Chủ Nhật, 2 tháng 10, 2005

Lớp Pháp Số Trích Giảng



Kinh hai pháp "Tôn Chỉ Giáo Lý" (It.33)


Ðiều này đã được Ðức Thế Tôn bậc Alahán nói đến :
Sự thuyết pháp của Như Lai Alahán Chánh Ðẳng Giác có hai tôn chỉ, Thế nào là hai ? "Hãy thấy rõ điều ác là ác", đó là tôn chỉ thứ nhất; "Hãy nhàm chán, từ bỏ và giải thoát", đó là tôn chỉ thứ haị Này các tỳ kheo, Như Lai bậc Alahán Chánh Ðẳng Giác thuyết pháp có hai tôn chỉ trình tự là như vậỵ
Ý nghĩa này đã được Ðức Thế Tôn nói đến.

Thảo luận :
1- Phật pháp dạy cho thấy rõ điều ác, như vậy điều thiện có nên thấy rõ không ?

2- Tôn chỉ Ðạo Phật dạy nhàm chán từ bỏ và giải thoát, như vậy có phải là thái độ bi quan và trốn tránh trách nhiệm chăng ?

3- Phải chăng hai tôn chỉ này đã nói hết tất cả mục đích tu tập ?

Câu đố vui :

1- "Hãy thấy rõ điều ác", đó là tôn chỉ thuyết pháp của Ðức Phật. Vì sao không nói đến thấy rõ điều thiện ?
a) Vì điều ác là mối nguy hiểm cho đời sống hạnh phúc.
b) Vì đã thấy rõ điều ác, tức là có tâm thiện chánh niệm và trí tuệ.
c) Vì cách nói tương phản, không tối nghĩa là sáng.
d) Gồm cả ba câu trên.

2- Sự nhàm chán của người tu tập khác hơn sự nhàm chán của người không tu tập. Ở điểm nào ?
a) Người tu tập nhàm chán bằng tâm thiện, còn người không tu tập thì bằng tâm bất thiện ưu phiền.
b) Người tu tập nhàm chán do trí tuệ hiểu thực trạng, còn người không tu tập thì nhàm chán do thất vọng.
c) Câu A và B đúng
d) Câu A và B sai

3- Sự giải thoát, nói đến ý nghĩa kinh điển của đạo phật, là :
a) Vượt khỏi tất cả khổ đau
b) Ðược sống tự do không bị giam cầm
c) Bỏ trạng thái này đạt đến trạng thái khác
d) Cả ba câu đều đúng.
-------------------------------


No. 0537 NEW(Hạt Cát dịch)

Cứu vãn Lông Môn Thạch Quật.

22/9/2005 8:07

Bản tin đăng tải trên trang Web EnglishEast.com ngày 22 tháng 09, 2005

Thiếu đầu tư và thiếu trình độ chuyên môn về điêu khắc có thể gây cho nguy hại cho Long Môn Thạch Quật, một trong những chuyên gia bảo tồn di sản thế giới của cơ quan UNESCO tại trung bộ Trung Quốc đã báo động như trên.

Chỉ có bảy viên chức bảo trì đang làm việc tại khu vực cổ xưa nơi mà nước rỉ đang ào ạt chảy vào hang động và diễn tiến của nó gây ra tình trạng đáng ngại. Ngân quỹ cho việc bảo toàn chưa được phê chuẩn.
Lời báo động được đưa ra trong thời gian một dự án quốc tế được bảo trợ bởi Unesco và Nhật Bản, nhằm bảo toàn các pho tượng và tác phẩm chạm trổ trong vách núi ở Lạc Dương thuộc tỉnh Hà Nam Trung Quốc.

Trong suốt thiên niên kỷ vừa qua, rất nhiều hang động trong số đó đã tồn tại được qua lũ lụt, chiến tranh, cướp phá và những tai họa khác bởi thiên nhiên hoặc do con người gây ra.Một ví dụ với nghệ thuật điêu khắc Phật Giáo độc đáo, Ðộng Long Môn có 2,300 hang động nhỏ với 110,000 hình tượng Phật, trên 80 ngôi tháp, 2,800 bi văn.

Ðộng Long Môn tọa lạc trên dải vách núi chạy dài khoảng 1km dọc theo sông Yishui, 13 km về phía nam Lạc Dương. Người ta tin tưởng rằng khu vực này là nơi đầu tiên Phật Giáo được giới thiệu đến Trung Quốc vào thời Ðông Hán (năm 25 đến năm 220 sau Tây Lịch)

“Thời tiết, đá sụp và nước rỉ đã hăm dọa sự an nguy của các hang động” giám đốc điều hành di tích Long Môn, ông Lý đã nói như trên.Với ngân quỹ dành riêng cho việc bảo trì hang động đợt thứ nhì $620,000 Mỹ Kim, một dữ liệu về những hư hại của thạch quật sẽ được công bố.

Các chuyên gia sẽ kế hoạch một phương pháp tốt nhất để đổ hồ chống rỉ thấm trám kín các kẻ nứt trong hang.Quan khách có thể nghe được tiếng nước nhỏ giọt trong tất cả các hang động trong mùa mưa và phải mất cả tháng mới chấm dứt. Toàn bộ kế hoạch ngăn ngừa và duy trì bảo quản được dụ trù sẽ hoàn tất vào năm 2007. Ông Lý nói thêm “Chấm dứt tình trạng hư hại do nước rỉ thấm qua kẻ nứt là công tác đầu tiên của chúng tôi và nó rất khó khăn”.

Văn phòng điều hành Long Môn Thạch Quật đã bị trở ngại vì thiếu kỹ thuật bảo quản, ngân quỹ và khả năng chuyên môn. Trong con số 400 viên chức liên hệ đến ngành du lịch chỉ có 7 người là có khả năng chuyên môn.Ông Li nói dự án hỗ trợ của quốc tế hiện nay vẫn còn nằm trong giai đọan thí nghiệm. Ngân khoản 1.26 triệu Mỹ Kim do cơ quan UNESCO tài trợ chỉ đáp ứng được một số phạm vi chừng mực. Nó đòi hỏi ít nhất là cả trăm triệu đồng yuan chỉ riêng cho việc chấm dứt nước rỉ.

Văn phòng điều hành Thạch Quật đã thu được khoảng 50 triệu yuan ( 6.16 triệu Mỹ Kim) từ tiền bán vé trong năm 2004. Nhưng hầu hết lợi nhuận thu được đã được dùng vào việc trả lương cho nhân viên và các hoạt động hằng ngày, rất ít ngân khoản trong số đó được dùng vào việc bảo tồn.Kẻ nứt đã được tìm thấy trong tất cả các hang động trong số 37 hang động chính tại Long Môn, căn cứ theo một cuộc khảo sát trong hai năm.Tệ hại hơn, rất nhiều pho tượng hoặc các điêu khắc khác không thể phân biệt vì bụi bậm, bẩn thỉu và sỏi sạn; gần phân nửa con số các hốc tường bị thiếu tượng Phật do nạn trộm cắp trong quá khứ.

No. 0546 NEW(Hạt Cát dịch)
Ðại Sứ Hoa Kỳ trao tặng ngân khoản tài trợ bảo tồn khu vực khảo cổ Phật Giáo ở Pakistant.

ISLAMABAD, Pakistant - 01 tháng 10, 2005- Ðại Sứ Hoa Kỳ Ryan C. Crocker đã trao tặng một chi phiếu $32,877 Mỹ Kim đến cho Thạc Sĩ Fazal Dad Khan, Tổng Giám Ðốc Bộ Khảo Cổ và Bảo Tàng Pakistant cho công trình phục hồi và bảo tồn một Tu Viện Phật Giáo hồi Thế Kỷ Thứ Năm tên gọi “ Jinan Wali Dehri” tọa lạc gần Taxila.

Bộ Trưởng Liên Bang Bộ Văn Hóa, Thể Thao và Thanh Thiếu Niên, Ajmal Khan cũng có mặt trong buổi trao tặng này.

Ngân khoản yểm trợ này nằm trong chương trình “Quỹ Sứ Giả Bảo Tồn Văn Hóa -viết tắt AFCP” của Sứ Quán Hoa Kỳ.Chương trình này biểu lộ sự tôn trọng của dân chúng Hoa Kỳ đối với những nền văn hóa của những quốc gia dân tộc khác và giúp đỡ các quốc gia phát triển lãnh vực bảo tồn văn hóa truyền thống.

Chương trình AFCP trước nay đã ủng hộ 205 đề án đó đây trên thế giới và đã yểm trợ $ 4.2 triệu Mỹ cho những công trình phục hồi và bảo tồn tương tự.Tại Pakistant, AFCP đã tài trợ một vài công trình tái tạo trong quá khứ, những công trình đó gồm cả “Masjid Wazir Khan” ở Lahore, “Masjid Mahabat Khan” ở Peshawar và “Sirkap Site” ở Taxila.

Công trình khai quật hoàn tất tại khu vực “Jinan Wali Dheri” thuộc Taxila đã phát hiện một di tích tôn nghiêm Phật Giáo, kể cả một ngôi tháp uy nghi. Ðó là một tu viện gồm có 17 phòng và hai lối vào. Những khám phá đáng ghi nhận nhất từ “Jinan Wali Dheri” là những bức bích họa trên tường hành lang của tu viện.

Sử dụng ngân quỹ tài trợ bởi Tòa Ðại Sứ Hoa Kỳ, Bộ Khảo Cổ Pakistant sẽ khởi sự làm việc trên công trình tái tạo và bảo tồn tu viện “Jinan Wali Dheri”.Bên cạnh những công trình tái tạo và bảo tồn, dự án còn tăng cường bảo vệ khu vực nhằm ngăn chặn những khai quật bất hợp pháp, củng cố cấu trúc tồn tại và bảo vệ những cổ vật có thể di chuyển đối với sự hư hại trong tương lai, sự di dời và đặt sai phương hướng.

Do việc khám phá được bích họa Phật Giáo hiếm hoi từ thế kỷ thứ 5 mà trước đó chưa từng xảy ra trong khu vực, một số đông du khách và dân sành sỏi sẽ kéo đến một khi công trình này mở cửa cho công chúng viếng thăm.

Bộ Khảo Cổ dự định thiết lập những trang bị thích đáng cho việc viếng thăm khu vực có bích họa và thiết lập một hệ thống thoát nước hiệu năng để ngăn chận sự hư hại bởi những trận mưa to mỗi năm.

Dự án này cống hiến cơ hội giá trị cho các nhà nghiên cứu, khảo cổ và chuyên gia theo đuổi học hỏi và thực hành kỹ thuật bảo tồn.Một mục đích khác thêm vào dự án là giúp đỡ cộng đồng địa phương, nhất là giới trẻ, có thể đảm đương việc bảo quản và kiểm soát di sản truyền thống của họ, và cho phép họ phát triển tài năng đòi hỏi cho việc thông hiểu và điều hành môi trường của họ.

Ủng hộ tái tạo, phục hồi một Tu Viện Phật Giáo tại một quốc gia Hồi giáo cũng là việc phát huy sự thông cảm và sự cùng tồn tại của những tín đồ của nhiều tôn giáo và văn hóa khác nhau.

Thứ Bảy, 1 tháng 10, 2005

Nhật Hành

Ngày: 01 Tháng 10 năm 2005

Tri chúng: Gioi Huong


Tri chúng điền khuyết: Hat Cat


Môn học: Thiền Học

Bài học: Quán pháp - quán bốn thánh đế


Giảng sư chính: TT Giác Đẳng

Giảng sư điền khuyết: Sư Trí Siêu

Vị Tăng hoặc Ni nói lời cầu nguyện đầu lớp học: DD Minh Hanh

Xướng ngôn viên: TN Diệu Tịnh, Khanh Van, Hat Cat, Nguonduchanh, Tinh Tan,Sangkhaly

http://baidocmc.blogspot.com/


Người mở room: Hạt Cát, Mindvox

Người mở nhạc và kinh tụng: Mindvox


Người post bài cho Room: Mindvox

Người post bài riêng cho chư Tăng: Mindvox


Trực room (op):
Lớp Thiền Học

Giảng sư: Tỳ Kheo Giác Đẳng




Quán pháp - quán bốn thánh đế




Lại nữa, nầy các Tỳ kheo, người tu tập quán pháp qua bốn thánh đế.
Nầy các Tỳ kheo, người tu tập sáng suốt biết rõ đây là khổ; sáng suốt biết rõ đây là nhân sanh khổ; sáng suốt biết rõ đây là sự chấm dứt khổ; sáng suốt biết rõ đây là con đường dẫn đến diệt khổ.

Như vậy vị ấy quán pháp bằng pháp. Vị ấy quán tánh sanh khởi trên pháp, quán tánh hoại diệt trên pháp hoặc cả hai tánh sanh diệt trên pháp. Vị ấy quán niệm sự hiện hữu của pháp với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Vị ấy không ỷ lại, chấp trước bất cứ vật gì ở đời. Nầy các Tỳ kheo, như vậy là người tu tập lấy pháp quán pháp.



Thảo Luận

1. Khổ, tập, diệt, đạo có thể được quán chiếu trong đời sống hằng ngày chăng? (nói cách khác có thể chăng để nói sự diệt khổ không nhất thiết là Niết bàn?)

2. Trong từng khoảnh khắc trôi qua của cuộc sống, đau khổ xẩy ra do nhiều nguyên nhân, làm sao để thấy tham ái là nhân chính sanh khổ?

3. Có cần thiết để quán sát cả bốn thánh đế hay chỉ cần chánh niệm những gì hiện khởi thí dụ như chỉ thất khổ, tập mà không thấy diệt đạo?



TIN TỨC


No. 0538 NEW(Hạt Cát lược dịch)

Một nơi an bình để viếng thăm, Wat Carolina

By Kristin Boyle, Wilmington Star-News, September 17, 2005

Bản tin đăng trên trang Web Wilmington Star-News ngày 17 tháng 09, 2005.
Brunswick (North Carolina) ── Ða số cư dân tại Quận hạt Brunswick đã nghe qua về ngôi chùa. Một số người biết nó ở đâu nhưng rất ít người đã viếng thăm ngôi chùa Wat Carolina, tu viện Phật Giáo gần Bolivia.

Tư tưởng “tu viện” có thể gợi lên hình ảnh của những tu sĩ sống ngoài thế tục, những tu sĩ tại Wat Carolina sống đơn giản và hoàn toàn dựa vào công đức cúng dường của tín chúng. Ngày tháng của họ dùng vào việc tụng niệm, hành thiền và nghiên cứu vô số giáo lý Phật Giáo.

Chỉ có ba tu sĩ, Vị Trụ Trì là Sư Buddhamonpricha và hai sa di thường trú. Họ đắp tăng y màu vàng cam theo Phật giáo truyền thống. Một quản tự viên cũng sống chung tại đó.

Tu viện bắt đầu thành lập năm 1987 với tịnh tài cúng dường bởi người chị của Sư trụ trì, người mà trong thời gian đó là sở hữu chủ khách sạn Ocean Crest. Tu viện Wat Carolina nguyên là một ngôi nhà nhỏ trong khuôn viên 21 mẫu đất.

Sư Buddhamonpricha giải thích rằng địa điểm ngôi chùa nằm trên con đường tên gọi là Midway, tức là trung đạo, được chọn nhằm mục đích nhắc nhở đến con đường đưa đến giác ngộ trong Phật pháp đã được gọi là Trung Ðạo.

Ngôi nhà vẫn được dùng như vừa là chùa, vừa là nơi cư ngụ. Công trình xây cất một sảnh đường nhằm nhiều mục đích gần đây đã được hoàn tất. Tòa đại sảnh là một phần trong kế hoạch chính của Sư trụ trì, nó bao gồm tăng xá trong tương lai và ngôi chùa.

Sư nói “Từng bước, chúng tôi xây dựng ngôi chùa từ các khoản cúng dường, nhưng có rất nhiều bước phải bước”

Sư cũng nhận được sự yểm trợ từ một người cháu trai, chủ nhân nhà hàng Thái Peppers ở Southport.

Dưới sự chăm nom của Sư, tu viện đã phát triển thêm những mặt khác. Tín đồ gia tăng, hiện có khoảng 30 người thường xuyên tham dự khóa thiền ngày Chủ Nhật và khoảng hơn 300 Phật tử lui tới trong những đại lễ.

Một buổi lễ thọ giới sa di mới đây đã thu hút những người tham dư đến từ xa như New York. Như tấm biển đề “Hoan nghênh quan khách” đã dựng lên ở cổng đi vào, Sư Buddhamonpricha cũng hoan nghênh những ai hiếu kỳ về tu viện hoặc về Phật pháp, về việc tham dự lớp Thiền ngày Chủ Nhật hay về những lễ hội đặc biệt sẽ diễn ra.

Tiếng Anh là ngôn ngữ chính trong các thời thuyết giảng hoặc hướng dẫn thiền tập, tuy nhiên sẽ có thêm tiếng Thái nếu có đông đảo tín chúng tham dự.

_______________________________________________________________

No. 0539 NEW(Hạt Cát lược dịch)

Một người Tây Phương trong ngôi chùa Thái Lan.

Published on September 25, 2005

Bài viết đăng trang Web Truyền Thông Quốc Gia Thái Lan ngày 25 tháng 09, 2005

Phật pháp đã biến cải sự hiện hữu của Jess Koffman’s từ một cuộc sống cực nhọc thường nhật trở thành cuộc sống hạnh phúc và ý nghĩa sâu sắc.

Jess Koffman, 29, đã tình nguyện chọn lựa dứt bỏ nếp sống hiện đại để trải nghiệm nếp sống hiện hữu an lạc theo Phật pháp. Koffman nói giáo lý Phật Giáo đã giúp cho anh phân biệt đời sống thế tục và thực chất trong lãnh vực chân lý của đời sống. Hiện nay anh đang thực hành giáo pháp một cách chăm chỉ bởi vì tôn giáo đã giúp anh thấu hiểu tâm thức hoạt động như thế nào và nó đã khai mở tâm thức của anh đến với sự tán thán mới mẻ đối với đời sống và cảm nhận sâu xa hơn về hạnh phúc.

Chàng công dân Gia Nã Ðại này, một cựu chuyên viên thống kê bảo hiểm hưu bổng tại một công ty ở Toronto, nói lý do mà anh cảm thấy hứng thú với Phật Giáo là vì sự hiếu kỳ của anh đối với ý nghĩa đời sống. Anh không hài lòng với công việc đang làm, cái công việc phải vận dụng đến sở trường toán học của anh. Anh nói “Tiền bạc tôi kiếm được cũng khá nhưng tôi rời bỏ bởi vì tôi nhận ra rằng tâm trí của tôi không nằm ở chỗ đó”. Anh nói thêm rằng anh không bao giờ muốn ở vào cái địa vị mà anh phát hiện ra rằng bản thân anh đang ở giữa những con người làm những công việc mà họ không thích.

Anh đã quyết định quay lưng với nhịp độ điên cuồng của Tây phương và một đời sống với công việc chuyên môn buồn tẻ tại Canada để tìm an lạc tâm linh năm năm về trước.

Anh cảm thấy du hành Á Châu có thể mang đến cho anh một cơ hội tốt hơn.

Anh nói “Người ta tiếp tục đời sống của họ bằng một phương cách giống nhau. Tôi thử không theo chân họ làm việc ngày này qua ngày khác, mà ngay cả họ cũng nhận ra rằng họ không hài lòng, để rồi chấm dứt tại đây. Trong quá khứ, Koffman là một công chức bình thường và anh tìm hiểu kiến thức Phật pháp bởi vì hiếu kỳ riêng về triết học. Bên cạnh khả năng toán học được đào luyện, Koffman hiện nay cũng say mê triết học ngày càng nhiều.

Anh nói “Triết học không khác với toán học bao nhiêu, bởi vì cả hai đều cố gắng đặt để chân lý vào những biểu tượng. Cả hai đều tìm kiếm phương pháp nắm bắt chân lý. Buổi ban đầu, tôi hứng thú trong việc phát hiện ra chân lý của đời sống và sau khi nghiên cứu Phật pháp, tôi tìm thấy sự hợp lý của giáo lý Phật Giáo, điều có thể giải thích chân lý của đời sống hay ho hơn hết”.

Trong năm năm sống tại Vương quốc Thái Lan, Koffman đã hoàn toàn trở nên gắn bó với Phật pháp. Mặc dù sinh ra là một người Do Thái nhưng bây giờ Koffman nhìn nhận mình là một Phật tử.

Anh nói “Hệ thống tín ngưỡng của tôi thuộc về Phật giáo nhiều hơn Do Thái giáo” anh giải thích rằng anh tự nhận mình là một Phật tử với việc anh đã quay về nương tựa nơi Tam Bảo, Phật, Pháp, Tăng, và anh cũng đang cố gắng thọ trì Ngũ Giới.

Koffman đang ghi danh học chương trình tiến sĩ Phật Học tại Ðại Học Phật Giáo Chulalongkorn Ratchawittayalai. Anh thường xuyên thực hành thiền Minh Quán tại chùa Mahathat ở Băng Cốc.
Koffman cũng đã thực hiện khóa hướng dẫn giáo pháp và thực tập thiền định cho nhân viên tại công ty PTT Public, nơi anh dẫn dắt chương trình thảo luận để giúp học viên áp dụng giáo pháp vào đời sống của họ.
“Trong khóa học, tôi nói với học viên của tôi về kinh nghiệm thực tế trong đời sống và một số khó khăn của họ”. Koffman nói với học viên của anh rằng khi họ gặp những vấn đề khó khăn, họ nên thử tìm hiểu về sự vô thường của đời sống.

Thứ Sáu, 30 tháng 9, 2005

Nhật Hành

Ngày: 30 Tháng 09 năm 2005

Tri chúng: Khanh Van

Tri chúng điền khuyết:


Môn học: A Ty` Đàm

Bài học:


Giảng sư chính: TT Tue Sieu

Giảng sư điền khuyết: TT Giác Đẳng

Vị Tăng hoặc Ni nói lời cầu nguyện đầu lớp học: DD Minh Hanh

Xướng ngôn viên: Cô Diệu Tịnh, Hạt Cát, Nguonduchanh, Nhi Do Mai, anitya, Sangkhaly


Xướng ngôn viên và điền khuyết cho bài học:Phần 1: .., đk: ..// Hoi Hướng: Khanh Van, đk: .. http://baidocmc.blogspot.com/

Xướng ngôn viên cho phần Đố Vui:

Người mở room: mindvox, Dieu Quang

Người mở nhạc và kinh tụng: mindvox, Dieu Quang

Người post bài cho Room: Nguonduchanh va Hat Cat

Người post bài riêng cho chư Tăng: Hat Cat


Trực room (op):

Thông báo (nếu có):
Thảo luận: Do chư Tăng chủ trì câu hỏi



Lớp A tỳ đàm

Giảng sư: TT Tuệ Siêu



Sắc pháp (tiếp theo) - 4 sắc trạng thái


Sắc trạng thái (lakkhaṇarūpa) hay còn gọi là sắc tứ tướng, nghĩa là bốn tướng của sắc pháp.
Bốn tướng ấy là gì?


1. Tích tập sắc hay sắc sinh (upacayarūpa) là tướng sanh khởi của sắc pháp; khi một bọn sắc mới hình thành (phân tử vật chất), gọi đó là sắc sinh


2. Thừa kế sắc hay sắc tiến (santatirūpa) là tướng tồn tại tiếp tục của sắc pháp sau khi đã hình thành. Một bọn sắc có mặt kéo dài 51 sát-na tiểu; sát-na đầu tiên gọi là sắc sinh, 48 sát-na tiếp đó gọi là sắc tiến.


3. Lão mại sắc hay sắc dị (jatarārūpa) là tướng già cỗi cũ kỹ của sắc pháp đã gần hư hoại. Nói cách khác, giai đoạn sắc pháp ở thời sát-na thứ 50 gọi là sắc dị


4. Vô thường sắc hay sắc diệt (aniccatārūpa) là tướng hư hoại của sắc pháp vào sát-na thứ 51, sát-na cuối cùng của bọn sắc pháp chính là sắc diệt vậy

Sắc tứ tướng này chỉ là hiện tượng của các sắc rõ (nipphannarūpa), do vậy nên hiểu là sắc tứ tướng không có tính chất riêng biệt, không phải là một loại sắc thực tính. Cũng như nói đến sanh-trụ-diệt của tâm, không phải là có thứ tâm sanh, thứ tâm trụ, thứ tâm diệt.



Thảo luận
Do chư Tăng đặt vấn đề


Câu đố vui

1. Câu nào dưới đây là đúng nghĩa sự già của sắc pháp thực tính?

a. Dung nhan héo hắt
b. Tóc đã điểm sương
c. Hư cũ đổi thay
d. Ba câu đều đúng



2. Khi mất mát cái gì đó, người phật tử thường nói là “mọi vật đều vô thường”, câu nói ấy ám chỉ:


a. Sát-na diệt của danh sắc
b. Sự thay đổi của vạn vật
c. Sự không tồn tại của đời sống
d. Chỉ là lời nói vô nghĩa



3. Các nhà thơ thường mô tả: “Đông tàn xuân đến, hạ đi thu về”. Điều này đã nói gì?

a. Sự đổi thay của mùa tiết
b. Cảm cảnh vô thường của kiếp sống
c. Mô tả quy luật tự nhiên
d. Gồm cả ba câu trên




TIN TỨC

No. 0540 NEW(Hạt Cát dịch)

Ðức Ðạt Lai Lạt Ma nói với hội chúng Hoa Kỳ rằng chiến tranh đã lỗi thời.

By ROSA CIRIANNI
Associated Press Writer

September 26, 2005, 11:05 AM EDT
Bản tin từ hãng Thông Tấn AP ngày 26 tháng 09, 2005

PISCATAWAY, N.J.- Ðức Ðạt Lai Lạt Ma đã nói với 36,000 người tại Vận Ðộng Trường của Ðại Học Rutgers, NJ rằng khái niệm về chiến tranh đã lỗi thời và tuổi trẻ có trách nhiệm biến đổi thế kỷ này trở nên một thế kỷ hòa bình.

Ngài nói “Hành tinh này chỉ có chúng ta”, vị tu sĩ lưu vong 70 tuổi đã nói hôm Chủ Nhật 25 tháng 09, 2005. "Thế cho nên, phá hoại một cơ cấu khác tức là phá hoại chính mình".

Vị lãnh đạo tâm linh Tây Tạng cũng khuyến khích thính giả triển khai một chương trình tìm kiếm hạnh phúc cho khắp thế giới, không chỉ chú trọng vào “Mỹ Châu, Mỹ Châu, Mỹ Châu”.

Ông Arielle Gomberg nói “Tâm tư bình lặng của Ngài cũng giống như vùng đất New Jersey yên tĩnh, quê hương của một dải cây xanh bóng mát, rất hữu dụng”.

Buổi diễn thuyết này là một sự kiện lớn lao nhất không thuộc lãnh vực thể thao trong lịch sử Ðại học Rutgers, trên cả lần viếng thăm của cựu Tổng Thống Clinton và cựu Bộ Trưởng Tư Pháp Janet Reno.

Một hàng tu sĩ, tăng y truyền thống màu vàng và màu đỏ bầm ngồi gần diễn đàn trên mền, gối hoặc nệm trải lên khoảnh đất rộng từ 10 đến 20 yards trên sân vận động của Ðại Học Rutgers.

Ðức Ðạt Lai, người được giải Nobel Hòa Bình năm 1989, đã tiếp nhận bằng cấp danh dự từ Chủ Tịch của Ðại Học Rutgers. Ngài nói đó là một vinh hạnh để nhận lãnh bằng cấp mà không phải học hỏi và làm việc cật lực.

Trong bài thuyết giảng “Hòa Bình, Chiến Tranh và Hòa Giải”, Ðức Ðạt Lai đã nói giấc mộng của xã hội nên là một thế giới không có vũ khí nguyên tử và vũ khí sinh học.

Ngài nhấn mạnh vào sự nguy hại và tốn kém của nó, dẫn chứng rằng một số quốc gia Phi Châu có thừa thãi vũ khí nhưng không đủ thực phẩm.

Cũng trong ngày Chủ Nhật 25 tháng 09, 2005, Thị Trưởng New York Michael Bloomberg đã trao tặng cho Ngài chiếc chìa khóa của thành phố và xưng tán Ðức Lạt Ma là “Một ánh sáng đạo đức cho hằng triệu người trên thế giới, với một tiếng nói rõ ràng và bền bĩ cho nhân quyền”.

Ðức Ðạt Lai Lạt Ma chạy khỏi Tây Tạng năm 1959 sau một cuộc nổi dậy chống đối sự cai trị của Trung Quốc nhưng bị thất bại và hiện nay có một văn phòng lưu vong ở thị trấn Himalayan thuộc Dharmasala, Ấn Ðộ.
______________________________________________________________

No. 0526 NEW(Nhị Ðộ Mai dịch)

Phật tử tại West Bengal yêu cầu chính phủ công nhận Phật Đản là lễ công cộng.

UNI, September 10, 2005

Siliguri: West Bengal (India) Ngày 10 tháng 09, 2005 - Phật Tử trong vùng này đã yêu cầu chính phủ West Bengal tuyên bố Lễ Phật Đản là ngày lễ công cộng

Rất nhiều đoàn thể Phật tử khác nhau, bao gồm đoàn thể Phật tử Ấn Độ Tammang và Hội Ðồng Nghi Lễ kỷ niệm Khánh Đản lần thứ 2550 đã đệ trình lên Bộ truởng, ông Buddhadeb Bhattacharjee một bức thư trực tiếp, yêu cầu lễ Phật Đản năm tới được trả lương.

Hôm qua, 09 tháng 09, 2005 tại Darjeeling, Siligury và Jalpaiguri hàng ngàn Phật tử đã biểu tình hỗ trợ yêu cầu này.

Họ nói rằng Trung Ương đã công nhận Phật Đản là lễ công cộng từ lâu nhưng nó đã không được coi là lễ công cộng tại West Bengal.

Họ nói con số Phật tử trong vùng vào khỏang 100,000 (Một trăm ngàn) với nguồn sinh hoạt chính là những vườn trà và đồn điền cao su.

Thứ Năm, 29 tháng 9, 2005

Nhật Hành

Ngày: 29 Tháng 09 năm 2005

Tri chúng: Nhu Khanh

Tri chúng điền khuyết:

Môn học: Lớp Phật Pháp Phổ Thông


Bài học: Sáu Pháp đa tác dụng


Giảng sư chính: TT Tue Sieu


Giảng sư điền khuyết:


Vị Tăng hoặc Ni nói lời cầu nguyện đầu lớp học: DD Minh Hanh

Xướng ngôn viên: Hat Cat, Dieu Khiem, Khanh Van, Nguonduchanh, co Dieu Tinh, anitya, Nhi Do Mai

Xướng ngôn viên và điền khuyết cho bài học:Phần 1: .., đk: ..// Hoi Hướng: Nhu Khanh , đk: .. http://baidocmc.blogspot.com/

Xướng ngôn viên cho phần Đố Vui:


Người mở room: mindvox,

Người mở nhạc và kinh tụng: mindvox, Dieu Quang, Hat Cat


Người post bài cho Room: Nguonduchanh, mindvox va Hat Cat

Người post bài riêng cho chư Tăng: Nguonduchanh, mindvox va Hat Cat

Trực room (op):


Thông báo (nếu có):



Lớp Phật Học Phổ Thông

Giảng sư : TT Tuệ Siêu



Sáu Pháp đa tác dụng


Thế nào là sáu pháp đa tác dụng ?
Đó là sáu khả niệm pháp. Tức là có Thân nghiệp từ, có Khẩu nghiệp từ, có Ý nghiệp từ, cộng hưởng tài lộc, thành tựu an tịnh giới, thành tựu an tịnh tri kiến. Đây gọi là sáu khả niệm pháp. D.II, 281 ; A.II, 280.

Khả niệm pháp (sāraniyadhamma) là pháp làm cho sống thương tưởng nhau, sống thân ái, sống tương kính, đoàn kết, hòa hợp.

“Có Thân nghiệp từ” (mettākāyakamma), sống trong cộng đồng có thân hành hiền hòa, không tàn bạo, không hiếu sát.

“Có Khẩu nghiệp từ” (mettāvacīkamma), sống trong cộng đồng có lời nói ôn hòa, không thô lỗ, không hiếu tranh.

“Có Ý nghiệp từ” (mettāmanokamma), sống trong cộng đồng có tư tưởng thiện cảm với nhau, không ác ý, không oán ghét.

“Cộng hưởng tài lộc” (Sādhāraṇabhogī), Sống trong cộng đồng biết chia sẻ với nhau những gì mình có, phân phát đồng đều.

“Thành tựu giới an tịnh” (Sīla sāmaññatā), sống chung một hội chúng mỗi người có giới hạnh thanh tịnh, thành tựu giới cao thượng.

“Thành tựu kiến an tịnh” (diṭṭhisāmaññatā), sống chung một hội chúng mỗi người đều có tri kiến thanh tịnh, có tri kiến đúng pháp hướng thượng.


Thảo luận



1. Khi nói đến pháp làm cho hòa hợp, vì sao chỉ nói đến “tâm từ” mà không nói đến bi, hỷ, xả?


2. Tại sao thành tựu giới là một pháp đưa đến hòa hợp?

3. Nói rằng thành tựu Thánh Tri Kiến là một pháp hòa hợp, điều đó có ý nghĩa gì?





Câu đố vui



1. Theo tinh thần Phật giáo, sự hòa hợp của Tăng chúng là:
a. Đối xử với nhau bằng thiện cảm
b. Có đồng giới luật
c. Có đồng tri kiến
d. Cả ba đều đúng

2. Những người có đồng chánh kiến thì hòa hợp nhau, còn đồng tà kiến thì không hòa hợp nhau. Điều đó tại sao?
a. Vì chánh kiến là hiểu đúng chân lý, chân lý thì chỉ có một, còn tà kiến thì đa dạng
b. Vì người có chánh kiến, sống biết nhân biết quả, biết cảm thông người khác; người tà kiến thì không
c. Vì người có chánh kiến khi lý giải điều gì họ tôn trọng sự thật; còn người tà kiến thì không
d. Gồm cả ba điều trên

3. Người có từ tâm trong thân nghiệp, khẩu nghiệp và ý nghiệp sẽ khiến được mọi người thương tưởng bởi vì:
a. Người có tâm từ sẽ biểu hiện sắc diện khả ái.
b. Người có tâm từ không nóng giận với ai nên không có oan trái
c. Người có tâm từ khiến người khác sống gần sẽ an lạc
d. Câu b và c đúng


TIN TỨC


No. 0527 NEW(Khánh Văn dịch)

Nhà làm phim Shekhar Kapur miêu tả Đức Bồ Tát như một con người bình thường, không phải thần thoại.

KOLKATA, India – Cuốn phim Buddha mà ông Shekhar Kapur, nhà sản xuất phim đã quảng cáo rầm rộ trong thời gian qua mà hiện giờ vẫn chưa được quay, là một cuốn phim mà tác giả sẽ không ngần ngại mô tả cuộc đời niên thiếu cùng với những hưởng thụ vật chất của Đức Phật trước khi ngài thành đạo.

Nhà sản xuất phim ảnh của hãng Mcorp Global (ModiCorp), ông Shekhar Kapur, đã nói một cách rất rõ ràng là cũng như những cuốn phim mà ông đã sản xuất, phim Buddha sẽ dựa trên cuộc sống thật của Sĩ Đạt Ta, vị thái tử đã từng hưởng thụ mọi lạc thú của trần gian mà bất cứ một ai cũng mơ ước, và Đức Phật, đấng giác ngộ, đã từng là người chứng kiến những thống khổ cùng cực của nhân loại mà chúng ta không ai tưởng tượng nổi.

“Đây là câu chuyện của một người, đối diện với thử thách để chọn lựa giữa hai cực đoan. Và cuối cùng, Ngài đã chọn con đường đạo hạnh, từ bỏ những dục cảm khoái lạc. Như vậy, Đức Phật đã từng là người như tất cả chúng ta, nhưng đạt được giác ngộ giải thoát nhờ vào con đường đạo hạnh mà ngài đã chọn lựa với sự can đảm.” ông giám đốc của Mcorp đã nói như trên.

Bên cạnh những đoạn trong cuốn phim như giác ngộ giải thoát, cuộc chiến nội tâm, đi tìm chính mình, và nỗi thống khổ, sẽ có những đoạn như “khoái lạc”, “tình yêu” và “yêu ma ” là những diễn tiến không kém phần quan trọng khi nhắc đến cuộc đời của Đức Phật.

Được hỏi là với cuốn phim diễn tả cuộc đời Đức Phật như vậy có thể làm mất lòng Phật tử trên thế giới không? Ông Modi nói rằng: “Phật giáo là tôn giáo duy nhất không tin vào đấng tạo hóa. Đức Phật đã từng là thái tử, sống trong nhung lụa vàng son, đã lập gia đình, và đã có luôn một đứa con trai. Tất cả những điều này đã được xác nhận là những dự kiện đã xảy ra. Hoàn toàn là sự thật.”

“Cuốn phim này nhắm vào khán giả trên toàn thế giới, không chỉ dành riêng cho Phật tử, và cũng vì thế mà trình bày sự thật về cuộc đời Đức Phật là một điều rất quan trọng, nhất là cho những ai chưa từng biết đến Phật giáo”, ông Modi đã nói như trên.
Ông nói thêm “ Nếu như quốc gia nào không thích về cốt truyện này, chính quyền có thể cấm chiếu trong quốc gia ấy. Nhưng những diễn biến trong bộ phim phải được dựa trên sự thật để mọi người có thể tìm hiểu và nghiên cứu, nếu cần họ có thể kiểm chứng với những tư liệu lịch sử. Chúng tôi đã được khuyến khích để trình bày những dự kiện thật sự của lịch sử”.

Cuốn phim cũng sẽ đề cập đến điều mà ít người biết đến như võ thuật của thái tử Sĩ Đạt Đa thời niên thiếu, và lời tuyên truyền của ngài về việc sử dụng đàn voi để tăng cường sự phòng thủ trong những trận chiến.

Công cuộc nghiên cứu dữ liệu để dựng phim đã hoàn tất, trong thời gian tới ông sẽ hoàn thành việc thảo luận với chuyên viên kỹ thuật, và một vài cộng viên khác. Thành phần đóng phim sẽ bao gồm nhiều diễn viên trên thế giới. Ông Modi nói tiếp, hiện giờ còn quá sớm để nêu danh tài tử chính.

Richard Gere, một tài tử lừng danh và cũng là người giúp ích rất nhiều trong việc nghiên cứu tư liệu, sẽ đóng một vai quan trọng trong cuốn phim.
Công cuộc quay phim sẽ được bắt đầu vào cuối năm tới, ông Modi nói thêm. Ông dự trù sẽ tốn 60 triệu đô la để dựng lên cuốn phim và 70 triệu khác để chi phí cho việc quảng cáo trên toàn cầu.
_____________________________________________________________

No. 0496 NEW(Hạt Cát dịch)

Bằng cấp Phật học khiến các Lạt Ma Tây Tạng chạy đua học tập.

UPDATED: 17:35, August 29, 2005

Bản tin đăng tải trên trang Web Xinhuanet ngày 29 tháng 08, 2005
Baima Namyai, một tu sĩ Tây Tạng 21 tuổi, cảm thấy bị áp lực với công việc trong nhà bếp tại ngôi chùa mà Sư thường trú.

Sư nói “Tôi không ghét nấu bếp bởi vì cực khổ mà vì nó chiếm quá nhiều thời gian mà tôi có thể dùng vào việc nghiên cứu giáo lý”, vị tu sĩ của chùa Tashijapa ở huyện Xaitongmoin thuộc Xigaze nói như trên. Năm nay tới phiên của Sư Namgyai làm việc trong nhà bếp.

Vị tu sĩ trẻ mơ ước đạt được một bằng cấp tôn giáo trong hệ thống Gexe từ hệ phái Hoàng Mạo Gelugba của Phật Giáo Tây Tạng.

Namgyai nói rằng bằng cấp Gexe tương đương với bằng cấp tiến sĩ Phật học là một đề tài bàn tán phổ thông trong hàng ngũ tăng lữ kể từ khi hệ thống thi cử được phục hồi vào năm ngoái.

Sư nói “Chúng tôi hy vọng tất cả sẽ trở thành tiến sĩ Phật học và tôi e rằng tôi sẽ bị tụt lại đằng sau do việc nấu bếp này”.

Các kỳ thi thuộc hệ thống Gexe đã bị đình chỉ từ năm 1987 sau một vụ nổi loạn tại Lhasa, vùng thủ đô Tây Tạng, xảy ra đồng thời với kỳ thi năm đó.

Trong ngôn ngữ Tây Tạng, Gexe có nghĩa là thông thái. Sáu vị Lạt Ma đã nhận lãnh giải danh dự Lharampa, bằng cấp cao nhất trong bốn cấp thuộc hệ thống Gexe hồi tháng Sáu năm nay.

Sáu tuyển sinh được tặng thưởng danh hiệu sau khi họ đã bảo vệ luận án trước ban hội thẩm 16 thành viên, gồm các Lạt Ma cao cấp từ nhiều tu viện và những học giả Phật Giáo Tây Tạng tại tu viện Monlam Qemo hoặc Grand Summon Ceremony, tổ chức ở chùa Jokhang ở Lhasa.

Nghi thức này được thành lập bởi Ðại Sư Tông Khách Ba, vị khai sáng phái Hoàng Mạo vào năm 1409.

Tu viện có thể trao tặng ba bằng cấp khác cho các tăng sĩ của họ sau kỳ thi tuyển.

Ðối với Namgyai, một cấp bằng hệ thống Gexe đáng giá hơn những cấp bằng học thuật khác.
“Trong vai trò một tu sĩ, quan trọng nhất đối với tôi là thể nhập được giáo pháp”

“Một tu sĩ nếu chỉ có thể tụng kinh nhưng không thể áp dụng Phật Pháp vào đời sống thường nhật sẽ không thể chú nguyện từ tận đáy lòng cho hạnh phúc của tất cả chúng sinh”.

Lạt Ma Jigme Chagba từ Tu Viện Gandan ở Lhasa, nơi khai sinh hệ phái Gelugba, phái Hoàng Mạo thuộc Phật Giáo Tây Tạng, là một trong sáu tuyển sinh được giải danh dự Lharampa Gexe.

Vị Tu sĩ 73 tuổi này cảm thấy hài lòng vì hệ thống học thuật Phật Giáo đã được phục hồi.

Ông nói “Mơ ước suốt đời thành đạt cấp bằng của tôi đã được hoàn thành . Tôi tin tưởng rằng những tu sĩ khác hiện nay đang có một mục đích rõ rệt hơn trong đời sống tu học nghiên cứu Phật pháp”.

Lat Ma Ngagwang, một tu sĩ thuộc hội đồng quản trị tu viện nói “Hơn 30 tu sĩ trong tu viện có đủ tiêu chuẩn của ứng viên trình độ Gexe nhưng chỉ có hai trong số đó đủ may mắn ngồi vào ghế ứng thí kỳ thi lấy cấp bằng danh dự Lharampa mỗi năm”.

Tu sĩ nào muốn tham dự kỳ thi chung kết phải là người xuất sắc trong tất cả thí sinh tại tu viện của họ. Có cả thảy 450 tu sĩ trong tu viện.

Ông nói rằng sự tranh đua vì cấp bằng danh dự sẽ trở nên dữ dội hơn trong tương lai vì rằng nó không chỉ là một kỳ thi giữa các Lat Ma mà còn là một sự tranh đua trong trình độ Phật học giữa các chùa với nhau.

Thêm vào trong luận án truyền thống, một ứng viên trình độ Gexe hiện nay còn phải vượt qua được kỳ thi kiến thức phổ thông.

Ông Jigme Chagba nói “Người mang danh hiệu Gexe phải thông thạo Phật pháp. Trong kỷ nguyên mới, điều thích đáng hơn là họ cần học thêm Hoa Văn và Anh Văn cũng như kiến thức khoa học để có thể dễ dàng truyền giáo lý Phật Giáo Tây Tạng tốt hơn”.

Thứ Tư, 28 tháng 9, 2005

Nhật Hành

Ngày: 28 tháng 09 năm 2005

Tri chúng: Hat Cat

Tri chúngđiền khuyết:

Môn học:


Bài học: Niệm Sự Chết

Giảng sư chính: Ngài Satyapal

Giảng sư điền khuyết:


Vị Tăng hoặc Ni nói lời cầu nguyện đầu lớp học: DD minh hanh

Xướng ngôn viên: Như Khanh, Nguonduchanh, anitya, Khánh Văn, Nhi Do Mai, Sangkhaly

http://baidocmc.blogspot.com/

Người mở room: Dieu Quang va mindvox

Người mở nhạc và kinh tụng: Diệu Quang ,Hạt Cát,


Người post bài cho Room: Nhu Phuc
va mindvox

Người post và gửi bài riêng cho chư Tăng: Nhu Phuc

Trực room (op): Nhu Phuc


Thông báo (nếu có):
Niệm Sự Chết (tiếp theo)

Giảng sư : Ngài Satyapal



_____________________________________________________________


TIN TỨC


No. 0527 NEW(Khánh Văn dịch)

Nhà làm phim Shekhar Kapur miêu tả Đức Bồ Tát như một con người bình thường, không phải thần thoại.

KOLKATA, India – Cuốn phim Buddha mà ông Shekhar Kapur, nhà sản xuất phim đã quảng cáo rầm rộ trong thời gian qua mà hiện giờ vẫn chưa được quay, là một cuốn phim mà tác giả sẽ không ngần ngại mô tả cuộc đời niên thiếu cùng với những hưởng thụ vật chất của Đức Phật trước khi ngài thành đạo.

Nhà sản xuất phim ảnh của hãng Mcorp Global (ModiCorp), ông Shekhar Kapur, đã nói một cách rất rõ ràng là cũng như những cuốn phim mà ông đã sản xuất, phim Buddha sẽ dựa trên cuộc sống thật của Sĩ Đạt Ta, vị thái tử đã từng tắm gội trong khoái lạc của trần gian mà bất cứ một ai cũng mơ ước, và Đức Phật, đấng giác ngộ, đã từng là người chứng kiến những thống khổ cùng cực của nhân loại mà chúng ta không ai tưởng tượng nổi.

“Đây là câu chuyện của một người, đối diện với thử thách để chọn lựa giữa hai cực đoan. Và cuối cùng, Ngài đã chọn con đường đạo hạnh, từ bỏ những dục cảm khoái lạc. Như vậy, Đức Phật đã từng là người như tất cả chúng ta, nhưng đạt được giác ngộ giải thoát nhờ vào con đường đạo hạnh mà ngài đã chọn lựa với sự can đảm.” ông giám đốc của Mcorp đã nói như trên.

Bên cạnh những đoạn trong cuốn phim như giác ngộ giải thoát, cuộc chiến nội tâm, đi tìm chính mình, và nỗi thống khổ, sẽ có những đoạn như “khoái lạc”, “tình yêu” và “yêu ma ” là những diễn tiến không kém phần quan trọng khi nhắc đến cuộc đời của Đức Phật.

Được hỏi là với cuốn phim diễn tả cuộc đời Đức Phật như vậy có thể làm mất lòng Phật tử trên thế giới không? Ông Modi nói rằng: “Phật giáo là tôn giáo duy nhất không tin vào đấng tạo hóa. Đức Phật đã từng là thái tử, sống trong nhung lụa vàng son, đã lập gia đình, và đã có luôn một đứa con trai. Tất cả những điều này đã được xác nhận là những dự kiện đã xảy ra. Hoàn toàn là sự thật.”

“Cuốn phim này nhắm vào khán giả trên toàn thế giới, không chỉ dành riêng cho Phật tử, và cũng vì thế mà trình bày sự thật về cuộc đời Đức Phật là một điều rất quan trọng, nhất là cho những ai chưa từng biết đến Phật giáo”, ông Modi đã nói như trên.
Ông nói thêm “ Nếu như quốc gia nào không thích về cốt truyện này, chính quyền có thể cấm chiếu trong quốc gia ấy. Nhưng những diễn biến trong bộ phim phải được dựa trên sự thật để mọi người có thể tìm hiểu và nghiên cứu, nếu cần họ có thể kiểm chứng với những tư liệu lịch sử. Chúng tôi đã được khuyến khích để trình bày những dự kiện thật sự của lịch sử”.

Cuốn phim cũng sẽ đề cập đến điều mà ít người biết đến như võ thuật của thái tử Sĩ Đạt Đa thời niên thiếu, và lời tuyên truyền của ngài về việc sử dụng đàn voi để tăng cường sự phòng thủ trong những trận chiến.

Công cuộc nghiên cứu dữ liệu để dựng phim đã hoàn tất, trong thời gian tới ông sẽ hoàn thành việc thảo luận với chuyên viên kỹ thuật, và một vài cộng viên khác. Thành phần đóng phim sẽ bao gồm nhiều diễn viên trên thế giới. Ông Modi nói tiếp, hiện giờ còn quá sớm để nêu danh tài tử chính.

Richard Gere, một tài tử lừng danh và cũng là người giúp ích rất nhiều trong việc nghiên cứu tư liệu, sẽ đóng một vai quan trọng trong cuốn phim.
Công cuộc quay phim sẽ được bắt đầu vào cuối năm tới, ông Modi nói thêm. Ông dự trù sẽ tốn 60 triệu đô la để dựng lên cuốn phim và 70 triệu khác để chi phí cho việc quảng cáo trên toàn cầu.
_____________________________________________________________

No. 0496 NEW(Hạt Cát dịch)

Bằng cấp Phật học khiến các Lạt Ma Tây Tạng chạy đua học tập.

UPDATED: 17:35, August 29, 2005

Bản tin đăng tải trên trang Web Xinhuanet ngày 29 tháng 08, 2005
Baima Namyai, một tu sĩ Tây Tạng 21 tuổi, cảm thấy bị áp lực với công việc trong nhà bếp tại ngôi chùa mà Sư thường trú.

Sư nói “Tôi không ghét nấu bếp bởi vì cực khổ mà vì nó chiếm quá nhiều thời gian mà tôi có thể dùng vào việc nghiên cứu giáo lý”, vị tu sĩ của chùa Tashijapa ở huyện Xaitongmoin thuộc Xigaze nói như trên. Năm nay tới phiên của Sư Namgyai làm việc trong nhà bếp.

Vị tu sĩ trẻ mơ ước đạt được một bằng cấp tôn giáo trong hệ thống Gexe từ hệ phái Hoàng Mạo Gelugba của Phật Giáo Tây Tạng.

Namgyai nói rằng bằng cấp Gexe tương đương với bằng cấp tiến sĩ Phật học là một đề tài bàn tán phổ thông trong hàng ngũ tăng lữ kể từ khi hệ thống thi cử được phục hồi vào năm ngoái.

Sư nói “Chúng tôi hy vọng tất cả sẽ trở thành tiến sĩ Phật học và tôi e rằng tôi sẽ bị tụt lại đằng sau do việc nấu bếp này”.

Các kỳ thi thuộc hệ thống Gexe đã bị đình chỉ từ năm 1987 sau một vụ nổi loạn tại Lhasa, vùng thủ đô Tây Tạng, xảy ra đồng thời với kỳ thi năm đó.

Trong ngôn ngữ Tây Tạng, Gexe có nghĩa là thông thái. Sáu vị Lạt Ma đã nhận lãnh giải danh dự Lharampa, bằng cấp cao nhất trong bốn cấp thuộc hệ thống Gexe hồi tháng Sáu năm nay.

Sáu tuyển sinh được tặng thưởng danh hiệu sau khi họ đã bảo vệ luận án trước ban hội thẩm 16 thành viên, gồm các Lạt Ma cao cấp từ nhiều tu viện và những học giả Phật Giáo Tây Tạng tại tu viện Monlam Qemo hoặc Grand Summon Ceremony, tổ chức ở chùa Jokhang ở Lhasa.

Nghi thức này được thành lập bởi Ðại Sư Tông Khách Ba, vị khai sáng phái Hoàng Mạo vào năm 1409.

Tu viện có thể trao tặng ba bằng cấp khác cho các tăng sĩ của họ sau kỳ thi tuyển.

Ðối với Namgyai, một cấp bằng hệ thống Gexe đáng giá hơn những cấp bằng học thuật khác.
“Trong vai trò một tu sĩ, quan trọng nhất đối với tôi là thể nhập được giáo pháp”

“Một tu sĩ nếu chỉ có thể tụng kinh nhưng không thể áp dụng Phật Pháp vào đời sống thường nhật sẽ không thể chú nguyện từ tận đáy lòng cho hạnh phúc của tất cả chúng sinh”.

Lạt Ma Jigme Chagba từ Tu Viện Gandan ở Lhasa, nơi khai sinh hệ phái Gelugba, phái Hoàng Mạo thuộc Phật Giáo Tây Tạng, là một trong sáu tuyển sinh được giải danh dự Lharampa Gexe.

Vị Tu sĩ 73 tuổi này cảm thấy hài lòng vì hệ thống học thuật Phật Giáo đã được phục hồi.

Ông nói “Mơ ước suốt đời thành đạt cấp bằng của tôi đã được hoàn thành . Tôi tin tưởng rằng những tu sĩ khác hiện nay đang có một mục đích rõ rệt hơn trong đời sống tu học nghiên cứu Phật pháp”.

Lat Ma Ngagwang, một tu sĩ thuộc hội đồng quản trị tu viện nói “Hơn 30 tu sĩ trong tu viện có đủ tiêu chuẩn của ứng viên trình độ Gexe nhưng chỉ có hai trong số đó đủ may mắn ngồi vào ghế ứng thí kỳ thi lấy cấp bằng danh dự Lharampa mỗi năm”.

Tu sĩ nào muốn tham dự kỳ thi chung kết phải là người xuất sắc trong tất cả thí sinh tại tu viện của họ. Có cả thảy 450 tu sĩ trong tu viện.

Ông nói rằng sự tranh đua vì cấp bằng danh dự sẽ trở nên dữ dội hơn trong tương lai vì rằng nó không chỉ là một kỳ thi giữa các Lat Ma mà còn là một sự tranh đua trong trình độ Phật học giữa các chùa với nhau.

Thêm vào trong luận án truyền thống, một ứng viên trình độ Gexe hiện nay còn phải vượt qua được kỳ thi kiến thức phổ thông.

Ông Jigme Chagba nói “Người mang danh hiệu Gexe phải thông thạo Phật pháp. Trong kỷ nguyên mới, điều thích đáng hơn là họ cần học thêm Hoa Văn và Anh Văn cũng như kiến thức khoa học để có thể dễ dàng truyền giáo lý Phật Giáo Tây Tạng tốt hơn”.

Thứ Ba, 27 tháng 9, 2005

Nhật Hành

Ngày: 27 tháng 09 năm 2005

Tri chúng: Duong Tieu

Tri chúngđiền khuyết:

Môn học: Lớp Phật Học Cơ Bản


Bài học:


Giảng sư chính: Ngài Satyapal

Giảng sư điền khuyết: TT Giác Đẳng


Vị Tăng hoặc Ni nói lời cầu nguyện đầu lớp học: DD minh hanh

Xướng ngôn viên: Nguồn Đức Hạnh,Sangkhaly , anitya, Khanh Van, Nhi Do Mai


Xướng ngôn viên cho bài học: Phần 1:..đk:... // Hoi Hướng:..., đk: http://baidocmc.blogspot.com/


Xướng ngôn viên cho phần Tin tức :

Người mở room: Dieu Quang va mindvox


Người mở nhạc và kinh tụng: Diệu Quang ,Anitya
va mindvox

Người post bài cho Room: Nhu Phuc va mindvox


Người post và gửi bài riêng cho chư Tăng: Nhu Phuc va mindvox

Trực room (op):

Thông báo (nếu có):