Thứ Hai, 3 tháng 4, 2006

No. 0851 NEW (Hạt Cát dịch)

Phật Giáo Ðại Hàn

mong muốn thế giới biết đến vai trò của họ

APRIL 04, 2006 02:59

by Jong sik Kong (kong@donga.com)

Tôi đã gặp Hyungak, một tu sĩ Phật Giáo (42) tại Hội Chợ Nghệ Thuật Á Châu Quốc Tế ở New York City hôm 31 tháng 03. Trông ông có vẻ mệt mỏi. Ông đã không đồng ý ngay cả để cho chúng tôi chụp ảnh, nói rằng ông đã không cạo râu mấy ngày nay. Ông nói "Tôi chỉ ngủ vỏn vẹn có 8 tiếng đồng hồ trong bốn ngày vừa qua, tôi mới dịch xong quyển "Thiền Kính" của Ðại Sư Tây Sơn (Seo - San) ra Anh Ngữ sáng nay. Tôi tới đây ngay lập tức khi được biết Triển lãm Nghệ Thuật Hàn Quốc đang diễn ra tại New York".

Quyển sách nói về việc hướng dẫn thực hành thiền định Phật Giáo cổ xưa. Ông giải thích rằng một phiên bản Anh Ngữ của quyển Thiền Kính (Mirror of Zen) sẽ được công ty Shambhala Publications xuất bản trong thời gian tới đây.

Thiền Sư Hyungak, một thiền sư Phật Giáo Ðại Hàn người Mỹ, tác giả quyển sách Anh Ngữ "Manhaeng - From Harvard to Hwagye Temple, tạm dịch "Từ Harvard đến Hoa Khê Tự", nói rằng ông mất thời gian hai năm để chuyển dịch quyển sách trong khi ông dự trù dành thời gian cho việc thực hành trong cùng một lúc.

Ông bắt đầu phiên dịch do sự đề nghị của Sư Beopjeong. Ban đầu ông từ chối vì nghĩ rằng ông không đủ khả năng. Nhưng ông không có chọn lựa nào khác hơn là chấp thuận sau khi Sư Beopjeong nói rằng ông là người duy nhất có thể làm được việc này. Ông chuyển dịch dựa vào quyển mà Ðại Sư Beopjeong đã diễn giải bằng Hàn Ngữ trong thập niên 60.

Hiện đang trú ngụ tại chùa Tào Khê ở Manhattan, ông nói "Trách nhiệm cấp bách của chúng ta là chuyển ngữ kinh điển quan trọng Hàn Quốc sang ngoại ngữ để cho thế giới biết đến sự nghiên cứu của Hàn Quốc".

Hoa Kỳ và Âu Châu vẫn hiểu rằng Phật Giáo Nhật Bản và Trung Quốc giữ địa vị trọng yếu trong Phật Giáo Á Châu. Họ không biết rằng Phật Giáo Ðại Hàn đã ảnh hưởng đến Phật Giáo Nhật Bản. Cho nên tôi đã đưa câu chuyện vai trò của Ðại Sư Tây Sơn (Seo - San) như thế nào trong thời gian Nhật Bản xâm chiếm Hàn Quốc năm 1592 vào lời nói đầu của quyển sách dịch". Ông nhấn mạnh nhiều lần sự quan trọng của vấn đề chuyển dịch kinh điển là để cho thế giới biết rõ về Phật Giáo Ðại Hàn.

Nhật Hành

Ngày: 03 tháng 04 năm 2006

Tri chúng: Như Phúc

Tri chúng điền khuyết: Anitya

Môn học: Lớp Thiền Học

Bài học: Thanh Tịnh Đạo - Phần Thứ Tư: ÐỊNH - PHÂN TÍCH ÐỀ MỤC ĐẤT (Pathavī - kasina - niddesa)

Giảng Sư Chính: TT Tuệ Siêu

Giảng Sư Điền khuyết: TT Giác Đẳng

Vị Tăng hoặc Ni nói lời cầu nguyện đầu lớp học: ĐĐ Minh Hạnh

Xướng ngôn viên: TC đk, Dharma10, Tinh Tan, Hat Cat, Gioi Huong (tin tức). (ĐK: Sangkhaly (rời room đúng giờ), Nguon Duc Hanh, Nhi Đo Mai, Tieu Long Nu).
http://baidocmc.blogspot.com & http://bandieuhanh.blogspot.com

Người mở room: Mindvox, Hạt Cát (đk)

Người mở nhạc và kinh tụng: Mindvox, Hạt Cát (đk)

Người hoán chuyển bài cho Room: Hat Cat - Nhu Phuc (đk)

Người post bài cho Room: Nguon Duc Hanh, Nhi Do Mai (đk)

Người post và gửi bài riêng cho chư Tăng: Hat Cat, Nguon Duc Hanh.

Trực room (op): TC đk & Nguon Duc Hanh, Nhi Do Mai, Tieu Long Nu.

Thông báo (nếu có):
Lớp Thiền Học

THANH TỊNH ÐẠO LUẬN TOÁT YẾU

(Trích dẫn tài liệu do TT Thích Phước Sơn biên soạn)

PHẦN THỨ HAI - ÐỊNH


--ooOoo--

CHƯƠNG IV

ÐỊNH - PHÂN TÍCH ÐỀ MỤC ĐẤT

(Pathavī - kasina - niddesa)

Giảng Sư: TT Tuệ Siêu

I. Toát yếu: Những điểm chính

a. Ðề mục hay biến xứ phổ thông nhất mà các Tỳ kheo thường dùng là đề mục đất.

b. Hành giả đặt hết tâm tư vào đối tượng ấy, cho ðê'n khi Sơ tướng phát sinh, sau đó tiếp tục quán chiếu dần dần, những triền cái được dập tắt, cấu uế lắng xuống, tâm trở nên tập trung với định cận hành và Tợ tướng xuất hiện.

c. Sự khác nhau giữa Sơ tướng và Tợ tướng là: Trong Sơ tướng, bất cứ lỗi nào của biến xứ đều hiện rõ, nhưng Tợ tướng xuất hiện như thể tách rời khỏi sơ tướng và trong sạch hơn gấp trăm ngàn lần.

d. Ðịnh cận hành (upacāra) là do từ bỏ những triền cái, và Ðịnh an chỉ (appanā) là do sự xuất hiện những thiền chi.

II. Nội dung chính


Khi hành giả đã chọn một đề mục thích hợp để tu tập cần phải an trú tại một trú xứ thuận tiện, tránh các chướng ngại sau: Trú xứ quá rộng, mới mẻ, tả tơi, gần đường, có cây ăn trái, có tiếng tăm, gần đô thị, gần chỗ lấy gỗ, gần đồng ruộng cày cấy, có những người xung khắc nhau, gần cửa khẩu, gần biên giới các nước, gần kinh đô, thiếu thiện tri thức.

Nếu trú xứ quá rộng thì sẽ có đông người thành ra bất tiện; hoặc một ngôi chùa mới thì trở ngại vì việc xây cất; còn nếu chùa cũ kỹ tơi tả, thì phải lo việc sửa chữa. Nếu gần đường thì luôn luôn có khách lui tới. Nếu có cây ăn trái thì có người đến hái quả. Nếu là chỗ nổi tiếng thì thường có nhiều người lui tới đảnh lễ. Nếu gần đô thị sẽ gặp những cảnh hào nhoáng đập vào mắt. Nếu gần chỗ lấy gỗ sẽ gặp cảnh ồn ào tấp nập. Còn gần đồng ruộng thì bị những người làm ruộng gây trở ngại. Nếu trú xứ có những người chống đối nhau, thì gây nên không khí căng thẳng bất an. Nếu ngôi chùa gần cửa khẩu thì bất tiện vì có nhiều đoàn lữ hành tới xin tá túc. Nếu ở gần biên giới các nước thì sợ có việc tranh chấp, binh đao xảy ra. Nếu thiếu thiện tri thức thì không ai dìu dắt giúp đỡ. Ðó là những điều kiện bất tiện đối với một hành giả tu tập thiền quán.

Trái lại, một trú xứ thuận lợi cho sự tu tập sẽ có 5 yếu tố như đức Thế tôn dạy: "Một trú xứ không quá xa, không quá gần và có một con đường để đi lại; ban ngày ít người lui tới, ban đêm ít ồn ào; ít ruồi, muỗi, gió, ánh nắng và các loài bò sát; người sống trong đó dễ kiếm 4 thứ nhu yếu; trong đó có những thượng tọa Tỳ kheo đa văn, thông kinh điển, những người tuân giữ Pháp và Luật, thỉnh thoảng hỏi nghĩa lý kinh điển thì những vị nầy có thể khai thị những điều chưa được khai thị, trừ nghi cho hành giả những điểm còn nghi". (A. v. 15)

Khi một Tỳ kheo đã tìm được một nơi tương đối thuận lợi, thì cần phải chọn một đề mục thích hợp để thiền quán. Ðề mục hay biến xứ phổ thông nhất mà các Tỳ kheo thường dùng là đề mục đất.

Cách làm biến xứ đất này có thể gắn cố định tại một chỗ hoặc dùng để mang theo bên mình đều được. Biến xứ cố định thì nên nắn một cục đất có hình dáng một đóa hoa sen, đường kính khoảng một gang tay, đặt tại một chỗ thuận tiện khi ngồi thiền, tránh các màu xanh, vàng, đỏ hoặc trắng. Trước lúc ngồi, phải loại trừ các chướng ngại từ nơi thân mình như tóc và móng tay dài, thân thể phải tắm rửa sạch sẽ, vá lại áo rách, nhuộm lại y cũ v.v.. Thế rồi, đặt hết tâm tư vào đối tượng ấy, nghĩ rằng: "Chắc chắn bằng cách nầy ta sẽ thoát khỏi già chết". Và suy nghĩ: "Dục đem lại vui ít mà khổ nhiều, não nhiều", khởi lên sự khao khát thoát ly dục vọng, khao khát từ bỏ mọi sự ô nhiễm của tâm hồn. Khởi lên niềm hân hoan tưởng nhớ những đức tính đặc biệt của Phật, Pháp, Tăng, khởi lên niềm kính phục với ý nghĩ rằng: "Ðây là con đường từ bỏ mà tất cả chư Phật, Ðộc giác và Thánh chúng đã dấn thân", Khởi lên niềm hăng hái với ý nghĩ: "Bằng cách nầy, chắc chắn ta sẽ biết được vị ngọt của hạnh độc cư". Sau đó, vị nầy nên mở 2 con mắt một cách vừa phải, quán tưởng và tiếp tục khai triển, nhưng mắt không rời đối tượng, như thể đang nhìn gương mặt mình trên một tấm gương soi.

Hành giả tiếp tục tu tập quán biến xứ ấy cho đến khi thâm nhập vào nơi tâm, bấy giờ dù mở mắt hay nhắm mắt, hành giả vẫn thấy tướng ấy rõ ràng. Ðó tức là Sơ tướng đã phát sinh. Thế rồi, tiếp tục quán chiếu dần dần, những triền cái được dập tắt, cấu uế lắng xuống, tâm trở nên tập trung với định cận hành và Tợ tướng xuất hiện. Sự khác nhau giữa Sơ tướng và Tợ tướng, như sau: Trong Sơ tướng, bất cứ lỗi nào của biến xứ đều hiện rõ, nhưng Tợ tướng xuất hiện như thể tách rời khỏi sơ tướng và trong sạch hơn gấp trăm ngàn lần.

Tâm hành giả bấy giờ trở nên an tĩnh, mà thông thường luận chủ gọi là phát sinh 2 thứ định. Ðó là Ðịnh cận hành (upacāra) và Ðịnh an chỉ (appanā). Ðịnh cận hành là do từ bỏ những triền cái, và Ðịnh an chỉ là do sự xuất hiện những thiền chi. Hai loại định nầy khác nhau chủ yếu là khi Ðịnh cận hành thì các thiền chi (tầm, tứ, hỉ, lạc, nhất tâm) còn yếu kém, nhưng đến khi Ðịnh an chỉ thì các thiền chi trở nên mạnh mẽ, và do thế, khi định nầy phát sinh là lúc hữu phần dừng lại, tâm tiếp tục với một dòng tốc hành tâm suốt cả đêm ngày.

III. Câu đố

1. Một vị tu thiền muốn được tiến bộ nhanh cần phải có được điều kiện thích hợp. Điều kiện thích hợp cần thiết đó là:

a. Đề mục thích hợp
b. Trú xứ thuận tiện
c. Sức khỏe tốt
d. Câu a và b đúng.

2. Định cận hành (upacārasamādhi) và định an chỉ (appanāsamādhi), khác nhau ở điểm nào ?

a. Định cận hành thì là nhất hành trong thiện dục giới, định an chỉ thì là nhất hành trong thiện đáo đại.
b. Định cận hành thì các chi thiền còn yếu kém, định an chỉ thì các chi thiền mạnh mẽ
c. Định cận hành thì sanh do từ bỏ triền cái, định an chỉ thì sanh do xuất hiện các chi thiền
d. Gồm cả ba điều trên.

3. Điều nào dưới đây nói đúng phẩm cách của một vị có tu tập thiền định ?

a. Một người im lặng không nói chuyện
b. Một người ít nói chuyện ồn ào
c. Một người có chánh niệm khi nói chuyện
d. Một người nói chuyện thông thái.

IV. Bài tham khảo:

Thanh Tịnh Ðạo. Luận sư Buddhaghosa (Phật Âm). Thích Nữ Trí Hải dịch Việt

http://zencomp.com/greatwisdom/uni/u-thanh...dao/ttd-03b.htm
No. 0846 NEW (Hạt Cát dịch)

Tuần lễ nghệ thuật điêu khắc

Phật Giáo Gandhara 2006 tại Pakistan

ISLAMABAD, Pakistan,Thông tấn APP, April 1, 2006 -- Pakistan là quê hương của một số các khu vực khảo cổ và tôn giáo cổ xưa nhất thế giới, những khu vực có thể thu hút số lớn du khách, đặc biệt là từ những quốc gia Phật Giáo miền Ðông Nam Á. Bộ Trưởng Bộ Du Lịch Pakistan, Dr. Jamal cho biết hôm thứ Sáu.

Ông nói Bộ Du lịch sẽ tổ chức một “Tuần Lễ Gandhara” từ ngày 24 tháng 04 nhằm nâng cao con số du khách trong nước. Ông nói sự kiện này đã được tổ chức năm ngoái rất tốt đẹp, và một số lớn du khách ngoại quốc, kể cả các học giả, các sử gia, các nhà khảo cổ, phóng viên và văn gia từ khắp nơi trên thế giới đến viếng thăm Pakistan để tham dự phiên triển lãm. Ông nói rằng những sự chuẩn bị rõ ràng nên được thực hiện để làm cho cuộc triển lãm thành công. Ông nói rằng sự kiện cũng đồng thời là một cơ hội để thực hiện một hình ảnh cụ thể về quốc gia ở nước ngoài.

Ông nói thêm rằng bộ Du Lịch sẽ nỗ lực hợp tác với chính phủ NWFP - Các Tỉnh Miền Tây Bắc, bởi vì du khách sẽ thăm viếng các khu di tích lịch sử như Swat, Takhtbai, Mardan và Peshawar. Ông nói Ðại Ðế Alexander của Macedonia đã xâm lấn lục địa nhỏ này vào năm 326 trước Tây lịch, và theo chân Alexander, ảnh hưởng văn hóa Hy Lạp đã đến với khu vực này của thế giới kể từ đó.

Ông nói rằng sau đó, trong thế kỷ thứ hai trước Tây Lịch, Phật Giáo được xem như quốc giáo trong khu vực mà hiện nay gồm có Taxila, Swat và Charsaddah. Và một nền văn hóa thống nhất đã được thành hình do sự dung hợp giữa Phật Giáo và văn hóa Hy Lạp, nền văn hóa này đã hưng thịnh trong vùng hơn 1000 năm và trở thành một trung tâm quan trọng cho mậu dịch và học thuật.

Hàng trăm tu viện Phật Giáo và đền tháp đã được xây dựng trong những thị trấn như Sirkap và Sirsukh ở Taxila. Từ khu vực đó, một nền nghệ thuật điêu khắc thống nhất bắt nguồn từ trường phái Gandhara đã được thành hình . Ông nói nghệ thuật điêu khắc Gandhara đã chiếm lĩnh một vị trí nổi bật trong các viện bảo tàng của Anh, Pháp, Ðức, Hoa Kỳ, Nhật, Ðại Hàn, Ấn Ðộ, Trung Quốc, A Phú Hãn và trong nhiều bộ sưu tập tư nhân.

Tuy nhiên, biểu tượng của nghệ thuật Gandhara, tượng Ðức Phật Khổ Hạnh, thì đang ở tại Pakistan và được trưng bày trong viện bảo tàng Lahore.
No. 0848 (Hạt Cát dịch)

Triển lãm Nghệ thuật hiện đại Phật Giáo

từ Trung Quốc tại Ðại Học Connecticut

New London, Connecticut, Hoa Kỳ, 02 tháng 04, 2006 -- Ning Qiang, Chu-Niblack Phụ Giảng ngành Lịch Sử Nghệ Thuật tại Ðại Học Connecticut sẽ có buổi diễn thuyết trong lễ khai mạc cuộc triển lãm nghệ thuật Á Châu mùa xuân với đề tài “Nghệ Thuật Hiện Ðại Phật Giáo từ Trung Quốc: Hội Hoạ bởi Cao Sơn và Vương Phong” vào ngày Thứ Tư 12 tháng 04, 2006 lúc 4:30pm tại Phòng Ðọc Sách trong Thư Viện Shain

Công chúng được mời tham dự miễn phí. Cuộc triển lãm sẽ kéo dài đến 12 tháng 05, 2006.

Nghệ thuật Phật Giáo có một chiều dài lịch sử tại Trung Quốc và những quốc gia Á Châu khác. Như đa số các thể loại văn hóa khán thưởng thời Trung Cổ Trung Hoa, nghệ thuật Phật Giáo đại diện cho tâm thức xã hội và niềm tin tôn giáo của quần chúng Trung Hoa trong 2000 năm cho đến khi xảy ra cuộc Cách Mạng Văn Hóa (1966- 1976) dưới thể chế Cộng Sản. Các nghệ thuật gia đương thời bắt đầu tái thẩm nghiệm truyền thống vĩ đại này sau khi Mao Trạch Ðông tạ thế vào năm 1976 và đã cố gắng thành lập một nền tảng mới cho nghệ thuật tôn giáo, đặc biệt là nghệ thuật Phật Giáo kể từ đó.

Cuộc triển lãm này trình bày công trình của các nghệ thuật gia Cao Sơn và Vương Phong, những người đã nghiên cứu nghệ thuật này trong hang động tại Ðôn Hoàng, khu thánh tích của nghệ thuật Phât Giáo truyền thống tại sa mạc miền đông bắc Trung Hoa trong thập niên 80 và đã sản xuất một con số lớn họa phẩm mới dựa trên sự am hiểu và diễn dịch của họa phẩm và điêu khắc cổ xưa.

Ðược xếp hạng giữa các nhóm nghệ thuật tự do tư nhân chọn lọc nhất giữa các đại học trong nước, Ðại học Connecticut tiếp nhận 1900 sinh viên nam nữ từ 42 tiểu bang và 41 quốc gia . Ðại học Connecticut nổi tiếng về việc chuyển tải nghệ thuật tự do vào hành động xuyên qua nghiên cứu nhiều ngành học thuật, chương trình quốc tế, quỹ giáo sinh thực tập, thiết bị nghiên cứu và phục vụ học tập cho sinh viên. Thành lập năm 1911, tọa lạc tại số 270 đường Mohegan thuộc thị trấn New London, cách hai giờ lái xe từ New York và Boston. Với khuôn viên 750 mẫu, học viện như một khu rừng ngắm nhìn về phía nam Long Island trong 84 năm qua.

Chủ Nhật, 2 tháng 4, 2006


Nhật Hành

Ngày: 02 tháng 04 năm 2006

Tri chúng: Tinh Tấn

Tri chúng điền khuyết: Nhu Phuc

Môn học: Lớp Phật Học Chuyên Đề

Bài học: Vị ngọt, sự nguy hại và sự xuất ly các dục


Giảng Sư Chính: ĐĐ Tuệ Quyền

Giảng Sư Điền khuyết: TT Tuệ Siêu

Vị Tăng hoặc Ni nói lời cầu nguyện đầu lớp học: ĐĐ Minh Hạnh

Xướng ngôn viên: Phần 1: Minh Lac, (DK: Gioi Huong, Hat Cat)
Phần 2: Bản tin: Khanh Van, Tri Dat, Nguon Duc Hanh, (DK: Nhi Do Mai, Anitya) // Đố Vui: Sangkhaly, Tri Dat (đk) http://baidocmc.blogspot.com/ & http://bandieuhanh.blogspot.com

Người mở room: Hạt Cát

Người mở nhạc và kinh tụng: Hạt Cát

Người hoán chuyển bài cho Room: Nhu Phuc

Người post bài cho Room: NguonDucHanh, Nhu Phuc

Người post và gửi bài riêng cho chư Tăng: NguonDucHanh, Nhu Phuc.

Trực room (op): TC đk (clean và trực room), Tieu Long Nu (coi sau nick mới vào room), Hat Cat (trực mic giảng sư).

Thông báo (nếu có): SC Diệu Tịnh: hôm nay bận không tham dự lớp học được.

________________ Dieu Quang: xin phép vắng mặt ngày 02 tháng 04.

Thứ Bảy, 1 tháng 4, 2006

Lớp Phật Học Chuyên Đề

Vị ngọt, sự nguy hại và sự xuất ly các dục
______________

Giảng sư: ĐĐ Tuệ Quyền

I. Toát yếu: Những điểm chính

Các vị ngọt ở đời khiến chúng sanh có tham nhiễm; sự nguy hại của các dục khiến chúng sanh nhàm chán đối với đời; sự xuất ly đối với các dục khiến chúng sanh xuất ly ra khỏi đời. Chỉ khi nào như thật giác tri vị ngọt, sự nguy hại và sự xuất ly, thì chúng sanh mới đạt được giải thoát, không bị hạn cuộc bởi thế giới.

II. Nội dung chính

Này các Tỷ-kheo, nếu không có vị ngọt ở đời, thời các loài hữu tình không có tham nhiễm đối với đời. Vì rằng, này các Tỷ-kheo, có vị ngọt ở đời, nên các loài hữu tình có tham nhiễm ở đời.

Này các Tỷ-kheo, nếu không có nguy hại ở đời, thời các loài hữu tình không có nhàm chán đối với đời. Vì rằng, này các Tỷ-kheo, có nguy hại ở đời, nên các loài hữu tình có nhàm chán đối với đời.

Này các Tỷ-kheo, nếu không có xuất ly ra khỏi đời, thời các loài hữu tình không có xuất ly đối với đời. Vì rằng, này các Tỷ-kheo, có xuất ly đối với đời, nên các loài hữu tình có xuất ly ra khỏi đời.

Này các Tỷ-kheo, cho đến khi nào các loài hữu tình đã như thật giác tri vị ngọt ở đời là vị ngọt, nguy hại là nguy hại, xuất ly là xuất ly, cho đến khi ấy, này các Tỷ-kheo, các loài hữu tình có thể an trú với tâm thoát ly, không có hệ phược, giải thoát, không bị hạn cuộc khỏi thế giới gồm có Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, cùng với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người.

III. Từ vựng:

Kāma-guna (dục trưởng dưỡng) - tức là ngũ trần, hay thường được gọi chính xác là những tuyến phát triển của dục, bởi lẽ các dục đều tập trung vào những đối tượng ấy, và tâm dĩ nhiên bị cột chung với chúng. Ngũ trần này là năm đối tác ngoại giới của năm căn nội giới - sắc, thanh, hương, vị và xúc.

IV. Đố vui:

1. Có đúng không khi nói rằng phải chấp nhận cả hạnh phúc lẫn đau khổ của cuộc đời ?

a. Đúng, vì khổ đau và hạnh phúc là hai mặt không thể tách rời của cuộc sống, như hai mặt của một tờ giấy
b. Đúng, vì có chấp nhận mới bớt khổ
c. Không đúng, vì có đau khổ nhưng cũng có sự xuất ly khỏi đau khổ.
d. Không đúng, vì không phải khi nào hạnh phúc cũng đi kèm với đau khổ

2. Câu nào dưới đây diễn tả đúng nhất ý nghĩa của Khổ đế ?

a. Chỉ là cách nhìn, vì cùng một hoàn cảnh mà có người thấy khổ, có người thấy vui
b. Là trạng thái chung cho cả tam giới
c. Là một sự thật đúng với mọi trường hợp, cả thế gian lẫn siêu thế
d. Là sự thật thuộc về thế gian, hay còn gọi là tục đế.

3. Ví dụ nào dưới đây thường được Đức Phật dùng để diễn tả ngũ dục ?

a. ví như khúc xương
b. ví như một miếng thịt
c. ví như bó đuốc cỏ khô
d. cả ba câu trên.

V.
Bài đọc thêm:

http://www.saigon.com/~anson/uni/u-kinh-trungbo/trung13.htm

No. 0844 (Hạt Cát dịch)

Những bà nội trợ Phật tử

và việc cứu vớt một đàn cá

Himalayan News Service

Kathmandu, April 1 -- Thành phố Thủ Ðô Kathmandu có thể bỏ rơi không chăm sóc khu vực Ðài Kỷ Niệm Rani Pokhari hồi thế kỷ 18 một thời gian dài, nhưng một số nữ Phật tử Tây Tạng đã không chịu …bó tay.

Hôm nay, một số đã …dốc túi trong khi số khác …đập vỡ ống heo, gom góp số tiền họ đã chắt mót để ..hà hơi tiếp sức cho đời sống mới của những sinh vật tại khuôn viên đài kỷ niệm.

Các bà nội trợ lo âu đã mua khoản 30 bồn nước uống và đổ xuống cái hồ khô cạn để cứu vãn cho bầy cá dưới hồ.

Cái hồ đã bị khô cạn với mức độ báo động đáng lo ngại vì đã không có mưa nhiều trong mùa đông vừa rồi và bởi vì mực nước đã xuống thấp một cách quá đáng, kết quả của quá nhiều cuộc hút nước ngầm dưới đất và những chỗ trám trên mặt chung quanh hồ.

Bà Chhorten Lama, một bà nội trợ từ Boudha nói “Thật đau lòng khi nhìn thấy cái hồ trở nên khô cạn như thế. Chúng tôi đến đây mỗi ngày để cho cá ăn và nhận thấy khó mà có chút nước nào, chỉ là một lớp bùn. Chúng tôi vội vã tụ họp lại để tìm phương cách. Nỗ lực nhỏ nhoi này là kết quả chuyện phiếm đàm của chúng tôi”.

Tất cả gồm 15 tín nữ và hai thiện nam, họ đã mua 30 bồn nước và đổ xuống hồ. Ða số những người làm công việc ..nghĩa hiệp này là những bà nội trợ đã từng có cơ sở sản xuất thảm trải nhà nhưng hiện nay rảnh việc ở nhà. Bà Lama nói “Trước tiên bà xin phép nhân viên bảo vệ công trình và hợp đồng với nhà sản xuất mang nước đến tận nơi, không phải chúng tôi làm việc này vì giàu có, chúng tôi làm vì nghĩ rằg nỗ lực nhỏ này của chúng tôi có thể cứu vớt cho hàng trăm con cá sinh sống trongcái hồ kém may mắn này”.

Trưởng Cục Môi Trường Thành Phố KMC Rabin Man Shrestha nói “Không có cách nào giữ được nước hồ trong mùa này bởi vì nước sẽ tiếp tục bốc hơi và đã không có mưa. Chúng tôi đã gửi đến đó 2 bồn nước mỗi ngày nhưng không kết quả gì. Biện pháp duy nhất là lưu trữ nước mưa”.
No. 0845 (Hạt Cát dịch)

Dịch bệnh theo đường hỏa xa

từ Tây Tạng vào Trung Quốc

Saturday April 1, 4:19 PM -- Sự hoàn thành tuyến đường hỏa xa thứ nhất nối liền Tây Tạng và những vùng đất khác của Trung Quốc có thể là dẫn chất lan truyền tật bệnh gieo rắt bởi chuột bọ như dịch bệnh mà phần lớn đã ảnh hưởng đến những vùng xa xôi hẻo lánh miền Ðông bắc Trung Quốc, căn cứ theo tường trình của truyền thông Trung Quốc.

Ðường hỏa xa nối liền vùng Hy Mã Lạp Sơn với toàn bộ Trung Quốc khi kahi thông vào mùa hè có thể mang các loại chuột bọ truyền nhiễm đến những vùng đông dân cư, tờ China Daily đã nói như trên..

Trích dẫn lời của các viên chức bộ Ngoại Giao, tờ báo nói rằng sự truyền nhiễm dịch bệnh hiện nay đang ở trong tầm kiểm soát của nhà hữu trách vì các tuyến đường dẫn đến những vùng xa xôi ở Tây Tạng, Thanh Hải và Nội Mông hãy còn thưa thớt. Nhưng một khi các tuyến đường được đưa vào hoạt động đầy đủ, kiểm soát một dịch bệnh là điều rất khó khăn.

Bệnh dịch không phải là vấn đề quan trọng cho sức khỏe công chúng tại Trung Quốc với 24 người tử vong từ năm 2001 đến 2005, căn cứ theo trang nhà chính thức của tờ Nhân Dân Nhật Báo.

Tật bệnh, do bọ chét trên mình chuột và con mạt mốt (một giống thú tương cận con gấu), có thể diệt trừ với thuốc kháng sinh, nhưng tiêu chuẩn y tế ở các vùng xa xôi quá yếu kém đưa đến một kết quả với tỷ lệ hiểm nghèo từ 40 đến 60 phần trăm.

Tật bệnh lan truyền sang con người do bị bọ chét cắn. Một khi vi khuẩn có mặt trong các dung dịch cơ thể, nó có thể dễ dàng lan truyền khắp đại đa số quần chúng .

Wu Jian, kỹ sư trưởng Bộ Kiểm Lâm nói “Năm nay chúng ta phải tăng cường phòng chống dịch bệnh khi dịch bệnh dường như đang lan truyền ra nhiều khu vực với sự hoạt động của tuyến đường hỏa xa Thanh Hải - Tây Tạng.

Ở Trung Quốc, nạn nhân thường bị vướng phải tật bệnh trong khi đi săn lùng Mạt Mótt.

Nhật Hành

Ngày: 01 tháng 04 năm 2006

Tri chúng: Giới Hương

Tri chúng điền khuyết: Anitya

Môn học: Luật Nghi Cư Sĩ

Bài học: "Mười đức lành của người Phật tử"


Giảng Sư Chính: ĐĐ Pháp Đăng

Giảng Sư Điền khuyết: TT Tuệ Siêu

Vị Tăng hoặc Ni nói lời cầu nguyện đầu lớp học: ĐĐ Minh Hạnh

Xướng ngôn viên: TC đk, SC Dieu Tinh, Nhi Do Mai, Hat Cat, Chanh Hanh, Khanh Van ( ĐK: Nhu Phuc, Sangkhaly, TieuLongNu )
http://baidocmc.blogspot.com & http://bandieuhanh.blogspot.com

Người mở room: Hạt Cát, Nhi Do Mai (đk)

Người mở nhạc và kinh tụng: Hạt Cát, Nhi Do Mai (đk)

Người hoán chuyển bài cho Room: Hat Cat - Nhu Phuc (đk)

Người post bài cho Room: Tinh Tan, NguonĐucHanh

Người post và gửi bài riêng cho chư Tăng: Hat Cat, NguonDucHanh , Nhu Phuc

Trực room (op): TC đk & Nhu Phuc, Nhi Do Mai, Tieu Long Nu.

Thông báo (nếu có): SC Diệu Tịnh: hôm nay bận không tham dự lớp học được.

NguonDucHanh: xin phép vắng mặt ngày 01 tháng 04.