Thứ Tư, 26 tháng 4, 2006

Lớp Phật Giáo Sử

Những ngày cuối đời Đức Phật (tt)

(TK Giác Giới biên soạn)
______________

Giảng sư: TT Tuệ Siêu

I. Toát yếu: Những điểm chính

Di ngôn của Ðức Phật với Ngài Ānanda và chúng đệ tử:

a. Không nên bận tâm làm vẻ vang nhục thể của Ðức Phật.

b. Giáo Pháp và Giới Luật đã được Như Lai truyền dạy và quảng bá rộng rãi. Khi Như Lai nhập diệt rồi thì Giáo Pháp và Giới Luật ấy sẽ là Đạo Sư của chúng con.

c. "Tất cả các pháp hữu vi đều vô thường. Hãy tận lực liên tục chuyên cần."

II. Nội dung chính

Đức Phật ban di ngôn đến tôn giả Ānanda :

Đại Đức Ānanda bạch với Đức Phật rằng sau khi Ngài diệt độ, nhục thể của Đức Thế Tôn phải được tôn vinh như thế nào ? Đức Phật trả lời:

"Này Ānanda, con không nên bận tâm với việc phải làm vẻ vang nhục thể của Như Lai. Hãy chú tâm vào hạnh phúc châu toàn (Đạo Quả A La Hán) của chính con. Hãy tận lực tinh tấn để thành đạt hạnh phúc châu toàn của chính con. Hãy cố gắng, cần mẫn chuyên chú, quyết tâm mưu tìm sự tốt đẹp cho chính con. Có những người chiến sĩ sáng suốt, những vị Bà La Môn và những người cư sĩ trí tuệ, tin tưởng vững chắc nơi Như Lai. Hãy để những người ấy tôn vinh và làm vẻ vang nhục thể của Như Lai."

Nghe lời giáo huấn quý báu cuối cùng ấy, Đại Đức Ānanda đi sang một bên và đứng khóc, bụng nghĩ rằng:

"Than ôi! Ta chỉ là một tu sĩ có pháp học nhưng chưa được hoàn toàn giải thoát, cần phải thực hành nữa. Nhưng sau cùng, Đức Đạo Sư sắp tịch diệt, Đức Thế Tôn mà ta vô cùng quý mến."

Đức Phật cho gọi Ngài đến và dạy:

"Hỡi Ānanda, chớ nên phiền muộn. Chớ có khóc than. Như Lai đã từng dạy rằng tất cả chúng ta đều phải phân ly, cách biệt, và xa lìa những gì mà ta quý mến và thân yêu. Này Ānanda, con đã tạo nhiều phước báu. Con sẽ sớm thanh lọc mọi ô nhiễm."

Và Đức Phật tán dương công đức của Đại Đức Ānanda, rồi dạy Ngài Ānanda vào thành Kusinara báo tin cho hoàng tộc Malla về sự nhập diệt sắp đến.

Hoàng tộc Malla được báo tin, dắt vợ con đến khóc đảnh lễ Đức Phật.

Quang Cảnh Cuối Cùng

Đức Phật dạy Đại Đức Ānanda:

"Này Ānanda, có thể con sẽ nói rằng Giáo Huấn Tối Cao không còn thầy giảng dạy. Chúng con không còn Đạo Sư.

"Không nên, Ānanda, con không nên suy tư như thế. Giáo Pháp và Giới Luật đã được Như Lai truyền dạy và quảng bá rộng rãi. Này Ānanda, khi Như Lai nhập diệt rồi thì Giáo Pháp và Giới Luật ấy sẽ là Đạo Sư của chúng con.

"Sau khi Như Lai nhập diệt, chúng Tăng có thể, nếu chúng Tăng muốn như vậy, hủy bỏ những học giới nhỏ nhen và không quan trọng."

Bản chú giải ghi nhận rằng thay vì dùng mệnh lệnh cách (imperative form) bảo phải làm thế nào, Đức Phật chỉ dùng tiếp thuộc cách (subjunctive) trong lời dạy trên. Nếu ý Ngài là muốn hủy bỏ các học giới nhỏ thì Ngài đã dùng mệnh lệnh cách rồi. Đức Phật biết trước rằng về sau, khi chủ tọa cuộc Kết Tập Tam Tạng Lần đầu tiên, với sự đồng ý của chúng tăng, Đại Đức Kassapa sẽ không hủy bỏ một học giới nhỏ nhen nào. Vì Đức Phật không dạy rõ, và các vị A La Hán không thể quyết định nên hủy bỏ học giới nhỏ nào, nên các ngài giữ nguyên vẹn tất cả.

Một lần nữa Đức Phật dạy chư đệ tử như sau :

"Nầy các đệ tử , nếu các con còn bất luận một phân vân thắc mắc nào có liên quan đến Phật, Pháp, Tăng, Đạo, hay Phương Pháp, hãy nêu lên những câu hỏi. Về sau chớ ăn năn hối tiếc vì nghĩ rằng: "Lúc ấy, ở trước mặt Đức Thế Tôn mà ta không hỏi."

Tất cả chư vị đệ tử đều im lặng .

Lần thứ nhì và lần thứ ba. Đức Phật lặp lại câu nói. Lần thứ nhì, lần thứ ba, các vị đệ tử vẫn giữ im lặng.

Rồi Đức Phật dạy : "Có lẽ vì tôn kính Như Lai nên các con không nêu lên câu hỏi. Vậy nếu có thắc mắc, hãy thổ lộ với một đạo hữu khác."

Các vị tỳ khưu vẫn giữ im lặng.

Nhân đó Đại Đức Ānanda bạch với Đức Phật như sau : "Quả thật kỳ diệu! Bạch Đức Thế Tôn. Quả thật tuyệt vời! Bạch Đức Thế Tôn. Con lấy làm hoan hỷ. Không có một đệ tử nào còn bất luận một hoài nghi hay thắc mắc về Đức Phật , Giáo Pháp, Giáo Hội Tăng Già, về Con Đường hay về Phương Pháp."

"Nầy Ānanda, con nói điều ấy theo đức tin của con. Nhưng Như Lai hiểu biết rằng trong chúng Tăng đây không có ai còn hoài nghi hay thắc mắc về Giáo Pháp, về Giáo Hội, về Con Đường hay về Phương Pháp. Trong năm trăm đệ tử , nầy Ānanda, người chậm trễ nhất cũng đã nhập lưu, không còn phải rơi trở xuống nữa, và đã chắc chắn sẽ chứng ngộ." [24]

Rốt cùng, để khuyên dạy đệ tử, Đức Phật nói lên lời giáo huấn:

"Hãy nghe đây, nầy các đệ tử, Như Lai khuyên các con. Tất cả các pháp hữu vi đều vô thường. Hãy tận lực liên tục chuyên cần."

Đó là di huấn tối hậu của Đức Thế Tôn.

(Trích Đức Phật và Phật Pháp – Nāradamahāthera)

III. Câu đố :

1. Tôn giả Ānanda là vị thị giả của Đức Phật, được nghe nhiều hiểu nhiều Phật pháp. Vì sao đến giờ Đức Phật viên tịch mà Tôn giả vẫn chưa chứng đắc được quả vị Alahán ?

a. Vì tôn giả chỉ học mà không hành
b. Vì tôn giả bận rộn trách nhiệm thị giả
c. Vì chưa hội đủ nhân duyên
d. Câu B và C đúng.

2. Đức Phật dạy rằng : nếu muốn, tăng chúng hãy hủy bỏ những học giới nhỏ nhen tiểu tiết, vì lý do nào Ngài cho phép như vậy ?

a. Vì để có sự thoải mái cho chư tăng sau này
b. Vì trong giới luật Ngài thấy có những điều không cần thiết.
c. Ngài chỉ nói thử lòng các đệ tử xem có kính trọng giới luật không
d. Ngài biết rõ chư thánh đệ tử khi kết tập kinh điển không bỏ bớt nên nói lấy lệ.

3. Khi Đức Thế Tôn gợi ý, vị nào có nghi vấn gì hãy hỏi bây giờ, đừng để hối tiếc về sau. Chư tăng im lặng không có hỏi gì. Điều nào dưới đây là nguyên nhân hợp lý ?

a. Chư tăng đang bận tâm việc Đức Thế Tôn níp bàn nên không hỏi.
b. Chư tăng vì kính sợ Đức Thế Tôn nên không dám hỏi.
c. Chư tăng lúc ấy toàn là bậc thánh nên không có hoài nghi pháp
d. Vì bất ngờ, nên chư tăng không biết phải hỏi gì.

No. 0893 NEW (Nhị Ðộ Mai dịch)

Hội đồng Tăng Già Thái Lan

khiển trách tu sĩ vi phạm giới luật

The Nation, Mon-Apr 24, 2006

Bangkok, Thailand-April 24, 2006 -- Hôm qua Hội đồng tối cao Sangha nói rằng trong năm rồi đã có 513 tu sĩ và sadi vi phạm giới luật với kết quả cho 168 vị trong thời gian thử thách và 72 giải y hoàn tục.

Đa số vi phạm đã xảy ra trong khi đi bát, căn cứ theo con số từ Văn phòng Phật Giáo Quốc Gia, hồ sơ ghi nhận có 376 Tu Sĩ và sa di đã vi phạm giới luật với các lỗi lầm như “y phục không thích đáng, cách ứng xử trong khi đi bát hay chỉ nhận hiện kim v.v ..., người phát ngôn nhân của hội đồng nói như trên.

78 vị Tu Sĩ và sa di khác đã vi phạm các giới như trú ngụ qua đêm tại khu vực cộng đồng hoặc tại nhà cư dân, 26 người cờ bạc hay nghiện ngập, 25 đã cho rằng “ lầm đường lạc lối” và 2 người đã quan hệ tình dục với phụ nữ, người phát ngôn nói.

Đa số một phần ba những tu sĩ phạm luật xảy ra tại Bangkok , có 168 vị Tu sĩ và sa di, so với 344 trên toàn quốc và một người sống ở nước ngoài, phát ngôn viên nói.

Lời cảnh tỉnh đã được đưa ra cho 233 vị tu sĩ và sadi, 168 cho cơ hội thử thách và 72 đã bị trục xuất, phát ngôn viên nói, cộng thêm vào đó, những ai giả mạo tu sĩ để nhận tiền bạc đều đã bị giao trả lại cho cảnh sát.
No. 0897 NEW (Hạt Cát dịch)
Du khách Trung Quốc có thể ...bất bình

khi thăm viếng Bihar

TIMES NEWS NETWORK, April 25, 2006

Patna - Hoa Thị Thành, Ấn Ðộ -- Công dân Trung Quốc sẽ có thể bất bình khi biết được rằng một phi cơ thuộc loại Boeing 747 không thể đáp xuống Patna tức Hoa Thị Thành - Thủ Phủ của tỉnh bang Bihar. Căn cứ theo Ðại sứ Trung Quốc Tôn Ngọc Tỷ tại Ấn Ðộ, một số lãnh đạo và công dân giàu có Trung Quốc muốn viếng thăm thánh địa Phât Giáo bằng phi cơ riêng của họ ít nhất là được đáp xuống Patna.

Ðại sứ Tôn Ngọc Tỷ, vốn đang công tác ở Bihar, đã gặp bộ trưởng du lịch Nand Kishore Yadav hôm thứ Hai 24 tháng 04 và nêu lên vấn đề thiết bị tại phi trường Patna.

Ông Tỷ nói “Một vài nhà lãnh đạo, thương nhân và đại gia muốn thăm viếng Bihar, nhưng họ không có nhiều thời gian đi lại trên đường, một phi cơ thuộc loại lớn như Boeing 747 có thể đáp xuống Patna được chăng ? Ông Yadav đã cho nhân viên thuộc cấp tìm hiểu và không bao lâu thì được biết không thể. Chiều dài của phi đạo tại phi trường Patna khoảng 6,770 bộ trong khi Boeing 747cần một phi đạo dài khoảng 8,000 bộ để hạ và cất cánh.

Dù vậy, Ông Tôn Ngọc Tỷ nói rằng chuyện hợp tác tốt hơn giữa hai quốc gia sẽ nâng cao con số du khách từ Hoa lục đến Bihar.

Tuy nhiên, ông đã diễn tả sự bất bình trên việc thiếu thốn các thiết bị hạ tầng cơ sở tương xứng, đặc biệt là tại Gaya và Nalanda. Dân chúng rất thân thiện và Bihar là một địa điểm rất ý nghĩa, nhưng đường xá thì nên cải thiện tốt hơn.

Vị đại sứ nói rằng phái đoàn của ông hiện đang tiến hành chuẩn bị một cuốn phim tài liệu sẽ mang về Trung Quốc trình chiếu để cho du khách trong tương lai có cái nhìn rõ hơn về Bihar.

Ông cũng thỉnh cầu sự giúp đỡ của Ông Yadav trong việc cho phép phái đoàn làm phim được thu hình một số pho tượng hiếm hoi tại Viện Bảo Tàng Patna. Ông đại sứ cũng nói gần nói xa về khả năng thu hút người dân Trung Hoa đầu tư tại Bihar. Mặc dù ông không cho biết thêm chi tiết, nhưng qua cách nói của ông, người ta có thể cảm nhận rằng “ Trung Quốc và Ấn Ðộ có thể hợp tác để cải thiện hạ tầng cơ sở ở Bihar và đẩy mạnh phát triển”.

Ông đã được xem qua một phim tài liệu về Mạng Mạch Phật Giáo, cũng là phim truy nguyên các mối liên hệ về Phật Giáo giữa hai quốc gia.

Hiện nay, số du khách Trung Hoa đến thăm các địa điểm Phật Giáo tại Bihar rất ít. Giữa số du khách ngoại quốc, những người đến từ Nhật Bản và Thái Lan đứng đầu danh sách.

Thứ Ba, 25 tháng 4, 2006


Nhật Hành

Ngày: 25 tháng 04 năm 2006

Tri chúng: Nhị Độ Mai

Tri chúng điền khuyết: Duong Tieu

Môn học: Phật Pháp Phổ Thông

Bài học: AN LẠC

Giảng Sư Chính: SC Liễu Pháp

Giảng Sư Điền khuyết: TT Giác Đẳng


Vị Tăng hoặc Ni nói lời cầu nguyện đầu lớp học: ĐĐ Minh Hạnh

Xướng ngôn viên: TC đk, Nhu Phuc, Sangkhaly, Tieu Long Nu, Mindvox (ĐK: Tinh Tan (MC 1 only), Hat Cat, Dharma10, Anitya, Nguon Duc Hanh) http://baidocmc.blogspot.comhttp://www.bandieuhanh.blogspot.com

Người mở room: Dieu Quang, Hat Cat

Người mở nhạc và kinh tụng: Dieu Quang, Hat Cat, Tinh Tan (đk)

Người hoán chuyển bài cho Room: Nhu Phuc - Hat Cat (đk)

Người post bài cho Room: Mindvox, Tinh Tan, Nhu Phuc, Nguon Duc Hanh

Người post và gửi bài riêng cho chư Tăng: Nhu Phuc, Hat Cat, Nguon Duc Hanh

Trực room (op): TC đk & Nhu Phuc, Tinh Tan, Nguon Duc Hanh , Tieu Long Nu.

Thông báo (nếu có):
Lớp Phật Pháp Phổ Thông

An Lạc
______________

Giảng sư: SC Liễu Pháp

I. Toát Yếu: Những điểm chính


a. Con người được an lạc, không sợ hãi khi không quấy động đến kẻ khác.

b. Được an lạc khi biết tự bảo vệ mình và tha nhân bằng phương pháp chánh niệm, nhẫn nại và từ bi.

c. Được an lạc khi biết giử sáu căn thanh tịnh, thân tâm thanh tịnh để phát triển giới, định, tuệ.

II. Nội dung chính

CON NGƯỜI CHỊU TRÁCH NHIỆM MỌI THỨ

Khi ta biết sống như một con người thực sự không làm quấy động kẻ khác, ta có thể sống an lạc, không một điều gì sợ hãi trong tâm.

Theo Đức Phật, chính ta là kẻ tạo ra định mệnh của mình. Ta không thể đổ lỗi cho ai vì ta hoàn toàn chịu trách nhiệm về kiếp sống của chính ta. Đời ta có tốt hơn hay xấu hơn cũng là do ta làm ra. Và vì chúng ta đã biến chúng thành kiếp sống này nên cũng bằng quyền lực của chính mình, chúng ta có thể vượt qua những ảnh hưởng xấu và trau dồi bản tính tốt. Nếu chúng ta càng biết trách nhiệm về hành động của mình nhiều hơn, chúng ta có thể duy trì hòa bình và hạnh phúc. (Vì Sao Tin Phật)

TỰ BẢO VỆ

"Bảo vệ mình là bảo vệ người khác"

"Bảo vệ người khác là bảo vệ mình"

"Và làm thế nào một người trong khi bảo vệ mình là bảo vệ người khác? Bằng cách luôn luôn và thường xuyên tu tập thiền định.

"Và làm thế nào một người, nhờ bảo vệ người khác lại là bảo vệ mình? Bằng nhẫn nại và chịu đựng, bằng bất bạo động và sống lương thiện, bằng từ-ái và từ bi" (Satipatthanam Samyutta, Câu 19)

Bây giờ chúng ta bước sang mặt đạo đức về sự thật này. Tự bảo vệ phẩm hạnh sẽ bảo vệ người khác, cá nhân và xã hội, chống lại những say mê phóng dật và những thôi thúc ích kỷ của chính mình. (Vì Sao Tin Phật)

BÀN VỀ "SÁU CĂN THANH TỊNH" [^]

Hãy dùng một ví dụ : Sáu căn như cái gương, sáu trần là bóng dáng phản chiếu trong gương. Thức là con người phân biệt bóng dáng phản chiếu trong gương.

Nếu vậy thì vì sao nói "sáu căn thanh tịnh ?". Bởi vì sáu căn là công cụ của sáu thức. Sáng tạo ra hành vi thiện ác lại do tác dụng của 6 căn.

Công phu tu trì đạo giải thoát khỏi sinh tử không ở ngoài ba môn học : "giới, định, tuệ". Nhưng, gốc chủ yếu của trí tuệ là giới và định. Do đó, công phu nhập môn phải bắt đầu từ thân và tâm, tu thân và tu tâm. Loại bỏ hết niệm ác gọi là tu tâm. Công phu chủ yếu tu tâm là tập thiền định. Loại bỏ mọi hành vi bất thiện gọi là tu thân; công phu tu thân chủ yếu là giữ giới. Mục đích giữ giới là hộ trì các căn, không để cho các chuyện xấu, lọt qua các căn, vào tới nội tâm, gieo rắc hạt giống sinh tử luân hồi.

Sáu căn tuy vẫn tiếp xúc với 6 trần nhưng đã không bị 6 trần chi phối, mê hoặc, dám tới tạo nghiệp nữa. Vì vậy mà gọi là sáu căn thanh tịnh.

Mục đích của tu tập 6 căn thanh tịnh là để đoạn tuyệt và siêu việt lên trên dòng chảy sinh tử luân hồi. (Phật Giáo Chính Tín)

No. 0894 NEW (Hạt Cát dịch)

Vị cứu tinh của loài động vật,

chó, mèo tại Bồ Ðề Ðạo Tràng

By Srikant, New Kerala, April 24, 2006

Gaya, India -- Lại một buổi sáng trong lành khác ở Gaya, thành phố thánh địa. Bọn trẻ con tíu tít đến trường, cha mẹ chúng thì vội vội vàng vàng rảo chân đến sở hoặc đi mua sắm cho kịp lúc. Chỉ có bọn nhà chó vô chủ là đang háo hức mong đợi phiên hội kiến hằng ngày của chúng với một phụ nữ mong manh yếu đuối – Adrina Ferranti - người đã dùng phần lớn cuộc đời để chăm sóc cho những người cũng như thú vật bị bỏ rơi, hoặc vô chủ đang bị bệnh tật và sống khổ sở vất vưởng trong thành phố thánh địa Gaya.

Gốc gác sinh trưởng tại Ý nhưng bà Adrina Ferranti đã chọn lựa Gaya là Nghiệp Ðịa của Bà.

Ðó là một cuộc hành trình đăng đẳng kể từ khi Bà viếng thăm lần đâu tiên nơi đây vào năm 1987, và cuối cùng, năm 1992 Bà đã sáng lập tổ chức Maitri –tiếng Sankrist nghĩa là Từ Tâm, một tổ chức thiện nguyện với mục đích cứu vớt những sinh vật bị bỏ rơi, lạc lõng, con người lẫn động vật, tại Bồ Ðề Ðạo Tràng. Với một dự án quy mô, Quỹ Thiện Nguyện MaiTri cần sự yểm trợ của mọi người.

Bà nói “Tôi là một Phật tử. Tôi thực sự tin rằng thú vật và loài người có cùng tâm thức. Quan tâm tới tình trạng của động vật ở đây tôi trở nên bức xúc về đời sống của chúng. Tôi cảm nhận sự đau khổ của chúng cũng giống như của con người. Tôi đến đây để giúp đỡ người nghèo khổ, nhưng, cùng lúc, tôi nghĩ rằng chúng ta cũng có trách nhiệm phải chăm sóc cho chúng nữa”

Mặc dù mục đích chính của tổ chức Maitri là nhắm vào những chú chó vô chủ ngoài đường, đặc biệt là trong mùa đông, tổ chức cũng thực hiện việc triệt sản cho chúng vớ sự yểm trợ của một số tổ chức ngoại quốc.

Ðối với động vật bị thương tật, tổ chức Maitri có cả bác sĩ thú y để chăm nom cho chúng..

“ Một cách căn bản, chúng tôi cứu vớt những con chó bị bỏ rơi, đặc biệt là những con hoàn toàn không có khả năng tự sinh tồn, những con vật bị đau khổ về các chứng bệnh như ung nhọt, lở loét, rụng lông. Chúng tôi được hướng dẫn bởi Bà Ferranti, nhận dạng và mang chúng đến đây để cung cấp bất cứ phươg tiện y tế nào khả dĩ. Chúng tôi, đặc biệt, cung cấp trị liệu các bệnh tật về da ”. Một tình nguyện viên làm việc cho trung tâm Maitri nói như trên.

Bà Ferranti cũng thiết lập một khu vực nhỏ trong khuôn viên trung tâm Maitri, riêng biệt, như là một khu mộ địa dành để chôn cất những con vật kém may mắn không phải chết vất vưởng ngoài thiên nhiên.

Bên cạnh những con chó, Ferranti còn hy vọng sẽ thành lập một nơi nuôi dưỡng trâu, bò được cứu vớt từ lò sát sinh. Nhưng có một chỗ thích đáng để an bài cho tất cả trong khuôn viên Maitri thì chẳng khác nào một giấc mộng, chuyện khó mà thực hiện.
No. 0895 NEW (Hạt Cát dịch)

Chính phủ Trung Ương Ấn Ðộ chuẩn chi

2.2 triệu USD cho Học Viện Phật Giáo

Greater Kashmir Online,

Jammu, Kashmir (India) April 24, 2006 -- Chính phủ Trung Ương Ấn Ðộ đã chuẩn chi 90.14 triệu đồng Rupee tức là khoảng 2.12 triệu USD cho Học Viện Phật Giáo Trung Ương ở Ladak cho tài khoản năm nay.

Ngân khoản sẽ được tháo khoán cho học viện trong hình thức yểm trợ tài chánh dưới đồ án Kế Hoạch và Phi Kế Hoạch. Trong tài khoản năm ngoái, chính phủ trung ương đã tháo khoán con số 45 triệu Rupee với danh nghĩa yểm trợ tài chánh đến cho học viện.

Học Viện Nghiên Cứu Phật Giáo Trung Ương, Leh-Ladakh, Vốn là Trường Triết Học Phật Giáo trước kia, được thành lập năm 1959 theo chỉ thị của Ngài Pandịt Jawaharlal Nerhu với sự hợp tác của Lama Rev. Kushok Bakula Rinpoche.

Nó được đăng ký dưới danh nghĩa J&K Societies và về sau được sáp nhập với Ðại Học Sampurananand Sankrist, Varanasi, UP. Bộ Văn Hóa, Chính phủ Ấn Ðộ đã yểm trợ cho học viện này kể từ năm 1962.

Mục đích chính của Học Viện là khắc ghi vào tâm tưởng sinh viên trí tuệ của tư tưởng và văn chương Phật Giáo, cũng như làm cho sinh viên quen thuộc với những đề tài hiện đại, phiên dịch và xuất bản những bộ kinh hiếm hoi quý giá và những công trình thích đáng với nghiên cứu Phật Giáo. Học Viện truyền đạt học thuật trong tất cả mọi lãnh vực thuộc về nghiên cứu Phật Giáo đến cho các lama trẻ và tất cả những sinh viên nào quan tâm đến vấn đề này.

Thứ Hai, 24 tháng 4, 2006


Nhật Hành

Ngày: 24 tháng 04 năm 2006

Tri chúng: Như Phúc

Tri chúng điền khuyết: Anitya

Môn học: Lớp Thiền Học

Bài học: Thanh Tịnh Đạo - Phần Thứ Tư: ÐỊNH - PHÂN TÍCH ÐỀ MỤC ĐẤT (Pathavī - kasina - niddesa) _ SƠ THIỀN

Giảng Sư Chính: TT Giác Đẳng

Giảng Sư Điền khuyết: TT Tuệ Siêu

Vị Tăng hoặc Ni nói lời cầu nguyện đầu lớp học: ĐĐ Minh Hạnh

Xướng ngôn viên: TC đk, Dharma10, Tinh Tan, Hat Cat, Gioi Huong (tin tức). (ĐK: Sangkhaly (rời room đúng giờ), Nguon Duc Hanh, Nhi Đo Mai, Tieu Long Nu).
http://baidocmc.blogspot.com & http://bandieuhanh.blogspot.com

Người mở room: Mindvox, Hạt Cát (đk)

Người mở nhạc và kinh tụng: Mindvox, Hạt Cát (đk)

Người hoán chuyển bài cho Room: Hat Cat - Nhu Phuc (đk)

Người post bài cho Room: Nguon Duc Hanh, Nhi Do Mai (đk)

Người post và gửi bài riêng cho chư Tăng: Hat Cat, Nguon Duc Hanh.

Trực room (op): TC đk & Nguon Duc Hanh, Nhi Do Mai, Tieu Long Nu.

Thông báo (nếu có):
Lớp Thiền Học

THANH TỊNH ÐẠO LUẬN TOÁT YẾU

(Trích dẫn tài liệu do TT Thích Phước Sơn biên soạn)

PHẦN THỨ HAI - ÐỊNH (tiếp theo)


--ooOoo--

CHƯƠNG IV

ÐỊNH - PHÂN TÍCH ÐỀ MỤC ĐẤT

(Pathavī - kasina - niddesa)


SƠ THIỀN

Giảng Sư: TT Giác Đẳng

I. Toát Yếu: Những điểm chính

Sơ thiền là tầng thiền thứ nhất hành giả chứng và trú được sau khi đắc định do hoàn toàn ly dục, ly bất thiện pháp, có tầm, có tứ, với hỉ lạc do ly dục sinh; từ bỏ 5 pháp, đạt được 5 pháp, tốt đẹp ở 3 phương diện, có 10 đặc tính, và Sơ thiền nầy thuộc biên xứ đất.

II. Nội dung chính

Ðến đây, hành giả hoàn toàn ly dục, ly bất thiện pháp, chứng và trú Sơ thiền, có tầm, có tứ, với hỉ lạc do ly dục sinh; từ bỏ 5 pháp, đạt được 5 pháp, tốt đẹp ở 3 phương diện, có 10 đặc tính, và Sơ thiền nầy thuộc biên xứ đất.

Hoàn toàn ly dục nghĩa là thoát khỏi mọi dục vọng, vì dục là cái đối nghịch với so thiền. Nếu có dục thì không thể đắc Sơ thiền, cũng như có tối thì không có sáng. Danh từ "dục" bao gồm nhiều thứ; Ðó là dục kể như đối tượng, tức là những sắc pháp dễ ưa thích, và dục kể như cấu uế như vibhanga nói: "Ðam mê là dục, thèm muốn là dục, khát khao là dục".

Ly bất thiện pháp là xa lìa các triền cái khác ngoài dục. Như vậy, ly dục là từ bỏ cái nhân của tham, còn ly bất thiện pháp là từ bỏ cái nhân của si. Ly dục là thanh tịnh thân nghiệp, ly bất thiện pháp là thanh tịnh ý nghiệp. Nói cách khác, ly dục tức là thân viễn ly còn ly bất thiện pháp tức là tâm viễn ly.

Ở đây, cũng nên hiểu thêm về ý nghĩa của dục. Chữ dục thường dùng để dịch các từ chanda, kāma vā rāga. Chanda rất thông dụng, có nghĩa là hăng say, ham muốn tốt hoặc xấu. Kāma chỉ chung ngũ dục thuộc dục giới, còn theo nghĩa hẹp là dâm dục. Nếu kāma kết hợp với chanda thì thành ra kāmacchanda nghĩa là dục tham. Rāga là ham muốn, thèm khát theo ý xấu.

Ở trên nói đạt được năm pháp tức chỉ cho 5 thiền chi là tầm, tứ, hỉ, lạc và nhất tâm.

Tầm (vitakka) là trạng thái hướng tâm đến một đối tượng; nhiệm vụ nó là đập mạnh vào. Tứ (vicāra) là tư duy được nâng lên cao độ. Ðặc tính của nó là liên tục nhấn mạnh vào đối tượng. Nhiệm vụ của nó là khiến cho những tâm pháp đều tập trung trên đối tượng. Mặc dù tầm và tứ không rời nhau, nhưng tầm có nghĩa là sự xúc chạm đầu tiên của tâm với đối tượng, như đánh lên một tiếng chuông. Còn tứ là buộc tâm vào một chỗ, như rung chuông. Hơn nữa, tầm được ví như bàn tay nắm chặt cái đĩa kim loại bị hoen rỉ, còn tứ như bàn tay chà xát cái đĩa ấy bằng một mảnh dẻ tẩm dầu. Hoặc khi ta vẽ một cái vòng tròn thì cây kim cố định giữa trung tâm ví như tầm, cây kim di động vòng quanh cái tâm điểm đó gọi là tứ. Sơ thiền được xảy đến cùng lúc với tầm và tứ nên được gọi là "Câu hữu với tầm tứ".

Hỉ là trạng thái tươi tỉnh, mát mẻ. Nó gồm có 5 cấp bậc từ thấp lên cao: tiểu hỉ; hỉ như chớp nhoáng; hỉ như mưa rào; hỉ nâng người lên và hỉ sung mãn. Tiểu hỉ chỉ có thể là dựng lông tóc trong người mà thôi. Hỉ như chớp nhoáng thỉnh thoảng lóe lên. Hỉ như mưa rào nổi trên cơ thể liên tục, như sóng vỗ vào bờ. Hỉ nâng người có thể làm cho thân thể mất trọng lượng và bay bổng lên. Hỉ sung mãn là toàn thân được thấm nhuần, như cái chai đổ đầy nước.

Năm thứ hỉ nói trên, khi được làm cho chín muồi thì sẽ viên mãn 2 thứ khinh an là thân khinh an và tâm khinh an. Khinh an được làm cho chín muồi sẽ viên mãn 2 thứ lạc là thân lạc và tâm lạc. Lạc được ấp ủ làm cho chín muồi, sẽ viên mãn 3 thứ định là định chốc lát, định cận hành và định an chỉ.

Lạc (sukha) là sự hài lòng, sự hạnh phúc. Ðặc tính của nó là làm thỏa mãn. Dụng của nó là tăng cường độ các pháp tương ứng. Tướng của nó là sự hỗ trợ.

Khi hỉ lạc được liên kết, thì hỉ có nghĩa "hài lòng vì đạt được điều mong ước", còn lạc là "kinh nghiệm thực thụ đối với điều đã đạt được". Có hỉ tất nhiên có lạc, nhưng có lạc thì không nhất định có hỉ. Hỉ thuộc hành uẩn, lạc thuộc thọ uẩn. Lúc một người khát nước kiệt sức trên sa mạc mà thấy được vũng nước ven rừng, người ấy sẽ có hỉ, nếu người ấy đi đến uống nước ấy thì sẽ có lạc.

Nhất tâm hay định là tâm chuyên chú vào một đối tượng duy nhất.

Sơ thiền là cấp thiền đầu tiên đối với các cấp bậc khác. Chứng (upassampajja) là đạt đến, là thể nhập, đến nơi, sờ chạm, thực hiện. Trú (viharati) là an trú trong tư thế thích hợp đối với cấp thiền đã đạt được.

Từ bỏ 5 pháp tức là từ bỏ 5 triền cái (tham, sân, hôn trầm, trạo hối và nghi). Mặc dù lúc đắc thiền, các pháp bất thiện khác cũng được từ bỏ, nhưng chỉ có 5 pháp nầy là đặc biệt chướng ngại đối với thiền.

Khi tâm bị tham dục chi phối do thèm muốn các đối tượng sai khác, thì không thể tập trung vào một đối tượng duy nhất. Khi tâm bị nhiễm độc bởi sân thì không thể sinh khởi hỉ lạc. Khi tâm bị hôn trầm, thùy miên chi phối, thì rất khó điều phục. Khi bị trạo hối quấy nhiễu, thì tâm trở nên bất an, lăng xăng. Khi hoài nghi nổi lên thì tâm không thể bước lên đạo lộ để đắc thiền.

Những ví dụ về 5 triền cái: Tham dục được ví như một tô nước có trộn lẫn các màu xanh, vàng, đỏ, trắng. Sân được ví như một nồi nước đang đun sôi sùng sục. Hôn trầm được ví như một hồ nước bị rong rêu che phủ. Trạo hối được ví như một hồ nước bị gió chao làm cho nổi sóng. Nghi được ví như một hồ nước bị khuấy bùn đục ngầu. (Tương Ưng bộ kinh, Chương II, phẩm VI, mục 55, tr. 126-129)

Tốt đẹp ở 3 phương diện là chỉ cho 3 giai đoạn đầu, giữa và cuối. Ở Sơ thiền, sự thanh tịnh đạo lộ là chặng đầu; sự tăng trưởng xả là chặng giữa và sự toại ý là chặng cuối.

Mười đặc tính là chặng đầu có 3, chặng giữa 3 và chặng cuối 4. Chặng đầu 3 đặc tính là: tâm được lọc sạch chướng ngại do thiền; nhờ lọc sạch nó chuẩn bị cho trạng thái quân bình ở chặng giữa tức tịnh chỉ tướng; nhờ tâm đã chuẩn bị, nên dễ thể nhập trạng thái ấy. Chặng giữa 3 đặc tính là: hành giả bấy giờ, với trạng thái xả, nhìn tâm đã được thanh lọc; nhìn tâm đã được chuẩn bị cho tịnh chỉ, và nhìn sự xuất hiện của nhất tướng. Chặng cuối có 4 đặc tính là: toại ý vì không có sự quá độ nào trong các pháp khởi lên; toại ý vì các căn chỉ có một nhiệm vụ duy nhất; toại ý vì sự nỗ lực đã có kết quả; toại ý với nghĩa lý thuần thục. Ðó là 10 đặc tính khi một hành giả đã đạt được Sơ thiền.

Khi hành giả đã làm chủ sự tác ý, làm chủ sự chứng đắc, làm chủ sự quyết định, làm chủ sự xuất định và làm chủ sự quán sát, thì lúc xuất khỏi sơ thiền đã trở nên quen thuộc. Vị nầy có thể quán những khuyết điểm của nó như sau: "Thiền nầy bị đe dọa vì gần các triền cái, và các thiền chi còn yếu do bởi tầm, tứ còn thô". Hành giả có thể nghĩ đến Nhị thiền là an tịnh hơn; do đó, chấm dứt bám víu vào Sơ thiền, mà khởi sự làm những gì cần thiết để đạt đến Nhị thiền.

NHỊ THIỀN

Ðến đây, "hành giả làm tịnh chỉ tầm và tứ, chứng và trú Nhị thiền, nội tĩnh nhất tâm, không tầm, không tứ, với hỉ và lạc do định sanh; Vị ấy từ bỏ 2 pháp, có được 3 pháp,tốt đẹp ở 3 phương diện, có 10 đặc tính và thuộc biến xứ đất."

Làm tịnh chỉ tầm và tứ nghĩa là làm cho tầm và tứ lắng xuống, vượt qua Tầm và Tứ, hai thiền chi này không có mặt ở Nhị thiền.

Nội tĩnh nhất tâm: Nội là phát xuất từ nội tâm. Tĩnh là làm cho tâm an ổn với niềm tin, làm lắng dịu sự dao động. Nhất tâm là làm tâm thuần nhất, vững chãi, là sự tập trung cao độ. Từ nầy chỉ cho định.

Có hỉ và lạc như đã giải thích ở Sơ thiền. Do định sanh nghĩa là sinh từ định của Sơ thiền, hoặc sinh từ định tương ưng.

Từ bỏ hai pháp là từ bỏ tầm và tứ. Có được 3 pháp là có hỉ, lạc và nhất tâm. Những gì còn lại cũng giống như đã nói ở Sơ thiền.

Khi hành giả đã nhuần nhuyễn đối với Nhị thiền, dần dần sẽ thấy rõ Nhị thiền còn có những khuyết điểm. Do đó, hướng đến Tam thiền.

TAM THIỀN

Ðến đây, "Hành giả ly hỉ, trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm thọ lạc, một trạng thái mà các bậc thánh tuyên bố là "Có xả và chánh niệm, trú trong an lạc", và vị này đạt đến Tam thiền, từ bỏ một pháp, có được 2 pháp, tốt đẹp ở 3 phương diện, có 10 đặc tính và thuộc biến xứ đất. "

Ly hỉ là vượt qua, làm rơi rụng Hỉ ở Nhị thiền.

Trú xả (Upekkha-xả) có nghĩa là ngắm nhìn sự vật khi chúng xảy ra một cách thản nhiên, không thêm không bớt, không thành kiến. Khái niệm xả này gồm có 10 thứ: Xả thuộc 6 căn; Xả thuộc 4 phạm trú; Xả kể như một giác chi; Xả về tinh tấn; Xả về hành uẩn; Xả về thọ uẩn; Xả thuộc tuệ; Xả kể như tính trung lập đặc biệt; Xả ở thiền; Và xả kể như sự thanh tịnh.

Xả thuộc 6 căn là xả ở một vị đã đoạn tận lậu hoặc. Xả kể như một phạm trú là thái độ bình đẳng đối với mọi loài chúng sanh. Xả kể như một giác chi là trạng thái trung tính. Xả về tinh tấn là trạng thái không quá tinh cần, cũng không quá biếng nhác. Xả thuộc hành uẩn là thái độ thản nhiên đối với những triền cái. Xả về thọ uẩn là tình trạng không lạc không khổ. Xả thuộc tuệ là tính cách trung lập đối với sự suy đạt. Xả kể như tính trung lập đặt biệt là một trong 4 pháp thuộc bất định pháp. Xả thuộc thiền là tính vô tư bình đẳng. Xả kể như sự thanh tịnh là loại xả nhờ đã được tịnh chỉ hết các đối lập. Tóm lại, Xả nầy có đặc tính là trung tính; Nhiệm vụ nó là không can dự. Nó được biểu hiện bằng vô dục. Nhân gần của nó là sự từ bỏ hỉ. Ðó là giải thích về Xả. Sau đây, tiếp tục giải thích các vấn đề ở trên.

Chánh niệm tỉnh giác: Vị ấy nhớ lại (sarati) nên gọi là chánh niệm (sati); có sự giác tỉnh toàn vẹn, nên gọi là tỉnh giác (sampajāna). Mặc dù chánh niệm và tỉnh giác nầy cũng hiện hữu ở 2 thiền đầu, nhưng chưa rõ rệt lắm.

Thân cảm thọ lạc là vị này cảm thấy lạc liên hệ đến thân thể, và sau khi xuất thiền vẫn còn lạc.

Tam thiền là theo thứ tự thiền này được chứng vào hàng thứ 3.

Từ bỏ một pháp, có hai pháp là từ bỏ hỉ, khởi lên lạc và nhất tâm. Ðây là những yếu tố căn bản của thiền thứ 3 này. Nhưng hành giả tu tập thiền này đến độ thuần thục, dần dần sẽ nhận ra thiền này vẫn còn khuyết điểm, nên hướng tâm đến thiền thứ tư.

TỨ THIỀN

Bước sang giai đoạn này " Với sự từ bỏ lạc và khổ, với sự biến mất từ trước của hỉ và ưu, vị này chứng và trú Tứ thiền, không khổ, không lạc, có sự thanh tịnh của niệm nhờ xả. " Và như vậy, hành giả đắc Tứ thiền, từ bỏ một pháp, có 2 pháp, tốt đẹp ở 3 phương diện, có 10 đặc tính và thuộc biến xứ đất.

Với sự từ bỏ lạc và khổ là từ bỏ lạc và khổ của thân. Với sự biến mất của hỉ và ưu là sự biến mất lạc và khổ của tâm. Từ trước là không phải ở giai đoạn Tứ thiền mới xảy ra.

Không khổ không lạc: không khổ vì vắng mặt thân khổ; Không lạc vì vắng mặt thân lạc. Bằng câu này, luận chủ nêu lên loại cảm thọ thứ ba trái ngược hẳn với khổ và lạc, chứ không phải chỉ có sự vắng mặt của khổ và lạc mà thôi. Do đó, không khổ không lạc còn gọi là xả.

Từ bỏ một pháp, có được hai pháp là từ bỏ lạc, có được xả - kể như cảm thọ - và nhất tâm. Ðây là những yếu tố căn bản của thiền thứ tư này.

Tóm lại, trải qua các giai đoạn từ Sơ thiền đến thứ tư, dần dần các yếu tố được loại trừ và còn lại như sau:

- Sơ thiền bỏ 5 triền cái, được 5 thiền chi. - Nhị thiền bỏ tầm tứ, còn lại hỉ, lạc và nhất tâm. - Tam thiền bỏ hỉ còn lại lạc và nhất tâm. - Tứ thiền bỏ lạc còn lại nhất tâm và Xả.

Hệ thống 5 thiền

Ngoài ra, có một số luận sư còn chủ trương hệ thống 5 thiền. Hệ thống này chỉ khác hệ thống 4 thiền ở chỗ chia thiền thứ hai thành ra 2 cấp.

III. Câu đố

1. Năm cảnh dục: sắc, thinh, khí, vị, xúc có "khuyết điểm" nào dưới đây:

a. Hưởng thì ít mà khao khát thì nhiều
b. Năm cảnh thuộc ngoại giới nên tạo nên một thứ "hạnh phúc vay mượn"
c. Vì cảnh không "bền chặt" nên tâm sống trong dục giới thiếu định lực
d. Cả ba câu trên.

2. Tỳ Kheo Nanda vốn rất tương tư vị hôn thê nhưng khi lên cảnh trời thì thấy các tiên nữ đẹp hơn rất nhiều. Vị này khi được hỏi để so sánh thì nói rằng: vị hôn thê giống như con khỉ trong khu rừng cháy. Ðiều đó cho thấy:

a. Tỳ Kheo Nanda là người không có thủy chung
b. Giá trị của cảnh dục có tính tương đối
c. Thiên sắc mới thật sự là tuyệt đối
d. Cả ba câu trên đều đúng.

3. Sự khác biệt giữa tâm thiền và tâm dục giới là:

a. Tâm thiền có khả năng cách ly phiền não
b. Tâm dục giới thiếu sức mạnh của định lực
c. Tâm thiền không chi phối bởi năm triền cái
d. Cả ba câu trên đều đúng.

No. 0892 (Hạt Cát dịch)

Dùng kỹ thuật vệ tinh để

khám phá thêm di chỉ khảo cổ tại Nalanda

Compiled by Tipitaka Network Newsdesk, April 16, 2006

Bihar, Ấn Ðộ -- Hình ảnh được chụp bởi vệ tinh - Satellite có thể được đưa vào để khám phá trong cũng như ngoài khu vực phế tích cổ xưa của Ðại Học Nalanda, khu vực mà các chuyên gia tin rằng các di vật của trung tâm học thuật Phật Giáo Nalanda đã được khai quật chỉ là … hạt cát trong sa mạc.

Bộ trưởng bộ du lịch và văn hóa liên bang, Ambika Soni, người đã ghé viếng thăm Nalanda hồi đầu tuần trong chuyến đi kinh lý quan sát khu du lịch mạng mạch Phật Giáo Bodh Gaya -Rajgir - Nalanda tại Bihar, đã sốt sắng nói rằng hình ảnh do vệ tinh chụp được dùng cho mục đích khai quật trong khu vực là thích đáng. Trong khi hiện nay, phần khuếch trương thêm của phế tích Ðại Học Nalanda trải rộng đến 1.6 km vuông , vậy thì ngôi Ðại Học cổ xưa nhất thế giới được tin tưởng rằng diện tích còn trải trên một vùng rộng lớn hơn nhiều.

Soni nói bà sẽ liên hệ với bộ trưởng liên bang bộ khoa học kỹ thuật, ông Kapil Sibal, về sự khả thi sử dụng hệ thống vệ tinh trong việc định vị Nalanda để xem còn di chỉ nào của đại học cổ xưa có thể khai quật nữa hay chăng. Bà nói “ Ngay cả khi nhìn vào các di chỉ mà chúng ta đã khai quật, ấn tượng mà mọi người nhận ra là nó phải là một tổng thể rộng lớn hơn ”.

Bà Soni nói bà cũng sẽ liên hệ với thủ hiến bang Andhra Pradesh, ông YS Rajashekhar Reddy rằng thiết bị tối tân khả dụng thăm dò địa hình của tỉnh bang có thể được sử dụng để tìm kiếm những gì có thể còn nằm bên dưới.

Trong suốt chuyến kinh lý, bà Soni cũng đã gặp thủ hiến tỉnh bang Bihar, Ông Nitish Kumar ở Hajipur, than phiền rằng bà không hài lòng về việc có một căn cứ quân nhu bên cạnh một đài kỷ niệm Phật Giáo nổi tiếng tại Rajir, Nalanda.

“Tại sao một căn cứ quân nhu lại có thể được xây dựng trong một khu vực có di sản phong phú của Phật Giáo và Kỳ Na giáo như thế, nó không phù hợp với triết lý bất bạo động của Phật Giáo và Kỳ Na Giáo” Bà nói như trên khi viếng thăm ngôi tháp Shanti Stupa xây dựng trên một ngọn đồi ở Rajgir.