Thứ Tư, 5 tháng 10, 2005
Ngày: 05 tháng 10 năm 2005
Tri chúng: Hat Cat
Tri chúngđiền khuyết:
Môn học: Lớp Lịch Sử Phật Giáo
Bài học:
Giảng sư chính: TT Giác Đẳng
Giảng sư điền khuyết:
Vị Tăng hoặc Ni nói lời cầu nguyện đầu lớp học: DD minh hanh
Xướng ngôn viên: Như Khanh, Nguonduchanh, anitya, Khánh Văn, Nhi Do Mai, Sangkhaly
http://baidocmc.blogspot.com/
Người mở room: Dieu Quang va mindvox
Người mở nhạc và kinh tụng: Diệu Quang ,Hạt Cát,
Người post bài cho Room: mindvox va Nguonduchanh
Người post và gửi bài riêng cho chư Tăng:
Trực room (op):
Thông báo (nếu có):
Giảng sư: Tỳ Kheo Giác Đẳng
Trên đường hoằng pháp - Hai vị Thượng thủ Thinh văn
Trích từ Tạng Luật - Bộ Đại Phẩm - bản dịch của Tỳ kheo Nguyệt Thiên
[64] Vào lúc bấy giờ, vị du sĩ Sañjaya cư trú tại thành Rājagaha cùng với tập thể du sĩ đông đảo gồm có hai trăm năm chục vị du sĩ. Vào lúc bấy giờ, Sārīputta và Moggallāna thực hành Phạm hạnh theo du sĩ Sañjaya. Họ đã giao ước với nhau rằng: “Người nào chứng đạt sự bất tử trước phải thông báo cho vị kia hay.”
Khi ấy vào buổi sáng, đại đức Assaji đã mặc y cầm y bát đi vào thành Rājagaha để khất thực. Vị ấy có phong cách chững chạc, mắt nhìn xuống, với vẻ chăm chú khi đi tới bước lui, lúc nhìn ngắm, khi cử động co duỗi. Du sĩ Sārīputta đã nhìn thấy đại đức Assaji có phong cách chững chạc, mắt nhìn xuống, với vẻ chăm chú khi đi tới bước lui, lúc nhìn ngắm, khi cử động co duỗi đang đi khất thực trong thành Rājagaha, sau khi nhìn thấy đã khởi ý điều này: “Đây chính là vị tỳ khưu trong số các vị thật sự là A-la-hán trên thế gian hoặc là đã đạt được con đường đưa đến quả vị A-la-hán. Hay là ta nên đến gần vị tỳ khưu này và hỏi rằng: ‘Thưa đại đức, đại đức đã được xuất gia có liên quan đến vị nào?’ hoặc là ‘Ai là thầy của đại đức?’ hoặc là ‘Đại đức giảng giải pháp của vị nào?’” Khi ấy, du sĩ Sārīputta đã khởi ý điều này: “Không phải lúc để hỏi vị tỳ khưu này, vị ấy đã đi vào xóm nhà và đang đi khất thực, hay là ta nên đi sát theo sau vị tỳ khưu này là vị có đạo lộ đang được tầm cầu bởi những kẻ mong mỏi sự lợi ích?”
Sau đó, khi đã đi khất thực ở trong thành Rājagaha xong đại đức Assaji đã cầm lấy đồ ăn khất thực đi trở về. Khi ấy, du sĩ Sārīputta đã đi đến gần đại đức Assaji, sau khi đến đã tỏ vẻ thân thiện với đại đức Assaji, sau khi trao đổi lời xã giao thân thiện rồi đã đứng ở một bên. Khi đã đứng ở một bên, du sĩ Sārīputta đã nói với đại đức Assaji điều này:
- Thưa đại đức, các giác quan của ngài thật thanh tịnh, màu sắc cơ thể thật trong sáng và thuần khiết. Thưa đại đức, đại đức đã được xuất gia có liên quan đến vị nào? Ai là thầy của đại đức? Đại đức giảng giải pháp của vị nào?
- Này đạo hữu, có vị đại sa-môn con trai dòng Sākya, từ dòng họ Sākya đã xuất gia. Ta đã được xuất gia có liên quan đến đức Thế Tôn ấy. Đức Thế Tôn ấy là đạo sư của ta và ta giảng giải Pháp của đức Thế Tôn ấy.
- Vị đạo sư của đại đức thuyết về điều gì? Giảng về điều gì?
- Này đạo hữu, ta là vị mới tu, được xuất gia chưa bao lâu, vừa mới đến với Pháp và Luật này, ta không thể thuyết giảng Giáo Pháp một cách chi tiết; tuy nhiên ta sẽ nói cho đạo hữu ý nghĩa một cách tóm tắt.
Khi ấy, du sĩ Sārīputta đã nói với đại đức Assaji điều này:
- Thưa đại đức, hãy là vậy đi.
Xin nói ít hoặc nhiều,
giảng ý nghĩa cho tôi.
Tôi chỉ cần ý nghĩa
nói nhiều từ làm chi?
[65] Khi ấy, đại đức Assaji đã nói với du sĩ Sārīputta lời dạy này thuộc về Giáo Pháp:
Pháp sanh lên do nhân
Như Lai giảng nhân ấy,
nhân diệt thời Pháp diệt
đại sa-môn nói vậy.
[66] Sau đó, khi đã nghe được lời dạy này thuộc về Giáo Pháp thì Pháp nhãn không nhiễm bụi trần, không vết nhơ đã sanh khởi đến du sĩ Sārīputta: “Điều gì có bản tánh được sanh lên, toàn bộ điều ấy đều có bản tánh hoại diệt.”
Chính đây là Giáo Pháp
nếu chỉ bấy nhiêu thôi
ngài cũng đã chỉ ra
con đường không sầu muộn
đã không được nhìn thấy,
đã không được nói ra
bởi muôn ngàn kiếp sống
(số lượng) nhiều vô số.
[67] Sau đó, du sĩ Sārīputta đã đi đến gặp du sĩ Moggallāna. Du sĩ Moggallāna đã nhìn thấy du sĩ Sārīputta từ đàng xa đang đi lại, sau khi nhìn thấy đã nói với du sĩ Sārīputta điều này:
- Này bạn, các giác quan của bạn thật thanh tịnh, màu sắc cơ thể thật trong sáng và thuần khiết. Này bạn, chắn hẳn là bạn đã chứng đạt sự bất tử?
- Này bạn, đúng vậy. Tôi đã chứng đạt sự bất tử.
- Này bạn, bạn đã chứng đạt sự bất tử bằng cách như thế nào?
- Này bạn, ở đây tôi đã nhìn thấy vị tỳ khưu Assaji có phong cách chững chạc, mắt nhìn xuống, với vẻ chăm chú khi đi tới bước lui, lúc nhìn ngắm, khi cử động co duỗi đang đi khất thực trong thành Rājagaha, sau khi nhìn thấy đã khởi ý điều này: “Đây chính là vị tỳ khưu trong số các vị thật sự là A-la-hán trên thế gian hoặc là đã đạt được con đường đưa đến quả vị A-la-hán. Hay là ta nên đến gần vị tỳ khưu này và hỏi rằng: ‘Thưa đại đức, đại đức đã được xuất gia có liên quan đến vị nào?’ hoặc là ‘Ai là thầy của đại đức?’ hoặc là ‘Đại đức giảng giải pháp của vị nào?’” Này bạn, khi ấy tôi đây đã khởi ý điều này: “Không phải lúc để hỏi vị tỳ khưu này, vị ấy đã đi vào xóm nhà và đang đi khất thực, hay là ta nên đi sát theo sau vị tỳ khưu này là vị có đạo lộ đang được tầm cầu bởi những kẻ mong mỏi sự lợi ích?” Này bạn, sau khi đi khất thực ở trong thành Rājagaha xong, vị tỳ khưu Assaji đã cầm lấy đồ ăn khất thực đi trở về. Này bạn, khi ấy tôi đã đi đến gần vị tỳ khưu Assaji, sau khi đến đã tỏ vẻ thân thiện với vị tỳ khưu Assaji, sau khi trao đổi lời xã giao thân thiện rồi đã đứng ở một bên. Này bạn, khi đã đứng một bên tôi đã nói với vị tỳ khưu Assaji điều này: “Thưa đại đức, các giác quan của ngài thật thanh tịnh, màu sắc cơ thể thật trong sáng và thuần khiết. Thưa đại đức, đại đức đã được xuất gia có liên quan đến vị nào? Ai là thầy của đại đức? Đại đức giảng giải pháp của vị nào?” “Này đạo hữu, có vị đại sa-môn con trai dòng Sākya, từ dòng họ Sākya đã xuất gia. Ta đã được xuất gia có liên quan đến đức Thế Tôn ấy. Đức Thế Tôn ấy là đạo sư của ta và ta giảng giải Pháp của đức Thế Tôn ấy.” “Vị đạo sư của đại đức thuyết về điều gì? Giảng về điều gì?” “Này đạo hữu, ta là vị mới tu, được xuất gia chưa bao lâu, vừa mới đến với Pháp và Luật này, ta không thể thuyết giảng Giáo Pháp một cách chi tiết; tuy nhiên ta sẽ nói cho đạo hữu ý nghĩa một cách tóm tắt.” Này bạn, khi ấy tôi đã nói với đại đức Assaji điều này: “Thưa đại đức, hãy là vậy đi.
Xin nói ít hoặc nhiều,
giảng ý nghĩa cho tôi.
Tôi chỉ cần ý nghĩa
nói nhiều từ làm chi?”
[68] Này bạn, khi ấy vị tỳ khưu Assaji đã nói với tôi lời dạy này thuộc về Giáo Pháp:
“Pháp sanh lên do nhân
Như Lai giảng nhân ấy,
nhân diệt thời Pháp diệt
đại sa-môn nói vậy.”
[69] Sau đó, khi đã nghe được lời dạy này thuộc về Giáo Pháp thì Pháp nhãn không nhiễm bụi trần, không vết nhơ đã sanh khởi đến du sĩ Moggallāna: “Điều gì có bản tánh được sanh lên, toàn bộ điều ấy đều có bản tánh hoại diệt.”
Chính đây là Giáo Pháp
nếu chỉ bấy nhiêu thôi
bạn cũng đã chỉ ra
con đường không sầu muộn
đã không được nhìn thấy,
đã không được nói ra
bởi muôn ngàn kiếp sống
(số lượng) nhiều vô số.
[70] Sau đó, du sĩ Moggallāna đã nói với du sĩ Sārīputta điều này:
- Này bạn, chúng ta hãy đi đến với đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn ấy là bậc Đạo Sư của chúng ta.
- Này bạn, hai trăm năm mươi du sĩ này sống ở đây đang nương tựa vào chúng ta và biết rõ chúng ta, chúng ta hãy thông báo đến các vị ấy và các vị ấy sẽ làm theo như điều các vị suy nghĩ.
Sau đó, Sārīputta và Moggallāna đã đi đến gặp các vị du sĩ ấy, sau khi đến đã nói với các vị du sĩ ấy điều này:
- Này các đạo hữu, chúng tôi đi đến với đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn ấy là bậc Đạo Sư của chúng tôi.
- Này các đại đức, chúng tôi sống ở đây nương tựa vào các đại đức và biết rõ các đại đức, nếu các đại đức sẽ thực hành Phạm hạnh theo vị đại sa-môn hết thảy tất cả chúng tôi sẽ thực hành Phạm hạnh theo vị đại sa-môn.
Sau đó, Sārīputta và Moggallāna đã đi đến gặp du sĩ Sañjaya, sau khi đến đã nói với du sĩ Sañjaya điều này:
- Này đại đức, chúng tôi đi đến với đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn ấy là bậc Đạo Sư của chúng tôi.
- Này các đại đức, thôi đủ rồi. Chớ có đi. Chính tất cả ba chúng ta sẽ quản trị nhóm người này.
Đến lần thứ nhì, ...(như trên)...
Đến lần thứ ba, Sārīputta và Moggallāna đã nói với du sĩ Sañjaya điều này:
- Này đại đức, chúng tôi đi đến với đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn ấy là bậc Đạo Sư của chúng tôi.
- Này các đại đức, thôi đủ rồi. Chớ có đi. Chính tất cả ba chúng ta sẽ quản trị nhóm người này.
Sau đó, Sārīputta và Moggallāna đã đưa hai trăm năm mươi du sĩ ấy đi đến Veḷuvana. Về phần du sĩ Sañjaya, ngay tại chỗ ấy máu nóng đã ứa ra từ miệng.
[71] Khi ấy, đức Thế Tôn đã nhìn thấy Sārīputta và Moggallāna từ đàng xa đang đi lại, sau khi nhìn thấy đã bảo các tỳ khưu rằng:
- Này các tỳ khưu, hai người bạn là Kolita và Upatissa này đang đi đến. Hai người này sẽ trở thành một cặp đệ tử của ta và là một cặp (đệ tử) xuất sắc, đứng đầu.
Họ đã được giải thoát,
đã cạn nguồn tái sanh,
là những vị hàng đầu
về trí tuệ thâm sâu,
dẫu chưa vào Trúc Lâm
bậc Đạo Sư đã nói:
“Đây hai người bạn hữu
(tên là) Kolita
và Upatissa,
đang đi đến (nơi đây),
đệ tử ta cặp này
sẽ trở thành một cặp
xuất sắc, đứng hàng đầu.
[72] Sau đó, Sārīputta và Moggallāna đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã quỳ xuống đê đầu đảnh lễ ở hai bàn chân của đức Thế Tôn và đã nói với đức Thế Tôn điều này:
- Bạch ngài, chúng con có thể xuất gia trong sự hiện diện của đức Thế Tôn không? Chúng con có thể tu lên bậc trên không?
Đức Thế Tôn đã nói rằng:
- Này các tỳ khưu, hãy đến. Pháp đã được khéo thuyết giảng, hãy thực hành Phạm hạnh một cách đúng đắn để chấm dứt khổ đau.
Chính điều ấy đã là sự tu lên bậc trên của các đại đức ấy.
Thảo Luận
1. Thế nào là vai trò cùa nhị vị thượng thủ thinh văn?
2. Tại sao những vị xuất gia trước không được chì định vai trò thượng thủ?
3. Vai trò truyền thừa giáo pháp của Ngài Xá Lợi Phất khác biệt gì với Ngài Ca Diếp trong lịch sử Phật giáo?
TIN TỨC
No. 0552 NEW ( Hạt Cát dịch)
Ngôi chùa dành riêng cho loài cọp.
Bản tin đăng tải trên trang Web The Buddhist Channel ngày 03 tháng 10, 2005
Kanchanaburi, Thailand -Mười tu sĩ chăm sóc cho 10 chú cọp ở một ngôi chùa biệt lập tại Kanchanaburi, phía tây Thái Lan, nó đã là một khung cảnh hùng tráng trong chương trình Hành Tinh Ðộng Vật hồi tháng Chín năm ngóai.
Nhưng khi giám đốc Andrew Barron của ngôi chùa dành cho cọp, gọi tóm tắt là Chùa Cọp trở lại viếng thăm vào hồi tháng năm, ông thấy có quá nhiều thay đổi. Ngôi chùa hiện nay chỉ còn có một vị trụ trì và hai sa di một 8 tuổi và một bốn tuổi chăm sóc cho 11 con cọp và 5 cọp con. Một con cọp trung bình nặng 180 kg và cọp con vóc dáng cỡ bằng con lừa.
Sa di Ponchai 8 tuổi lo việc tắm rửa cho đám cọp con.
Nhưng vì sao chư Tăng bỏ đi?
“Tính chất của tu sĩ là họ ở một ngôi chùa cho đến một buổi sáng nào đó thức dậy họ quyết định đi đến một ngôi chùa khác”
Ông Barron nói “Tu sĩ sống một cuộc đời không dính mắc, họ đến và đi”.
Sư trụ trì Achan Bhusit Chan Khantitharo từ lâu không còn trông cậy vào chư Tăng chăm nom cho lũ cọp nữa. Sư đã thuê 15 dân làng đến trông coi lũ cọp này.
Nhưng vì lý do nào mà bầy cọp lại ở trong một ngôi chùa?
Khoảng 10 năm trước, một vài người dân địa phương mang hai cọp con đến tu viện, hy vọng chư tăng sẽ săn sóc cho chúng. Hình như một vài thợ săn đã giết cọp mẹ và định đầu độc cọp con. Trải qua nhiều năm, nhiều cọp con khác được mang tới thêm.
Hiện nay thì nhân viên trong đồng phục màu xanh chăm sóc cho bầy cọp. Họ được huấn luyện bởi Bác Sĩ thú y tình nguyện Somchai Visasmongkolchai.
Sư trụ trì đã mời nhóm Thú Y Sĩ từ Ðại Học Chulalongkorn đến phụ trách khám tổng quát cho bầy cọp.
Một năm về trước, Sư trụ trì dự định phát triển một dự án Quần Ðảo Hổ với một thành hào sâu vây quanh khu bảo toàn dành riêng cho loài cọp rộng 8.1 hectare cho chúng có nơi rong chơi và sinh sản tự do. Không may là dự án phải chấm dứt vì phí tổn quá cao cho việc nổ tung núi đá.
Vì vậy Sư trụ trì gặp khủng hoảng về chuồng cho hổ với 4 hổ con được sinh ra mỗi năm. Một nhà thương mại địa phương tình nguyện gánh vác vai trò quản lý dự án để giải quyết khủng hoảng.
Ông Barron nói rằng Sư trụ trì đã được mời tham gia vào nhóm quốc tế nghiên cứu loài cọp.
Ông nói “Nó trở thành mối quan tâm của toàn cầu”.
Mục tiêu dài hạn của Sư trụ trì là nghiên cứu thói sống của loài cọp để được sinh tồn trong hoang dã.
Loài cọp không bao giờ thành công với việc được thả trở lại đời sống hoang dã, nhưng Sư trụ trì hy vọng rằng với sự tham gia của quốc tế, ông sẽ thành công.
Khoảng bốn ngàn dân địa phương và du khách quốc tế thăm viếng tu viện Chùa Cọp mỗi tháng. Họ cống hiến cho Dự Án Ðảo Hổ với tốn kém dự trù là 20 triệu baht, cho đến tháng 8, 2005, Quỹ Dự Án Ðảo Hổ vẫn còn thiếu 15.3 triệu baht.
_____________________________________________________________
No. 0543 NEW(Nhị Ðộ Mai dịch)
Nếu lời khẩn cầu có thể dập tắt ngọn lửa giếng dầu tại Assam ....
By Syed Zarir Hussain, Guwahati:
Bản tin đăng trên trang Web IANS, Ấn Ðộ ngày 28 tháng 09, 2005.
Nhân viên cứu hỏa đang tìm cách dập tắt ngọn lửa cháy lớn đã cháy 2 tuần qua tại giếng dầu hỏa Assam, họ cũng cầu nguyện cho ngọn lửa sớm được dập tắt .
Một viên chức của hãng dầu hỏa chính phủ (Oil India Limited) nói rằng số đông nhân viên làm việc vào ngày chiều Thứ Ba đã tham gia vào một nhóm tu sĩ tổ chức buổi lễ cầu nguyện tại khu vực giếng dầu bị cháy ở Dikom, 520 cây số thuộc về phía đông Assam là trung tâm chính của Guwahati, miền Bắc Ấn Độ.
Từ Dikom, một viên chức OIL yêu cầu dấu tên đã nói trên đường dây điện thoại rằng “ Một nhóm tu sĩ tại địa phương cũng đến với thiện chí của họ và cũng đã cầu khẩn cho ngọn lửa sẽ mau được dập tắt. Nhiều công nhân viên chức có mặt ở đó cũng tham gia cầu nguyện”.
Bhikkhu Sumedhanada của tu viện điạ phương thuộc phía đông Assam đã chủ xướng buổi cầu nguyện kéo daì 30 phút.
Sư Sumedhana đã nói qua điện thoại rằng: “Chúng tôi rất quan tâm về ngọn lửa cháy từ giếng dầu và do đó chúng tôi quyết định tổ chức buổi lễ cầu nguyện để ngọn lửa mau sớm được dập tắt.
Giếng dầu đã bị hủy hoại vào ngày 13 tháng 9, nguyên nhân từ dầu và khí đốt thóat ra từ vị trí cánh đồng trà cuả tỉnh Assam. Khí đốt đã đốt cháy 2 ngày sau. Nguyên nhân của dầu lan ra chưa tìm hiểu chắc chắn trong khi ngăn chăn cường độ nóng từ ngọn lửa đến gần những công nhân viên chức.
Bốn thành viên của nhóm chuyên gia US từ hiệp hội quốc tế dầu hỏa Tesax –based Boots va Coots đến hoạt động giám sát
Gần như 90% dụng cụ và máy móc được yêu cầu bởi những chuyên viên chuyên môn
để bắt đầu hoạt động đẩy lui ngọn lửa và nắp đậy lại mỏ dầu có thể một trong 2 ngày tới sẽ bắt đầu công việc, Ông P.K Deva Choudhury đã nói trên đường dây điện thoại với IANS từ tổng hành dinh của hãng dầu này tại Duliajan thuộc miền đông Assam
Cơ quan chính phủ có trách nhiệm về dầu hỏa đã từng thử dập tắt những ngọn lửa nhưng thất bại và đã mời những nhà chuyên môn từ Boots và Coots, những người đã đến vào ngày 16 tháng 9. Ðội chuyên gia US có kế hoạch xịt nước và cát với cường độ rất mạnh nhằm đẩy lui ngọn lửa và sau đó bắt đầu mở lối cho những giọt dầu bị chảy .
Giếng dầu nổ đã bắt buộc nhà chức trách phải ra lệnh đóng cửa công trường tại Dikom, nơi 30 giếng dầu sản xuất khỏang 1,200 kilolitres (6,000 thùng) nguyên chất mỗi ngày.
Theo ước lượng, OiL đã bị tổn thất sản xuất 84,000 thùng dầu nguyên chất từ ngày 13 tháng 9
Mỗi năm Ấn Độ sản xuất khỏang 30 triệu tấn dầu thô, kết tính cho 5 triệu tấn dầu cho tỉnh Assam
Thứ Ba, 4 tháng 10, 2005
Ngày: 04 tháng 10 năm 2005
Tri chúng: Duong Tieu
Tri chúngđiền khuyết:
Môn học: Lớp Phật Học Cơ Bản
Bài học:
Giảng sư chính: sc Lieu Phap
Giảng sư điền khuyết: TT Giác Đẳng
Vị Tăng hoặc Ni nói lời cầu nguyện đầu lớp học: DD minh hanh
Xướng ngôn viên: Nguồn Đức Hạnh,Sangkhaly , anitya, Khanh Van, Nhi Do Mai, Hat Cat
http://baidocmc.blogspot.com/
Người mở room: Dieu Quang va mindvox
Người mở nhạc và kinh tụng: Diệu Quang ,Anitya va mindvox
Người post bài cho Room: Nhu Phuc va mindvox
Người post và gửi bài riêng cho chư Tăng: Nhu Phuc va mindvox
Trực room (op):
Thông báo (nếu có):
Chương IV: The Mind / Tâm
4.6. Liberated mind: Tâm giải thoát
Giảng Sư: Sư cô Liễu Pháp
Ạ Why Mindfulness? Vì sao cần phải chánh niệm?
Dẫn Nhập:
Niệm là pháp chủ thể trong Tứ Niệm Xứ, là một chi trong Ngũ Căn (Niệm Căn - Satindriya), là một chi trong Ngũ Lực (Niệm Lực - Satipala), là một chi trong Thất Giác Chi (Niệm Giác Chi - Satisambojjhanga), và cuối cùng là một chi trong Bát Chánh Đạo (Chánh Niệm - Sammasati). Sati hay Niệm ở đây phải được hiểu là trạng thái soi rọi của Tâm.
Niệm là điều cần thiết, không thể không có. Trong bất luận công việc gì ta làm đều cần phải có niệm, nếu không, không thể hoàn tất một cách tốt đẹp. Nhưng loại niệm (sati) mà ta thảo luận ở đây là chánh niệm (sammà-sati, chú niệm chân chánh) tức loại niệm (sati) thấm sâu vào các chân lý vô thường, khổ, vô ngã (anicca, dukkha, anattrà). Chính loại sati, niệm, có tánh cách đạo đức, thiện, này làm cho người hành thiền tránh xa những hành động bất thiện (akusala). Nếu muốn có cuộc sống đạo đức, thiện, thì loại niệm này là tối cần thiết.
Chánh kinh, bản tiếng Anh
"Mindfulness, O monks, I declare,
is essential in all things everywhere.
It is as salt to curry,
Mindfulness, verily, brings great profit." -ẠI:3
Chánh kinh, bản tiếng Việt:
"Này các tỷ kheo, ta nói chánh niệm là cần thiết trong tất cả các pháp ở khắp nơi. Nó cần thiết như muối đối với canh. Chánh niệm mang lai. lợi ích rất to lớn."
Thảo luận:
1. Sự tỉnh thức ghi nhận trong đời sống hàng ngày có thể gọi là chánh niệm
không? Nó khác gì với chánh niệm trong lúc hành thiền?
2. Vì sao một pháp chánh niệm lại xuất hiện trong nhiều phần của 37 phẩm trợ đạo? Mỗi sự xuất hiện như vậy có ý nghĩa khác nhau chăng?
3. Làm thế nào để thực tập và phát triển Chánh niệm?
TIN TỨC
No. 0551 NEW(Hạt Cát dịch)
Hàng ngàn người sẽ quy y Tam Bảo tại Deeksha Bhoomi, Ấn Ðộ vào ngày 12 tháng 10, 2005
New Kerala, Oct 3, 2005
Nagpur, India -- Trên 12,000 tín đồ theo gót của Bác sĩ Ambedkar từ khắp nơi trên đất Ấn và từ ngoại quốc dự trù sẽ tụ họp tại Deeksha Bhoomi này, nơi mà hằng trăm ngàn người Dalit tức giai cấp Thủ Ðà La quay về nương tựa Phật Pháp Tăng vào năm 1956, để kỷ niệm lần thứ 49 “Ngày Chuyển Pháp Luân – Dhammachakra Parivartan Din” vào ngày 12 tháng 10 năm nay.
Với bài diễn văn trong buổi họp báo tối chủ nhật 02 tháng 10, 2005, Chủ tịch hội Deeksha Bhoomi Smarak Samiti, thành viên của Thượng Viện Ấn Ðộ, Ông RS Gavai nói rằng mặc dù ngày lễ hội “Chuyển Pháp Luân”được tổ chức hằng năm và có khoảng từ năm đến sáu trăm ngàn người tụ tập vào ngày Vijaya Dashmi tại Bhoomi, sự kiện năm nay càng trở nên đầy đủ ý nghĩa hơn.
Ông Gavai nói “ Với lễ hội kỷ niệm “Ngày Chuyển Pháp Luân” bước vào năm thứ 50 hoàng kim của nó, con số người tham gia được dự trù là sẽ tăng gấp đôi.
Ông Gavai nói thêm rằng kỷ niệm lần thứ 49 “Ngày Chuyển Pháp Luân” này sẽ bắt đầu bằng một chương trình của Deeksha với hàng ngàn người sẽ quay về nương tựa nơi Tam Bảo dưới sự hướng dẫn của Bhante Nagarjun Surai Sasai, vị tu sĩ gốc Nhật.
Lễ kỷ niệm hoàng kim sẽ bắt đầu với một vở kịch có tựa đề Mahasurya với tình tiết dựa trên cuộc đời của Bác Sĩ Ambedkar vào ngày 13 tháng 10. Nhiều chương trình xã hội và văn hóa đa dạng từ thôn quê đến thành thị trong toàn quốc sẽ được tổ chức trong suốt năm như là một phần của lễ kỷ niệm.
Với dự trù một hội chúng lớn lao tại Deesha Bhoomi, Ông Gavai nói nhà chức trách địa phương, kể cả Hội Ðồng Thành Phố và cảnh sát được kết hợp để cung cấp các trang bị cho nhu cầu và an ninh của công chúng.
Một số quan khách quan trọng thuộc hàng Tổng, Bộ Trưởng như Suresh Pachaury, Dilip Walse- Patil v.v..sẽ tham dự buổi lễ hội ngày 12 tháng 10 này.
_________________________________________________________
No. 0545 NEW(Hạt Cát dịch)
Phim tài liệu trình bày nghệ thuật của thế giới cổ xưa: “Di Sản Nghệ thuật Phật Giáo Tích Lan”
Date : 2005-09-22
Winnipeg, Canada, 22 tháng 09, 2005, (Asiantribune.com): Phim tài liệu trình bày một lãnh vực thu hút của văn hóa Tích Lan với chủ đề “Nghệ Thuật Của Thế Giới Cổ Xưa :Di Sản Họa Phẩm Phật Giáo tại Tích Lan” sẽ được tổ chức ở Trung Tâm Nghệ Thuật St Norbert vào ngày 14 và 15 tháng Mười, 2005 như là một phần trong Hội Nghị “ Trường Phái Tôn Giáo Thế Giới” được dự định tổ chức tại Hội Trường Giáo Dục của Ðại Học Manitoba.
Ðây là một chương trình trình chiếu kết hợp bởi (1)TrungTâm Nghệ Thuật St Norbert thuộc thành phố Winnipeg, Canada, (2) Tu Viện Phật Giáo Manitoba và Hiệp Hội Văn Hóa, (3) Cơ Quan Triển Lãm Phục Vụ Du Lịch Brampton, Ontario.
Cuốn phim trình bày một lãnh vực thú vị của văn hóa tầm nhìn của Tích Lan. Nỗ lực này nhằm cung cấp một cơ hội thưởng thức một cảm hứng về thẩm mỹ, nghệ thuật và tâm linh xuyên qua nghệ thuật Phật Giáo. Những họa phẩm này thuộc về số họa phẩm cao quý và ý nghĩa nhất của nhân loại.
Cuốn phim được thiết kế và sản xuất bởi Daya Hewapathirane, và cũng do chính ông cùng cô con gái Apsara Hewapathirane tường thuật.
Căn cứ theo ông Daya Hewapathirane, cuốn phim dựa trên một chọn lọc trên số họa phẩm tinh tế thuộc về một giai đoạn 2,200 năm kể từ thế kỷ thứ ba trước Tây Lịch cho đến thế kỷ này. Nó được thiết kế dưới hình thức như đi hành hương bằng thị giác đến nhiều khu di tích Phật Giáo ở Tích Lan, kể cả các Khu Vực Di Sản Thế Giới.
Các họa phẩm này được tìm thấy trong các hang động cổ xưa và trên đá, trên tường, trần nhà, cửa, gỗ, hình tượng và trên điêu khắc, đồ gốm, đồ đất nung và trên vải vóc. Những họa phẩm cổ kính nhất được tìm thấy trong hình thức rời rạc từng mảnh nhỏ. Giữa những họa phẩm xưa cổ nhất là những tác phẩm khắc trên đá trong hang động, trên tường của điện thờ bên trong các ngôi tháp. Những chủ đề vượt trội mà nghệ thuật cổ xưa theo đuổi bao gồm cả các họa phẩm miêu tả cuộc đời Ðức Phật, “Truyện Bổn Sanh” dựa trên những kiếp quá khứ của Ðức Phật và giáo huấn của Ðức Phật.
Mục tiêu của lọat phim này nhằm phát huy nhận thức về sự phong phú của di sản văn hóa thị giác của Tích Lan. Nó dự trù tạo điều kiện cho sự gặp gỡ thân ái tương tác giữa những cộng đồng khác nhau và sẽ là một phương pháp khuyến khích đối thoại giao lưu văn hóa. Nó đã trở thành một nơi tụ hội cho những cộng đồng quốc tế đa dạng Canada khi được trình chiếu lần đầu tiên tại Ðại Học Toronto hồi tháng Sáu, 2005 và sau đó tại Thính Ðường của Khố Quốc Canada ở Ottawa.
Nó đưa đến sự hình thành đối thoại giao lưu văn hóa, tán dương cả hai lãnh vực nhất thể và đa nguyên. Ðây là một cơ hội, nơi mà người ta có thể nhìn thấy, tán thán và học hỏi và là nơi mà người ta có thể được kích thích với cảm giác phấn khởi, hãnh diện. Nó có thể khơi gợi cho người ta một kết quả về sự nhận định thẩm mỹ trong môi trường văn hóa sâu sắc bao la hơn.
Trình độ kỹ thuật và kiểu mẫu minh chứng trong tuyệt tác mỹ thuật của Di Sản Thế Giới của Tích Lan sẽ là nguồn cảm hứng đặc biệt đối với những người say mê nghệ thuật và họa sĩ sáng tạo đương thời.
Ông Daya Hewapathirane, Tổng Giám Ðốc Cơ Quan Triển Lãm Phục Vụ Du Lịch nói rằng lợi nhuận thu được trong chương trình này sẽ dành cho trẻ em nạn nhân Tsunami tại Tích Lan.
Thứ Hai, 3 tháng 10, 2005
Ngày: 03 tháng 10 năm 2005
Tri chúng: Nhu Phuc
Tri chúngđiền khuyết:
Môn học: Kinh Văn Nghi Thức Tụng Niệm
Bài học: Uy Lực Của Chân Ngôn
Giảng sư chính: Sư Pháp Đăng
Giảng sư điền khuyết: TT Giác Đẳng
Vị Tăng hoặc Ni nói lời cầu nguyện đầu lớp học: DD minh hanh
Xướng ngôn viên: Nguồn Đức Hạnh, Hạt Cát, Khanh Van, Nhi Do Mai, Sangkhaly
http://baidocmc.blogspot.com/
Người mở room: Dieu Quang va mindvox
Người mở nhạc và kinh tụng: Diệu Quang ,Hạt Cát,mindvox
Người post bài cho Room: mindvox
Người post và gửi bài riêng cho chư Tăng: mindvox
Trực room (op):
Thông báo (nếu có):
Giảng sư: ĐĐ Pháp Đăng
Uy Lực Của Chân Ngôn
1.1 Chân ngôn ở đây, nói cho đủ là chân thật ngôn, là lời nói phát xuất từ tâm tư chân thành. Mặc dù theo thời gian và sự phát triển của Mật Tông thì chân ngôn có nghĩa hoàn toàn khác hơn, được dùng chỉ cho linh chú. Kinh Bổn Sanh (Jataka) và nhiều bản kinh trong Tam Tạng Pali ghi lại những trường hợp những người nhờ lời nói chân thật mà thành tựu được năng lực nhiệm mầu.
1.2 Chân ngôn phát xuất từ sự thành tâm. Trong các bản kinh Phạm ngữ có những câu: Etena saccena suvatthi hotu hay Etena saccavacena hotu me jayamangalam ( Do lời chân thành nầy xin cát tường phát sanh) là những thí dụ về người đem trọn tâm tư xưng tán Tam Bảo và phát nguyện bằng lòng thành.
1.3 Cũng có những trường hợp lời chân thật nói lên sự thật về bản thân mình. Trong trường hợp ngài Vô Não trước kia là một kẻ cuồng sát sau nầy trở thành bậc giải thoát khi đi khất thực gặp trường hợp một sản phụ lâm bồn gặp nguy hiểm đến tánh mạng. Khi trở về trình thưa lại với Đức Phật, bậc đạo sư dạy ngài Vô Não trở lai nơi sản phụ ngồi cách một bức màn nói lên lời nầy: Từ khi tôi sanh trong gia đình của bậc thánh chưa hề là tổn hại sinh mạng của bất cứ chúng sanh nào; do chân thật ngôn nầy xin cho chị và cháu được bình an. Nhiệm mầu thay người phụ nữ ấy được vô sự. Chân ngôn của Ngài Vô Não vẫn còn được lưu truyền và tụng đọc cho đến ngày nay.
1.4 Các kinh văn tụng niệm hầu hết là Phật ngôn dạy về thực tánh của vạn hữu như vậy là chân ngôn. Điều quan trọng là người tụng đọc phải thật sự thể nhập được với nghĩa lý thâm sâu. Chính vì vậy tại các quốc gia Phật giáo người ta thường thỉnh chư tăng tụng kinh cầu an vì những bản kinh nầy được thông hiểu nghĩa lý bởi các vị xuất gia. Điều nầy có một chút trái ngược với Phật giáo Mật Tông với quan niệm là chân ngôn hay thần chú là mật ngữ không thể có nghĩa lý được hiểu bởi phàm nhân.
Thảo Luận
1. Sự tụng đọc chân ngôn ở đây có giống với cách gia trì thần chú (mantra) không?
2. Những sự thât về bản thân có tốt có xấu. Phải chăng cả tốt lẫn xấu đều có thể dùng là năng lực phát nguyện?
3. Lòng thành có đồng nghĩa với đức tin không?
Đố vui :Được đưa ra từ một câu chuyện kể trong room
TIN TỨC
No. 0547 NEW(Hạt Cát dịch)
Liên Hiệp Quốc hối thúc Trung Quốc cho phép viếng thăm cậu bé Ban Thiền Lạt Ma
GENEVA, 30 tháng 09, 2005 nguồn tin từ hãng thông Tấn Reuters - Liên Hiệp Quốc hôm thứ Sáu 30 tháng 09, 2005 đã kêu gọi Trung Quốc cho phép chuyên gia viếng thăm và xác nhận tình trạng “sức khỏe tốt” của Gedhun Choekyi Nyima, cậu bé mà Ðức Ðạt Lai Lạt Ma đã nhìn nhận là Ban Thiền Lạt Ma thứ 11 của truyền thống Phật Giáo Tây Tạng.
Người ta tin tưởng rằng cậu bé Gedhun Choekyi Nyima đang bị giam giữ trong khi chính quyền Trung Quốc nhìn nhận Gyaltsen Norbu là Ban Thiền Lạt Ma thứ 11, hậu thân của Ban Thiền Lạt Ma thứ 10, địa vị quan trọng thứ nhì trong Phật Giáo Tây Tạng.
Ủy Ban Thiếu Niên Quyền của Liên Hiệp Quốc cũng kêu gọi Trung Quốc thu hồi lệnh cấm thiếu niên trên việc nghiên cứu các tôn giáo thiểu số của họ như Phật Giáo Tây Tạng, Hồi Giáo Hồi Hột v.v...
Ðại biểu của Trung Quốc báo cáo với Liên Hiệp Quốc rằng cậu bé Gedhun Chorekyi Nyima và gia đình của cậu ta không muốn bị phiền toái bởi quan khách ngoại quốc viếng thăm.
Ủy Ban Quyền Thiếu Niên nhấn mạnh rằng đã được cung cấp thông tin về cậu bé Choekyi Nyima, nhưng họ vẫn còn quan tâm rằng thông tin này chưa được xác nhận bởi các nhà chuyên môn độc lập.
Ủy Ban đã kêu gọi Bắc Kinh “cho phép một nhà chuyên môn độc lập viếng thăm và xác nhận tình trạng sức khỏe tốt của cậu bé Gedhun Choekyi Nyima trong lúc vẫn tôn trọng quyền riêng tư của cậu và gia đình”.
Hội Ðồng Liên Hiệp Quốc đã quy tụ 18 nhà chuyên môn độc lập, đã công bố bản kết luận sau khi chấm dứt ba tuần hội nghị được tổ chức để kiểm tra hồ sơ của tám quốc gia trong đó có Trung Quốc.
Hội đồng giám sát chấp thuận bởi 192 quốc gia đã ký kết thỏa hiệp “ Quyền Thiếu Niên” của Liên Hiệp Quốc năm 1991, một “Bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền bảo đảm tự do căn bản.
Hội đồng Liên Hiệp Quốc cũng thúc giục Trung Quốc điều tra việc mua bán trẻ em, mãi dâm, văn hóa phẩm khiêu dâm và đăng ký khai sanh tất cả bé gái giữa mối quan tâm rằng tất cả trẻ em đã không được đăng ký một cách có hệ thống bởi vì chính sách kế hoạch hóa gia đình một cách chính thức của chính phủ Trung Quốc.
Trung Quốc đã thực thi “chính sách một con” một cách gắt gao tại thành phố, nơi mà gia đình nào có hơn một con sẽ bị phạt vạ nặng nề. Dân chúng thôn quê và người dân tộc thiểu số thì được phép có nhiều nhất là hai con.
Ðại biểu Trung Quốc đã thừa nhận có một sự mất quân bình phái tính trong tỷ lệ sinh sản nhưng họ nói rằng đó là vì niềm tin truyền thống của dân chúng thôn quê là ưa thích con trai hơn.
_____________________________________________________________
No. 0516 NEW(Hạt Cát dịch)
Tu sĩ Phật Giáo biến đổi niềm tin với chủ nghĩa tư bản
Bản tin đăng trên trang web Tân Hoa Net ngày 07 tháng 09, 2005
Shanghai, China- Trong giáo lý nhà Phật, làm ra tiền không phải là con đường đưa đến niết bàn, nhưng trên đà gia tăng trong vấn đề phá bỏ giới luật ở Trung Hoa, có lẽ nó sẽ là một sự biến đổi trong niềm tin. Ðây là một điều đáng buồn.
18 tu sĩ tại Thượng Hải đã ghi danh khóa học quản trị kinh doanh với hy vọng họ sẽ điều hành ngôi chùa của họ tốt hơn, phóng viên thông tấn Tân Hoa Xã đã báo cáo như trên.
“Xuyên qua chương trình này, chúng tôi muốn học hỏi xem thế giới thế tục được điều hành như thế nào”. Tân Hoa xã đã trích dẫn lời của Chang Chun, một tu sĩ Thiền Tông và là tổng quản lý của ngôi chùa chùa 100 năm tuổi Bích Ngọc của thành phố.
Ðại Học Giao Thông Trượng Hải vừa phát khởi một khóa học nửa năm về Quản Trị Kinh Doanh dành cho tu sĩ điều hành các ngôi chùa Phật Giáo.
Khóa học cống hiến các môn kinh tế căn bản và kế toán cũng như điều hành tự viện và triết học và thị trường sản phẩm tôn giáo.
Khóa học cũng đòi hỏi kiến thức đọc sách kể cả chiến lược thương lượng trong kinh doanh từ nhà binh pháp nổi tiếng Tôn Tử “Tôn Tử Binh Pháp”, quyển sách tiêu biểu trong hầu hết các lớp Quản Trị Kinh Doanh trên thế giới ngày nay.
Trung Quốc với khuynh hướng xa rời lý tưởng cộng sản và hướng về hình thức kinh tế thị trường, các nghiệp vụ thương mại về những nơi chốn thiêng liêng hoặc di tích tôn giáo đã trở thành hiện tượng phổ thông.
Một ví dụ hiển nhiên là ngôi chùa Thiếu Lâm 1,500 tuổi tại trung bộ tỉnh Hà Nam, nơi tràn ngập du khách, tu sĩ của tu viện và hành giả chỉ còn lại vài nơi yên tĩnh để thiền quán hoặc để luyện tập võ nghệ. AFP
Chủ Nhật, 2 tháng 10, 2005
Ngày: 02 Tháng 10 năm 2005
Tri chúng: Diệu Quang
Tri chúng điền khuyết: Khanh Van
Môn học: Lớp Pháp Số Trích Giảng
Bài học: Kinh hai pháp "Tôn Chỉ Giáo Pháp" (It.33)
Giảng sư chính: TT Tue Sieu
Giảng sư điền khuyết: TT Giac Dang
Vị Tăng hoặc Ni nói lời cầu nguyện đầu lớp học: DD Minh Hanh
Xướng ngôn viên: Nguonduchanh, Hạt Cát, Minh Lạc ,Gioi Huong , Nhi Do Mai
Xướng ngôn viên và điền khuyết cho bài học:Phần 1: ..., đk:...// Hoi Hướng: Dieu Quang, đk: Khanh Van http://baidocmc.blogspot.com/
Xướng ngôn viên cho phần Đố Vui:
Xướng ngôn viên và điền khuyết cho Bản Tin:
Người mở room: Hạt Cát,
Người mở nhạc và kinh tụng: Hạt Cát,
Người post bài cho Room: Hạt Cát
Người post bài riêng cho chư Tăng: Hạt Cát
Trực room (op): Hạt Cát
Kinh hai pháp "Tôn Chỉ Giáo Lý" (It.33)
Ðiều này đã được Ðức Thế Tôn bậc Alahán nói đến :
Sự thuyết pháp của Như Lai Alahán Chánh Ðẳng Giác có hai tôn chỉ, Thế nào là hai ? "Hãy thấy rõ điều ác là ác", đó là tôn chỉ thứ nhất; "Hãy nhàm chán, từ bỏ và giải thoát", đó là tôn chỉ thứ haị Này các tỳ kheo, Như Lai bậc Alahán Chánh Ðẳng Giác thuyết pháp có hai tôn chỉ trình tự là như vậỵ
Ý nghĩa này đã được Ðức Thế Tôn nói đến.
Thảo luận :
1- Phật pháp dạy cho thấy rõ điều ác, như vậy điều thiện có nên thấy rõ không ?
2- Tôn chỉ Ðạo Phật dạy nhàm chán từ bỏ và giải thoát, như vậy có phải là thái độ bi quan và trốn tránh trách nhiệm chăng ?
3- Phải chăng hai tôn chỉ này đã nói hết tất cả mục đích tu tập ?
Câu đố vui :
1- "Hãy thấy rõ điều ác", đó là tôn chỉ thuyết pháp của Ðức Phật. Vì sao không nói đến thấy rõ điều thiện ?
a) Vì điều ác là mối nguy hiểm cho đời sống hạnh phúc.
b) Vì đã thấy rõ điều ác, tức là có tâm thiện chánh niệm và trí tuệ.
c) Vì cách nói tương phản, không tối nghĩa là sáng.
d) Gồm cả ba câu trên.
2- Sự nhàm chán của người tu tập khác hơn sự nhàm chán của người không tu tập. Ở điểm nào ?
a) Người tu tập nhàm chán bằng tâm thiện, còn người không tu tập thì bằng tâm bất thiện ưu phiền.
b) Người tu tập nhàm chán do trí tuệ hiểu thực trạng, còn người không tu tập thì nhàm chán do thất vọng.
c) Câu A và B đúng
d) Câu A và B sai
3- Sự giải thoát, nói đến ý nghĩa kinh điển của đạo phật, là :
a) Vượt khỏi tất cả khổ đau
b) Ðược sống tự do không bị giam cầm
c) Bỏ trạng thái này đạt đến trạng thái khác
d) Cả ba câu đều đúng.
-------------------------------
No. 0537 NEW(Hạt Cát dịch)
Cứu vãn Lông Môn Thạch Quật.
22/9/2005 8:07
Bản tin đăng tải trên trang Web EnglishEast.com ngày 22 tháng 09, 2005
Thiếu đầu tư và thiếu trình độ chuyên môn về điêu khắc có thể gây cho nguy hại cho Long Môn Thạch Quật, một trong những chuyên gia bảo tồn di sản thế giới của cơ quan UNESCO tại trung bộ Trung Quốc đã báo động như trên.
Chỉ có bảy viên chức bảo trì đang làm việc tại khu vực cổ xưa nơi mà nước rỉ đang ào ạt chảy vào hang động và diễn tiến của nó gây ra tình trạng đáng ngại. Ngân quỹ cho việc bảo toàn chưa được phê chuẩn.
Lời báo động được đưa ra trong thời gian một dự án quốc tế được bảo trợ bởi Unesco và Nhật Bản, nhằm bảo toàn các pho tượng và tác phẩm chạm trổ trong vách núi ở Lạc Dương thuộc tỉnh Hà Nam Trung Quốc.
Trong suốt thiên niên kỷ vừa qua, rất nhiều hang động trong số đó đã tồn tại được qua lũ lụt, chiến tranh, cướp phá và những tai họa khác bởi thiên nhiên hoặc do con người gây ra.Một ví dụ với nghệ thuật điêu khắc Phật Giáo độc đáo, Ðộng Long Môn có 2,300 hang động nhỏ với 110,000 hình tượng Phật, trên 80 ngôi tháp, 2,800 bi văn.
Ðộng Long Môn tọa lạc trên dải vách núi chạy dài khoảng 1km dọc theo sông Yishui, 13 km về phía nam Lạc Dương. Người ta tin tưởng rằng khu vực này là nơi đầu tiên Phật Giáo được giới thiệu đến Trung Quốc vào thời Ðông Hán (năm 25 đến năm 220 sau Tây Lịch)
“Thời tiết, đá sụp và nước rỉ đã hăm dọa sự an nguy của các hang động” giám đốc điều hành di tích Long Môn, ông Lý đã nói như trên.Với ngân quỹ dành riêng cho việc bảo trì hang động đợt thứ nhì $620,000 Mỹ Kim, một dữ liệu về những hư hại của thạch quật sẽ được công bố.
Các chuyên gia sẽ kế hoạch một phương pháp tốt nhất để đổ hồ chống rỉ thấm trám kín các kẻ nứt trong hang.Quan khách có thể nghe được tiếng nước nhỏ giọt trong tất cả các hang động trong mùa mưa và phải mất cả tháng mới chấm dứt. Toàn bộ kế hoạch ngăn ngừa và duy trì bảo quản được dụ trù sẽ hoàn tất vào năm 2007. Ông Lý nói thêm “Chấm dứt tình trạng hư hại do nước rỉ thấm qua kẻ nứt là công tác đầu tiên của chúng tôi và nó rất khó khăn”.
Văn phòng điều hành Long Môn Thạch Quật đã bị trở ngại vì thiếu kỹ thuật bảo quản, ngân quỹ và khả năng chuyên môn. Trong con số 400 viên chức liên hệ đến ngành du lịch chỉ có 7 người là có khả năng chuyên môn.Ông Li nói dự án hỗ trợ của quốc tế hiện nay vẫn còn nằm trong giai đọan thí nghiệm. Ngân khoản 1.26 triệu Mỹ Kim do cơ quan UNESCO tài trợ chỉ đáp ứng được một số phạm vi chừng mực. Nó đòi hỏi ít nhất là cả trăm triệu đồng yuan chỉ riêng cho việc chấm dứt nước rỉ.
Văn phòng điều hành Thạch Quật đã thu được khoảng 50 triệu yuan ( 6.16 triệu Mỹ Kim) từ tiền bán vé trong năm 2004. Nhưng hầu hết lợi nhuận thu được đã được dùng vào việc trả lương cho nhân viên và các hoạt động hằng ngày, rất ít ngân khoản trong số đó được dùng vào việc bảo tồn.Kẻ nứt đã được tìm thấy trong tất cả các hang động trong số 37 hang động chính tại Long Môn, căn cứ theo một cuộc khảo sát trong hai năm.Tệ hại hơn, rất nhiều pho tượng hoặc các điêu khắc khác không thể phân biệt vì bụi bậm, bẩn thỉu và sỏi sạn; gần phân nửa con số các hốc tường bị thiếu tượng Phật do nạn trộm cắp trong quá khứ.
No. 0546 NEW(Hạt Cát dịch)
Ðại Sứ Hoa Kỳ trao tặng ngân khoản tài trợ bảo tồn khu vực khảo cổ Phật Giáo ở Pakistant.
ISLAMABAD, Pakistant - 01 tháng 10, 2005- Ðại Sứ Hoa Kỳ Ryan C. Crocker đã trao tặng một chi phiếu $32,877 Mỹ Kim đến cho Thạc Sĩ Fazal Dad Khan, Tổng Giám Ðốc Bộ Khảo Cổ và Bảo Tàng Pakistant cho công trình phục hồi và bảo tồn một Tu Viện Phật Giáo hồi Thế Kỷ Thứ Năm tên gọi “ Jinan Wali Dehri” tọa lạc gần Taxila.
Bộ Trưởng Liên Bang Bộ Văn Hóa, Thể Thao và Thanh Thiếu Niên, Ajmal Khan cũng có mặt trong buổi trao tặng này.
Ngân khoản yểm trợ này nằm trong chương trình “Quỹ Sứ Giả Bảo Tồn Văn Hóa -viết tắt AFCP” của Sứ Quán Hoa Kỳ.Chương trình này biểu lộ sự tôn trọng của dân chúng Hoa Kỳ đối với những nền văn hóa của những quốc gia dân tộc khác và giúp đỡ các quốc gia phát triển lãnh vực bảo tồn văn hóa truyền thống.
Chương trình AFCP trước nay đã ủng hộ 205 đề án đó đây trên thế giới và đã yểm trợ $ 4.2 triệu Mỹ cho những công trình phục hồi và bảo tồn tương tự.Tại Pakistant, AFCP đã tài trợ một vài công trình tái tạo trong quá khứ, những công trình đó gồm cả “Masjid Wazir Khan” ở Lahore, “Masjid Mahabat Khan” ở Peshawar và “Sirkap Site” ở Taxila.
Công trình khai quật hoàn tất tại khu vực “Jinan Wali Dheri” thuộc Taxila đã phát hiện một di tích tôn nghiêm Phật Giáo, kể cả một ngôi tháp uy nghi. Ðó là một tu viện gồm có 17 phòng và hai lối vào. Những khám phá đáng ghi nhận nhất từ “Jinan Wali Dheri” là những bức bích họa trên tường hành lang của tu viện.
Sử dụng ngân quỹ tài trợ bởi Tòa Ðại Sứ Hoa Kỳ, Bộ Khảo Cổ Pakistant sẽ khởi sự làm việc trên công trình tái tạo và bảo tồn tu viện “Jinan Wali Dheri”.Bên cạnh những công trình tái tạo và bảo tồn, dự án còn tăng cường bảo vệ khu vực nhằm ngăn chặn những khai quật bất hợp pháp, củng cố cấu trúc tồn tại và bảo vệ những cổ vật có thể di chuyển đối với sự hư hại trong tương lai, sự di dời và đặt sai phương hướng.
Do việc khám phá được bích họa Phật Giáo hiếm hoi từ thế kỷ thứ 5 mà trước đó chưa từng xảy ra trong khu vực, một số đông du khách và dân sành sỏi sẽ kéo đến một khi công trình này mở cửa cho công chúng viếng thăm.
Bộ Khảo Cổ dự định thiết lập những trang bị thích đáng cho việc viếng thăm khu vực có bích họa và thiết lập một hệ thống thoát nước hiệu năng để ngăn chận sự hư hại bởi những trận mưa to mỗi năm.
Dự án này cống hiến cơ hội giá trị cho các nhà nghiên cứu, khảo cổ và chuyên gia theo đuổi học hỏi và thực hành kỹ thuật bảo tồn.Một mục đích khác thêm vào dự án là giúp đỡ cộng đồng địa phương, nhất là giới trẻ, có thể đảm đương việc bảo quản và kiểm soát di sản truyền thống của họ, và cho phép họ phát triển tài năng đòi hỏi cho việc thông hiểu và điều hành môi trường của họ.
Ủng hộ tái tạo, phục hồi một Tu Viện Phật Giáo tại một quốc gia Hồi giáo cũng là việc phát huy sự thông cảm và sự cùng tồn tại của những tín đồ của nhiều tôn giáo và văn hóa khác nhau.
Thứ Bảy, 1 tháng 10, 2005
Ngày: 01 Tháng 10 năm 2005
Tri chúng: Gioi Huong
Tri chúng điền khuyết: Hat Cat
Môn học: Thiền Học
Bài học: Quán pháp - quán bốn thánh đế
Giảng sư chính: TT Giác Đẳng
Giảng sư điền khuyết: Sư Trí Siêu
Vị Tăng hoặc Ni nói lời cầu nguyện đầu lớp học: DD Minh Hanh
Xướng ngôn viên: TN Diệu Tịnh, Khanh Van, Hat Cat, Nguonduchanh, Tinh Tan,Sangkhaly
http://baidocmc.blogspot.com/
Người mở room: Hạt Cát, Mindvox
Người mở nhạc và kinh tụng: Mindvox
Người post bài cho Room: Mindvox
Người post bài riêng cho chư Tăng: Mindvox
Trực room (op):
Giảng sư: Tỳ Kheo Giác Đẳng
Quán pháp - quán bốn thánh đế
Lại nữa, nầy các Tỳ kheo, người tu tập quán pháp qua bốn thánh đế.
Nầy các Tỳ kheo, người tu tập sáng suốt biết rõ đây là khổ; sáng suốt biết rõ đây là nhân sanh khổ; sáng suốt biết rõ đây là sự chấm dứt khổ; sáng suốt biết rõ đây là con đường dẫn đến diệt khổ.
Như vậy vị ấy quán pháp bằng pháp. Vị ấy quán tánh sanh khởi trên pháp, quán tánh hoại diệt trên pháp hoặc cả hai tánh sanh diệt trên pháp. Vị ấy quán niệm sự hiện hữu của pháp với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Vị ấy không ỷ lại, chấp trước bất cứ vật gì ở đời. Nầy các Tỳ kheo, như vậy là người tu tập lấy pháp quán pháp.
Thảo Luận
1. Khổ, tập, diệt, đạo có thể được quán chiếu trong đời sống hằng ngày chăng? (nói cách khác có thể chăng để nói sự diệt khổ không nhất thiết là Niết bàn?)
2. Trong từng khoảnh khắc trôi qua của cuộc sống, đau khổ xẩy ra do nhiều nguyên nhân, làm sao để thấy tham ái là nhân chính sanh khổ?
3. Có cần thiết để quán sát cả bốn thánh đế hay chỉ cần chánh niệm những gì hiện khởi thí dụ như chỉ thất khổ, tập mà không thấy diệt đạo?
TIN TỨC
No. 0538 NEW(Hạt Cát lược dịch)
Một nơi an bình để viếng thăm, Wat Carolina
By Kristin Boyle, Wilmington Star-News, September 17, 2005
Bản tin đăng trên trang Web Wilmington Star-News ngày 17 tháng 09, 2005.
Brunswick (North Carolina) ── Ða số cư dân tại Quận hạt Brunswick đã nghe qua về ngôi chùa. Một số người biết nó ở đâu nhưng rất ít người đã viếng thăm ngôi chùa Wat Carolina, tu viện Phật Giáo gần Bolivia.
Tư tưởng “tu viện” có thể gợi lên hình ảnh của những tu sĩ sống ngoài thế tục, những tu sĩ tại Wat Carolina sống đơn giản và hoàn toàn dựa vào công đức cúng dường của tín chúng. Ngày tháng của họ dùng vào việc tụng niệm, hành thiền và nghiên cứu vô số giáo lý Phật Giáo.
Chỉ có ba tu sĩ, Vị Trụ Trì là Sư Buddhamonpricha và hai sa di thường trú. Họ đắp tăng y màu vàng cam theo Phật giáo truyền thống. Một quản tự viên cũng sống chung tại đó.
Tu viện bắt đầu thành lập năm 1987 với tịnh tài cúng dường bởi người chị của Sư trụ trì, người mà trong thời gian đó là sở hữu chủ khách sạn Ocean Crest. Tu viện Wat Carolina nguyên là một ngôi nhà nhỏ trong khuôn viên 21 mẫu đất.
Sư Buddhamonpricha giải thích rằng địa điểm ngôi chùa nằm trên con đường tên gọi là Midway, tức là trung đạo, được chọn nhằm mục đích nhắc nhở đến con đường đưa đến giác ngộ trong Phật pháp đã được gọi là Trung Ðạo.
Ngôi nhà vẫn được dùng như vừa là chùa, vừa là nơi cư ngụ. Công trình xây cất một sảnh đường nhằm nhiều mục đích gần đây đã được hoàn tất. Tòa đại sảnh là một phần trong kế hoạch chính của Sư trụ trì, nó bao gồm tăng xá trong tương lai và ngôi chùa.
Sư nói “Từng bước, chúng tôi xây dựng ngôi chùa từ các khoản cúng dường, nhưng có rất nhiều bước phải bước”
Sư cũng nhận được sự yểm trợ từ một người cháu trai, chủ nhân nhà hàng Thái Peppers ở Southport.
Dưới sự chăm nom của Sư, tu viện đã phát triển thêm những mặt khác. Tín đồ gia tăng, hiện có khoảng 30 người thường xuyên tham dự khóa thiền ngày Chủ Nhật và khoảng hơn 300 Phật tử lui tới trong những đại lễ.
Một buổi lễ thọ giới sa di mới đây đã thu hút những người tham dư đến từ xa như New York. Như tấm biển đề “Hoan nghênh quan khách” đã dựng lên ở cổng đi vào, Sư Buddhamonpricha cũng hoan nghênh những ai hiếu kỳ về tu viện hoặc về Phật pháp, về việc tham dự lớp Thiền ngày Chủ Nhật hay về những lễ hội đặc biệt sẽ diễn ra.
Tiếng Anh là ngôn ngữ chính trong các thời thuyết giảng hoặc hướng dẫn thiền tập, tuy nhiên sẽ có thêm tiếng Thái nếu có đông đảo tín chúng tham dự.
_______________________________________________________________
No. 0539 NEW(Hạt Cát lược dịch)
Một người Tây Phương trong ngôi chùa Thái Lan.
Published on September 25, 2005
Bài viết đăng trang Web Truyền Thông Quốc Gia Thái Lan ngày 25 tháng 09, 2005
Phật pháp đã biến cải sự hiện hữu của Jess Koffman’s từ một cuộc sống cực nhọc thường nhật trở thành cuộc sống hạnh phúc và ý nghĩa sâu sắc.
Jess Koffman, 29, đã tình nguyện chọn lựa dứt bỏ nếp sống hiện đại để trải nghiệm nếp sống hiện hữu an lạc theo Phật pháp. Koffman nói giáo lý Phật Giáo đã giúp cho anh phân biệt đời sống thế tục và thực chất trong lãnh vực chân lý của đời sống. Hiện nay anh đang thực hành giáo pháp một cách chăm chỉ bởi vì tôn giáo đã giúp anh thấu hiểu tâm thức hoạt động như thế nào và nó đã khai mở tâm thức của anh đến với sự tán thán mới mẻ đối với đời sống và cảm nhận sâu xa hơn về hạnh phúc.
Chàng công dân Gia Nã Ðại này, một cựu chuyên viên thống kê bảo hiểm hưu bổng tại một công ty ở Toronto, nói lý do mà anh cảm thấy hứng thú với Phật Giáo là vì sự hiếu kỳ của anh đối với ý nghĩa đời sống. Anh không hài lòng với công việc đang làm, cái công việc phải vận dụng đến sở trường toán học của anh. Anh nói “Tiền bạc tôi kiếm được cũng khá nhưng tôi rời bỏ bởi vì tôi nhận ra rằng tâm trí của tôi không nằm ở chỗ đó”. Anh nói thêm rằng anh không bao giờ muốn ở vào cái địa vị mà anh phát hiện ra rằng bản thân anh đang ở giữa những con người làm những công việc mà họ không thích.
Anh đã quyết định quay lưng với nhịp độ điên cuồng của Tây phương và một đời sống với công việc chuyên môn buồn tẻ tại Canada để tìm an lạc tâm linh năm năm về trước.
Anh cảm thấy du hành Á Châu có thể mang đến cho anh một cơ hội tốt hơn.
Anh nói “Người ta tiếp tục đời sống của họ bằng một phương cách giống nhau. Tôi thử không theo chân họ làm việc ngày này qua ngày khác, mà ngay cả họ cũng nhận ra rằng họ không hài lòng, để rồi chấm dứt tại đây. Trong quá khứ, Koffman là một công chức bình thường và anh tìm hiểu kiến thức Phật pháp bởi vì hiếu kỳ riêng về triết học. Bên cạnh khả năng toán học được đào luyện, Koffman hiện nay cũng say mê triết học ngày càng nhiều.
Anh nói “Triết học không khác với toán học bao nhiêu, bởi vì cả hai đều cố gắng đặt để chân lý vào những biểu tượng. Cả hai đều tìm kiếm phương pháp nắm bắt chân lý. Buổi ban đầu, tôi hứng thú trong việc phát hiện ra chân lý của đời sống và sau khi nghiên cứu Phật pháp, tôi tìm thấy sự hợp lý của giáo lý Phật Giáo, điều có thể giải thích chân lý của đời sống hay ho hơn hết”.
Trong năm năm sống tại Vương quốc Thái Lan, Koffman đã hoàn toàn trở nên gắn bó với Phật pháp. Mặc dù sinh ra là một người Do Thái nhưng bây giờ Koffman nhìn nhận mình là một Phật tử.
Anh nói “Hệ thống tín ngưỡng của tôi thuộc về Phật giáo nhiều hơn Do Thái giáo” anh giải thích rằng anh tự nhận mình là một Phật tử với việc anh đã quay về nương tựa nơi Tam Bảo, Phật, Pháp, Tăng, và anh cũng đang cố gắng thọ trì Ngũ Giới.
Koffman đang ghi danh học chương trình tiến sĩ Phật Học tại Ðại Học Phật Giáo Chulalongkorn Ratchawittayalai. Anh thường xuyên thực hành thiền Minh Quán tại chùa Mahathat ở Băng Cốc.
Koffman cũng đã thực hiện khóa hướng dẫn giáo pháp và thực tập thiền định cho nhân viên tại công ty PTT Public, nơi anh dẫn dắt chương trình thảo luận để giúp học viên áp dụng giáo pháp vào đời sống của họ.
“Trong khóa học, tôi nói với học viên của tôi về kinh nghiệm thực tế trong đời sống và một số khó khăn của họ”. Koffman nói với học viên của anh rằng khi họ gặp những vấn đề khó khăn, họ nên thử tìm hiểu về sự vô thường của đời sống.