đề hữu nhân kiến đạo ưng trừ (dassana-hetutika) là chiết bán mà vô dư. Gồm 3 câu pháp:

1. Tất cả Pháp hữu nhân kiến đạo ưng trừ (Dassenena pahātabbahetukā dhammā). là những Pháp có nhân tương ưng hiệp mà đáng cho Trực giác bậc Tu-Ðà- Hườn sát trừ.

Tất cả Pháp hữu nhân kiến đạo ưng trừ là: 4 tâm tham tà kiến, tâm si hoài nghi, 22 tâm sở phối hợp (trừ si tâm sở trong si hoài nghi)

2. Tất cả Pháp hữu nhân tiến đạo ưng trừ (Bhāvanāya pahātabbahetukā dhammā) là những pháp có nhân tương ưng hiệp mà đáng cho 3 đạo cao tiến bậc (Nhị đạo, Tam đạo, và Tứ đạo) Sát trừ.

Tất cả Pháp hữu nhân tiến đạo ưng trừ là: 4 tâm tham ly tà kiến, 2 tâm sân, tâm si phóng dật, 26 tâm sở phối hợp (trừ si tâm sở trong tâm si phóng dật)

3. Tất cả Pháp phi hữu nhân kiến đạo và tiến đạo ưng trừ (Neva dassanena na bhāvanāya pahātabbahetukā dhammā) nghĩa là những pháp chẳng phải có nhân bị 4 đạo sát.

Tất cả Pháp phi hữu nhân kiến đạo ưng trừ và 3 đạo cao sát gồm tất cả pháp chơn đế ngoài ra pháp bất thiện, lấy lại si trong 2 tâm si.

III. Câu đố:

1. Pháp nhân đáng bị 4 thánh đạo sát trừ, nhân đó ám chỉ cái gì dưới đây ?

a. Nhân duyên trong duyên hệ
b. Nhân luân hồi
c. Nhân bất thiện
d. Gồm ba điều trên.

2. Điều nào dưới đây đúng với lý giải Phật Pháp khi nói đến tham phiền não mà bậc tu đà huờn sát trừ ?

a. Tham hợp tà kiến
b. Tham ly tà kiến
c. Tham dục
d. Tham hữu.

3. Câu nào dưới đây lập luận đúng với ý nghĩa A tỳ đàm đã giải thích ?

a. Người đoạn tận dục ái cũng là đoạn tận được vô minh
b. Người đoạn tận sắc ái cũng là đoạn tận được vô minh
c. Người đoạn tận vô sắc ái cũng là đoạn tận được vô minh
d. Câu b và c đúng.

Thứ Năm, 1 tháng 6, 2006

MC1: Dieu Yen

No. 0959 NEW (Diệu Yên dịch, Hạt Cát hiệu đính)


Cuối cùng thì tôi đã có thể là một Phật tử

Ðược Viết Bởi Tony Anthony, cây viết của tờ báo địa phương Ukiah Daily Journal, là đạo diễn cuốn phim tài liệu về Tu viện Abhayagiri, cũng là một cựu quân nhân từng góp mặt trên chiến trường Việt Nam với bài viết kể lại hành trình đi tìm chân lý.

Ukiah 05/22/2006 -- Tôi vốn được nuôi dưỡng để trở thành một cậu bé Ki Tô Giáo ngoan đạo. Cả cha lẫn mẹ tôi đều là người Ki Tô Giáo, và cha tôi là một người Ý thuộc thế hệ thứ nhì, ông vốn là một cậu bé giúp lễ trong nhà thờ.

Tuy nhiên, tôi cố gắng tránh né truyền thống gia đình mà tôi phải tham dự một cách nghiêm túc là những lớp giáo lý Chủ Nhật từ lúc nhỏ cho tới khi làm lễ xác tín. Sau khi được xác tín, tôi chỉ đi nhà thờ khi bị bắt buộc như lễ Giáng sinh và Phục Sinh

Ở trung học, tôi đã bắt đầu phát triển sự khao khát tìm tòi về tâm linh. Tôi muốn những câu giải đáp cho những nghi vấn sâu sắc của đời sống.

Quyển sách tâm linh đầu tiên trả lời những thắc mắc cho tôi là một quyển sách giới thiệu về Thiền Phật Gíao được viết bởi Dr. Suzuki.

Qua đấy tôi đã có được một cái nhìn khái quát và tôi thật thích thú với điều mà thiền định dẫn dắt tôi trong cách nhìn sự việc, cái cách mà Picasso dẫn dắt người ta đến chỗ nhận thức một diện mạo từ những góc độ khác nhau.

Những ẩn dụ được đưa ra bởi Dr. Suzuki là một trong những điều mà tôi thích nhất trong quyển sách. Họ đã trình bày vòng luân hồi trong một phương pháp giản dị. Tôi luôn mang nó theo bên mình dù đi đến bất cứ nơi nào.

Nhưng sự khao khát của tôi vẫn chưa đi đến đâu cho đến khi tôi tham chiến Việt Nam. Trong chiến tranh, tôi thực sự cảm thấy có một nhu cầu khẩn cấp cho việc tìm hiểu tâm linh.

Chiến tranh đã khơi dậy những câu hỏi không thể giải đáp cứ lẩn quẩn mãi trong đầu óc tôi.

"Tại sao một người kết thúc sinh mạng với một viên đạn xuyên qua lồng ngực trong khi người bên cạnh không hề hấn gì" ?

"Tại sao một quả mìn san bằng căn lều chỉ một phút sau khi anh quân nhân vừa bước ra khỏi cửa? Thật là những câu hỏi không thể nào giải đáp, ít nhất là đối với tôi- có lẽ bởi vì tôi quá gần kề với họ".

Dù thế nào đi nữa, tôi đã là một quân nhân. Chỗ rõ ràng trong những kinh nghiệm mới mẻ và kiến thức của tôi từ những lớp giáo lý dường như không gì nhiều hơn là một thoáng xung đột tâm linh sẵn sàng vỡ toang. Tôi khao khát một điều gì đó vững chắc hơn.

Tôi được biết về Phật Giáo Nguyên Thủy lần đầu tiên trong chuyến đi nghỉ phép của tôi tại Bangkok hồi thập niên 60-70.

Thật là kỳ cục, bài học tâm linh đầu tiên mà tôi có thể thực sự nắm bắt không phải được giảng giải bởi một tu sĩ mà bởi một cô gái dễ thương 18 tuổi tên gọi Pensi, người chỉ trẻ hơn tôi vài tuổi.

Có thể bởi vì cô ấy là một tiếp viên quán rượu, không phải là một giảng viên, không có cái tinh thần của một người chuyên thuyết giảng tâm linh trong thông điệp của cô, vì vậy tôi nắm bắt từng lời từng chữ của cô.

Cô ấy có một đức tin mạnh mẽ khi đề câp đến vấn đề tâm linh. Ðiều mà tôi chưa bao giờ nghe thấy trong nhà thờ Ki Tô Giáo. Ðấng tối cao của cô ấy là một thực tế hiện hữu gắn liền với đời sống như tay chân và thân thể. Tôi gặp gỡ Pensi vào thời điểm mà tôi cần có một cái gì đó để tin tưởng, để bám víu, bởi vì sau tuần lễ nghỉ phép ở Bangkok, tôi đối diện với một chiến trường sinh tử khác, nơi mà rất nhiều bạn bè tôi đã bị tử vong, bị thương tích trong 6 tháng công tác với bộ binh.

Pensi và tôi đã thăm viếng nhiều thắng cảnh của Bangkok. Cô cũng đã đưa tôi đi thăm viếng nhiều ngôi chùa rất đẹp, kể cả ngôi chùa nằm trên một hòn đảo tư nhân.

Chúng tôi ra thăm hòn đảo bằng một chiếc tàu nhỏ. Ngôi chùa có bức tường màu trắng cẩn chạm hàng ngàn mảnh kính đủ sắc màu lấp lánh dưới ánh nắng. Cởi bỏ đôi giày, chúng tôi đi vào bên trong mát lạnh thâm u.

Từ ngoài sáng đi vào chỗ tối, chúng tôi đã không thể nhìn thấy được gì cho đến khi thị lực được điều tiết thích ứng. Ôi chao, phía sau những làn khói hương trầm mặc là hàng hàng tu sĩ trong tăng y màu vàng cam, nghiêm trang tụng niệm dưới chân một pho tượng Kim thân Ðức Phật khổng lồ. Cảnh tượng và âm thanh cùng với mùi hương trầm phảng phất giống như một hình ảnh thiên đường mà tôi chưa bao giờ tưởng tượng tới.

Bất cứ đi đâu trong thành phố, tôi và Pensi thường hay nắm tay nhau. Tôi để ý thấy rằng dân chúng nam nữ Thái Lan hay lắc đầu mỗi khi chúng tôi đi qua trên hè phố.

Chắc chắn rằng đối với mọi người, với kiểu tóc quân đội của tôi, tôi là một anh lính Mỹ GI, và Pensi trong y phục và cách trang điểm, rõ ràng là của một cô tiếp viên quán rượu. Pensi nói với tôi nghề tiếp viên quán rượu bị coi là thấp hèn hơn rác rưởi. Sau đó thì tôi hiểu được rằng phải can đảm lắm Pensi mới dám tay trong tay với lính Mỹ dạo gót trên đường phố. Các cô gái thường hay gặp phiền toái chỉ vì làm cái công việc này. Mặc dù bị phê phán và đối xử một cách khắc khe khiến tôi cũng muốn phản kháng nhưng Pensi thì vẫn cứ thản nhiên.

Khi tôi hỏi vì sao sự khắc khe của mọi người không hề làm cho Cô bị nao núng thì Cô nói với tôi rằng “ Tôi có Phật bên mình”.

Trải qua nhiều năm tháng theo sau, tôi không bao giờ quên được ngôn từ của Pensi, nhưng tôi cũng chưa hiểu gì nhiều cho đến những năm gần đây tôi mới thông suốt trọn vẹn. Ðức Phật là một bậc nhân ái, cao cả và từ bi, không giống như một vị trời đáng sợ thường hay trách phạt mà tôi từng tưởng tượng trong đầu óc ngây thơ của một cậu bé.

MC2: Bich Thu

Trong mùa lễ hội Vessak này, tôi đã tiêu khiển một buổi tối dưới ánh trăng tròn tại một ngôi chùa sàng gỗ trong rừng ở Tu Viện Abhayagiri, Red Wood, Cali.

Tôi đã ngồi cùng với những quan khách khác phía sau 12 vị tu sĩ thường trú, lắng nghe ÐÐ Ajahn Amaro, phó trụ trì, thuyết giảng về sự vô thường của cuộc sống. Trong bài thuyết giảng, Sư đề cập đến cuộc sống ngắn ngủi của một cậu bé tên gọi Todd Tansuhaj, là một sa di trẻ tuổi nhất được thọ giới tại Tu Viện Vô Úy Sơn này từ trước đến nay. Todd, người thọ giới Sa Di với pháp danh Piyasilo, đã qua đời hai tuần trước vì căn bệnh hiểm nghèo ung thư máu, sau một cuộc thay tủy lần thứ nhì không thành công.

Chúng tôi may mắn đã quay được đoạn phim buổi lễ thọ giới của Todd cho cuốn phim tài liệu về Tu Viện Vô Uý Sơn này. Không chút nghi ngờ, điều khó quên nhất trong cuốn phim chính là đoạn này.

Ajahn Amaro trong bài thuyết giảng đã mượn hình ảnh đời sống ngắn ngủi của Todd làm một ví dụ về tính chất vô thường của mọi hiện hữu trên trái đất này.

Abhayagiri sẽ làm lễ kỷ niệm 10 năm thành lập vào ngày 03 và 04 tháng 06 tới đây. Tu viện với truyền thống lâm trú, là một nơi tuyệt vời để thăm viếng trong thời gian nào đó. Nơi đó cho chúng ta một cơ hội học hỏi kiến thức vô tận, cái kiến thức không bắt buộc chúng ta phải chấp nhận. Như Sư Amaro nói “ Hãy thu nhận những gì bạn muốn và và gạt bỏ hết những điều khác qua một bên”.

Giáo lý của Ðức Phật cho chúng ta sự giải thích về cuộc đời rõ ràng nhất trên hành tinh này mà tôi chưa từng được nghe bao giờ. Ngôn từ của Ngài cô động, rõ ràng và thực tế đến nỗi đạo Phât có thể dễ dàng được chấp nhận như một tôn giáo khoa học. Vì vậy, bất cứ ai cũng có thể viếng thăm sinh hoạt với tu viện và vẫn giữ được truyền thống tâm linh của họ.

Suốt thời gian lễ hội tại Tu Viện, trong khi vầng trăng tròn được một sợi giây vô hình kéo ngang qua đỉnh Vô Úy- Abhayagiri- trong tiếng Pali có nghĩa là "không sợ hãi khiếp đảm”, thì những lời dạy của Ðức Phật mà Sư Amaro phân tích đã xuyên thủng bức màn của những câu hỏi, câu trả lời vượt không gian và thời gian. Sư đã nhắc nhở chúng ta rằng không cần phải nghĩ đến sự khác biệt của tôn giáo, Ki Tô Giáo, Phật Giáo hoăc bất cứ gì khác. Ðiều quan trọng là, dưới tất cả mọi nhãn hiệu, hãy là một người tốt nhất mà bạn có thể là, chẳng cần biết là bạn đã 60, 70 hay 80 tuổi hay là giống như Todd Tansuhaj, mới 11 tuổi.

Thật là tuyệt vời để nhận biết rằng chân lý sáng ngời nằm ở bên trong chúng ta. Chân lý mà chúng ta nhận ra nơi mỗi con người có thể được gọi là từ bi hoặc nhân ái. Chân lý không cần nhãn hiệu tôn giáo, bất cứ nó được gọi là gì, chúng ta nhận biết ra nó khi chúng ta cảm thấy nó xuất hiện trong ttrái tim của chúng ta. Như tôi chợt nhớ đến những lớp giáo lý Chủ Nhật, Chúa Jesu nói rằng “Thiên đàng bên trong chúng ta” và Ðức Phật nói: “Trạng thái vô trước, tịch lặng rỗng không chính là chân lý, trường cửu và bất biến”. Tôi chắc chắn rằng cậu bé Todd đã tìm thấy nó, và tôi cũng hiểu được những gì Pensi đã gửi gấm khi cô nói “ Tôi có Phật bên mình”

Nhật Hành

Ngày: 01 tháng 06 năm 2006

Tri chúng: Như Khanh

Tri chúng điền khuyết: Chanh Hanh

Môn học: TRUNG BỘ KINH - BÀI KINH SỐ 135

Bài học: TIỂU NGHIỆP PHÂN BIỆT


Giảng Sư Chính: TT Giác Đẳng

Giảng Sư Điền khuyết: TT Tuệ Siêu

Vị Tăng hoặc Ni nói lời cầu nguyện đầu lớp học: ĐĐ Minh Hạnh

Xướng ngôn viên: TC đk, Hat Cat, Nhu Phuc, Sangkhaly, Chanh Hanh, (ĐK: Nguon Đuc Hanh, Nhi Đo Mai, Tieu Long Nu, Anitya, Tinh Tan (xin miễn đọc tin tức trừ khi bài của TT, vì phải thâu TBK, Anitya)
http://baidocmc.blogspot.com &
http://bandieuhanh.blogspot.com

Người mở room: Hạt Cát, Mindvox (đk)

Người mở nhạc và kinh tụng: Hạt Cát, Mindvox (đk)

Người hoán chuyển bài cho Room: Nhu Phuc - Hat Cat (đk)

Người post bài cho Room: Mindvox - Chanh Hanh, SC Diệu Tịnh (nếu có vào được sẽ phụ post những câu Pāli trong TBK), Nhu Phuc.

Người post và gửi bài riêng cho chư Tăng: Hat Cat, Nguon Đuc Hanh, NhuPhuc

Trực room (op): TC đk & Nhu Phuc, Tinh Tan, NguonDucHanh, Nhi Do Mai, Tieu Long Nu.

Thông báo (nếu có): Xin các Ops nào có Googletalk hoan hỷ nhớ online để truyền thanh cho Chư Tăng khi Net yếu.
TRUNG BỘ KINH - BÀI KINH SỐ 135

Tiểu nghiệp phân biệt

(Culakammavibhanga Sutta)
______________

Giảng sư: TT Giác Đẳng

I. TOÁT YẾU


The Shorter Exposition of Action.

The Buddha explains how kamma accounts for the fortune and misfortune of beings.

Trình bày ngắn về nghiệp.

Phật giải thích nghiệp là nhân của may mắn và bất hạnh nơi hữu tình.


II. TÓM TẮT

Thanh niên Subha [1] Todeyya hỏi Phật do nguyên nhân gì, cùng sinh làm người mà không ai giống ai về thọ mạng [2] (người sống lâu kẻ chết yểu); về sức khỏe (người ít bệnh, kẻ nhiều bệnh); về dung sắc (người xấu kẻ đẹp); về uy quyền (người nhiều quyền kẻ ít quyền); về tài sản (người giàu kẻ nghèo); về thế cấp hay dòng dõi (người cao kẻ thấp); về trí tuệ (người thông minh kẻ ngu đần)… Phật dạy tất cả đều do nghiệp, con người là chủ nhân, là thừa tự của nghiệp. Chính nghiệp đã phân chia hữu tình ra có hơn kém như vậy. Chết yểu là do nghiệp giết hại sinh vật, không có tâm từ bi đối với hữu tình. Sống lâu là do từ bỏ giết hại, có tâm từ bi. Ít bệnh là do không não hại chúng sinh. Nhiều bệnh là do kiếp trước thường não hại chúng sinh. Tướng mạo xinh đẹp là do không phẫn nộ bất mãn. Nhiều uy quyền là do không ganh tị với người được quyền lợi, được tôn kính. Ít uy quyền là do thói ganh tị. Giàu có là do đã bố thí cúng dường. Sinh vào gia đình cao quý là do thường tôn kính người đáng kính. Sinh vào gia đình hèn hạ là do ngạo mạn, không kính người đáng kính. Có trí tuệ là do thường đến gần các sa môn để học hỏi. Ngu đần là do không đến gần các sa môn để học hỏi.

Vậy con người có tình trạng thế nào là do họ đã đi con đường dẫn đến tình trạng ấy. Thanh niên nghe xong xin quy y Tam bảo.

III. CHÚ GIẢI

1. Xem kinh 99. Theo sớ giải, thân phụ ông ta là bà la môn Todeyya do thói hà tiện đã tái sinh làm con chó ngay trong nhà ông. Phật cho Subha biết thế bằng cách khiến con chó moi lên kho tàng mà người cha đã chôn giấu lúc sinh tiền. Việc ấy đã làm Subha khởi tín tâm, thúc đẩy ông đến thỉnh vấn Phật về sự vận hành của nghiệp.

2. Nếu nghiệp giết hại quyết định cách tái sinh, thì nó sẽ dẫn đến tái sinh vào một đọa xứ. Nhưng nếu nhờ một thiện nghiệp mà được sinh làm người (và được làm người luôn là hậu quả của nghiệp lành), thì nghiệp giết hại sẽ khiến người này gặp nhiều nghịch cảnh đưa đến sự chết yểu.

IV. PHÁP SỐ

V. KỆ TỤNG


Một thanh niên ngoại đạo
Ðến tịnh xá Kỳ viên
Hỏi Phật nguyên nhân gì
Người chẳng ai giống ai
Về thọ mạng, sức khỏe
Về dung sắc, quyền uy
Về tài sản, giai cấp
Cũng như về trí tuệ ?
Phật dạy các hữu tình
Là chủ nhân của nghiệp
Là thừa tự của nghiệp.
Nghiệp phân chia hữu tình:
Chết yểu do giết hại
Không có tâm từ bi
Sống lâu do tâm từ
Và không ưa giết hại
Không não hại chúng sinh
Là nguyên nhân ít bệnh.
Thường não hại chúng sinh
Ðưa đến nhiều bệnh tật.
Người tướng mạo xinh đẹp
Do không hận không sân
Người tướng mạo xấu xí
Là do nhiều phẫn nộ
Nguyên nhân có uy quyền
Là không lòng ganh tị
Với người đáng tôn kính
Ít uy quyền là do
Cái thói ưa ganh tị.
Giàu có do bố thí
Nghèo do không cúng dường
Sinh dòng họ cao quý
Do kính người đáng kính
Vào gia đình hèn hạ
Do ngạo mạn kiêu căng
Làm người có trí tuệ
Do thường gần bậc trí
Ðể học hỏi nghĩa lý
Làm người mà ngu đần
Là do không học hỏi
Thân cận các sa môn.
Hiện tại như thế nào
Ðều do trong quá khứ
Ðã đi trên con đường
Dẫn đến tình trạng ấy.
Khi nghe Phật dạy xong
Thanh niên Tô-đây-gia
Xin quy y đức Phật,
Pháp và Tỷ kheo Tăng.

VI. Câu đố

1. Câu nào dưới đây được xem là "sai" theo Phật Pháp mà đúng với thường thức:

a. Nghiệp là hành vi tạo tác
b. Nghiệp là chủ tâm tạo tác
c. Nghiệp là những gì không tốt đã tạo
d. Nghiệp là hành vi của thân, khẩu, ý.

2. Người ta thường nói "bị khổ nạn do nghiệp" nhưng ít khi nói "thông minh do nghiệp" bởi vì chữ "nghiệp" thường để chỉ cho những nghiệp xấu. Theo đúng Phật Pháp thì có trường hợp nào cách nói đó được chấp nhận không ?

a. Hoàn toàn không. Có nghiệp tốt và nghiệp xấu. Không phải nghiệp nào cũng xấu.
b. Có trường hợp có thể chấp nhận. Theo lý duyên khởi thì tất cả nghiệp đều thuộc "hành, hữu" thì đều là nhân dẫn đến "lão, tử"
c. Không có phương diện nào đúng với Phật Pháp. Cách nói của thế gian vốn phiến diện
d. Cũng có thể dùng được. Ngôn ngữ nào cũng tương đối thôi.

3. Tại sao Phật Pháp dạy "chư pháp là vô ngã" mà lại có Phật ngôn: "Chúng sanh là chủ nhân của nghiệp" ?

a. Vô ngã không có nghĩa hoàn toàn không có ngã
b. tùy theo căn cơ chúng sanh, Phật ngôn có những dị biệt
c. Hai điều đó không mâu thuẫn mà là do trình bày ở hai cách nói khác nhau
d. Cả ba câu trên đều sai.