Thứ Năm, 28 tháng 7, 2005
Phật Pháp Phổ Thông
Giảng sư điền khuyết: TK Giác Đẳng
Bài 7: Tái Sanh
Trích từ "Đức Phật Và Phật Pháp" - Narada - bản dịch của Phạm Kim Khánh
1
Do đâu ta tin có tái sanh?
Đối với người Phật tử, Đức Phật có đủ uy quyền nhất để thuyết minh vấn đề Tái Sanh. Chính trong đêm Ngài đắc Quả Chánh Đẳng Chánh Giác, lúc canh một, Đức Phật chứng ngộ Túc Mạng Minh là tuệ biết rỏ những kiếp quá khứ .
Ngài nói: "Như Lai đã nhớ lại nhiều kiếp sống trong quá khứ như thế nầy: trước hết một kiếp, rồi hai kiếp, rồi ba, bốn, năm, mười, hai mươi, đến năm mươi, rồi một trăm, một ngàn, một trăm ngàn kiếp v.v... " [1]
Vào canh hai, Đức Phật chứng đắc Thiên Nhãn Minh, nhận thấy chúng sanh chết từ kiếp sống nầy tái sanh vào một kiếp sống khác. Ngài chứng kiến cảnh tượng "kẻ sang người hèn, kẻ đẹp người xấu, kẻ hạnh phúc người khốn khổ, chúng sanh hoại diệt và tái sanh, tùy hành vi tạo tác của mỗi người".
Đó là những Phật ngôn đề cập đến vấn đề tái sanh. Những đoạn kinh tham khảo trong kinh điển liên quan đến thuyết tái sanh chứng tỏ rằng Đức Phật không dựa vào một nguồn hiểu biết nào sẳn có để giải thích chân lý hiển nhiên nầy. Ngài chỉ dựa trên kinh nghiệm bản thân và nhận thức cá nhân của chính Ngài, một nhận thức tuy siêu phàm nhưng mỗi chúng ta đều có thể thành đạt nếu trau giồi rèn luyện đúng mức.
Trong bài kệ hoan hỷ (Udana) đầu tiên, Đức Phật tuyên ngôn:
"Xuyên qua kiếp sống nầy (anekajati), Như Lai lang thang đi, đi mãi, để tìm người thợ cất cái nhà nầy. Phiền muộn thay những kiếp sống triền miên lặp đi lặp lại (dukkha jati punappunam)." [2]
Trong bài kinh Pháp đầu tiên, kinh Chuyển Pháp Luân (Dhammacakka sutta) [3] Đức Phật đề cập đến chân lý thâm diệu thứ nhì như sau: "Chính Ái Dục dẫn dắt chúng sanh đi tái sanh"(yayam tanha ponobhavika). Và Đức Phật kết luận bài Pháp: "Đây là kiếp sống cuối cùng của Như Lai. Từ đây Như Lai không còn tái sanh nữa (ayam anyima jati natthi dani punabbhavo)."
Trong bộ Majjhima Nikaya, Trung A Hàm, có ghi rằng, sau khi thành tựu Đạo Quả Phật, vì lòng thương chúng sanh, Ngài dùng tuệ nhãn quan sát chúng sanh trước khi quyết định hoằng dương Giáo Pháp. Ngài nhận thấy rằng có những chúng sanh biết tội lỗi, sợ tái sanh, sợ mãi mãi sanh-tử, tử-sanh trong vòng luân hồi (paralokavajjabhaya-dassavino). [4]
Trong nhiều đoạn kinh khác nhau, Đức Phật dạy rỏ ràng rằng có những kẻ phải bị sanh vào cảnh khổ vì đã sống cuộc đời tội lỗi ô trược và có người, nhờ hành thiện, tạo nghiệp lành, được tái sanh vào nhàn cảnh.
Ngoài những tích truyện thú vị trong Túc Sanh Truyện (Jataka), một bộ truyện có giá trị luân lý quan trọng ghi lại các tiền kiếp của Đức Phật, hai bộ Majjhima Nikaya (Trung A Hàm) và Anguttara Nikaya (Tăng Nhứt A Hàm) thỉnh thoảng cũng đề cập đến những kiếp sống quá khứ của Đức Phật.
Trong kinh Ghatikara sutta [5], Đức Phật cũng thuật lại cho Đại Đức Ananda rằng trong một tiền kiếp, vào thời Đức Phật Kassapa, ngài là Jotipala. Kinh Anathapindikovada sutta [6] cũng ghi rằng liền sau khi tái sanh vào cảnh trời, nhà triệu phú Anathapindika (Cấp Cô Độc) trở về viếng Đức Phật đêm sau. Trong bộ Anguttara Nikaya [7], Tăng Nhứt A Hàm, Đức Phật nhắc đến một kiếp sống quá khứ Ngài có tên Pacetana. Trong bộ Samyutta Nikaya, Tạp A Hàm, Đức Phật kể tên vài vị Phật đã thị hiện trên thế gian trước Ngài.
Maha-Parinibbana sutta (Kinh Đại Niết Bàn) [8] ghi rằng một hôm Đại Đức Ananda đến bạch với Đức Phật, hỏi thăm về số phận của một số người chết trong làng nọ. Đức Phật nhẫn nại diễn tả trường hợp từng người, từng hoàn cảnh.
Những trường hợp tương tợ rất nhiều trong Tam Tạng Kinh, chứng tỏ Đức Phật giảng giải giáo thuyết tái sanh như một chân lý có thể kiểm chứng. [9]
2
Theo lời chỉ dạy của Đức Phật, trong hàng đệ tử của Ngài có nhiều vị tu hành đúng đắn, trau giồi và phát triển trí tuệ đúng mức, đã được biết ít nhiều về tiền kiếp của mình trong vô lượng kiếp sống. Tuệ giác của Đức Phật vô hạn định.
Trước thời Đức Phật, một vị nọ người Ấn Độ Rishis, cũng nổi tiếng nhờ những phép thần thông như thiên nhãn, thiên nhĩ, thần giao cánh cảm, viễn giác, viễn cảm v.v...
Mặc dầu khoa học chưa tiến đến mức am hiểu những pháp siêu thường, theo Phật Giáo, người trau giồi thiền tập và phát triển tâm lực đầy đủ có thể nhớ những việc xảy ra trong các kiếp quá khứ cũng như một việc đã xảy diễn vào lúc nào trong kiếp sống nầy. Xuyên qua những người ấy, ta có thể giao cảm trực tiếp với những cảnh giới khác bằng tư tưởng và tri giác, không phải bằng năm giác quan thường.
Cũng có một vài người khác thường, nhất là các em bé, do luật phối hợp tư tưởng bất ngờ, sực nhớ lại đoạn nào hoặc một vài chi tiết trong những kiếp sống quá khứ [10]. Sách có chép rằng Pythagoras đã nhớ lại tường tận cái nhẫn mà ông đã dùng trong một tiền kiếp, lúc ấy ông vây hãm thành Troy. Trong kiếp tái sanh làm Pythagoras, cái nhẫn ấy vẫn còn để trong một đền thờ Hy Lạp. [11]
Có một em bé, nhờ cách nọ hay cách kia, nhớ lại kiếp trước. Nhưng đến khi lớn lên thì em không còn nhớ nữa. Do những thí nghiệm của các nhà tâm linh học trứ danh, những hiện tượng ma quỷ, những sự giao cảm giữa hai cảnh âm dương, những sự kiện mà ta thường gọi là có một số âm linh nhập v.v... cũng đem lại một vài tia sáng cho vấn đề tái sanh. [12]
Trong trạng thái thôi miên, có vài người đã thuật lại những kinh nghiệm của mình ở kiếp quá khứ. Cũng có một ít người khác, như trường hợp Edgar Casey ở Mỹ Quốc, chẳng những thấy được kiếp trước của người khác nhờ đó mà còn có thể chữa bệnh cho họ.
Ta có thể giải thích những hiện tượng ấy rằng đó là nhờ người kia nhớ lại những kinh nghiệm ở kiếp trước, hoặc có một âm linh nhập. Cách giải thích thứ nhất có vẽ hợp lý hơn nhưng ta cũng không hoàn toàn bác bỏ cách giải thích thứ nhì. [13]
Bao nhiêu lần tình cờ mà ta gặp một người trước kia chưa từng gặp, nhưng trong trí vẫn nhớ hình như đã quen biết đâu đây? Bao nhiêu lần ta mục kích một cảnh lạ chưa từng đến, nhưng tự nhiên có cảm giác đã quen thuộc một lúc nào [14].
Trong Chú Giải Kinh Pháp Cú có ghi lại câu truyện hai vợ chồng người kia, khi gặp Đức Phật thì quỳ dưới chân Ngài, bạch rằng:
"Nầy con yêu dấu, có phải chăng phận sự con là phụng dưỡng cha mẹ lúc tuổi già? Tại sao bấy lâu nay con không đến thăm viếng cha mẹ? Đây là lần đầu tiên mà cha mẹ gặp lại con."
Đức Phật giải thích rằng sở dĩ có sự bộc khởi mối thâm tình một cách đột ngột và bất ngờ như vậy là vì trong nhiều kiếp sống quá khứ hai ông bà đã làm cha mẹ Ngài, và Đức Phật dạy:
"Do hoàn cảnh thân cận trong quá khứ hay thuận lợi trong hiện tại.
Tình thâm ở thời xa xôi ấy mọc lên trở lại như hoa sen mọc trong nước. [15]"
Trên thế gian có những nhân vật cao siêu xuất chúng, những bậc toàn giác như Đức Phật. Có thể nào chỉ trong một thời gian của một kiếp sống mà có thể trau giồi trí tuệ đến mức cao siêu toàn thiện như vậy chăng? Có thể nào có tình trạng tiến hóa đột ngột như vậy chăng?
Ta giải thích thế nào về trường hợp của những nhân vật như Đức Khổng Tử, Homer, Panini, Buddhaghosa, và Plato, những bậc thiên tài xuất chúng như Kalidasa, Shakespeare, và những hạng thần đồng như Ramanujan, Pascal, Mozart, Beethoven v.v...?
Các bậc cao siêu xuất chúng như vậy, dĩ nhiên đã trãi qua nhiều kiếp sống cao thượng trong quá khứ và đã từng thâu thập những kinh nghiệm tương tợ. Phải chăng là sự ngẫu nhiên hay hoàn cảnh thuận lợi đã đưa các vị ấy vào trong gia đình họ?
Trong trường hợp các thần đồng hình như cũng tạo nên những thắc mắc cho các nhà khoa học. Vài nhân vật trong ngành y học giải thích rằng những hiện tượng như thần đồng, phát sanh do sự phát triển khác thường của những hạch tuyến như hạch màn mũi, từng quả tuyến và hạch thận tuyến. Nguyên nhân sự phát triển khác thường của các hạch tuyến ấy bên trong vài cá nhân nhất định cũng có thể là do nghiệp quá khứ. Tuy nhiên, nếu chỉ một vài hạch tuyến phát triển khác thường, làm sao Christian Heineken có thể nói chuyện ngay vài tiếng đồng hồ sau khi được sanh ra, đọc lại nhiều đoạn trong thánh kinh lúc lên một, trả lời những câu hỏi về địa dư lúc lên hai, nói được tiếng Pháp và tiếng La Tinh lúc lên ba, và khi lên bốn đã theo học các lớp triết? Nếu chỉ vì có một vài hạch tuyến phát triển khác thường thì làm sao John Stuart Mill có thể đọc chữ Hy Lạp lúc mới ba tuổi, làm sao Macaulay có thể viết Thế Giới Sử lúc vừa sáu tuổi, làm sao William James Sidis đọc và viết rành chữ mẹ đẻ (Hoa Kỳ) lúc mới lên hai, đã đọc và viết những tiếng Pháp, Nga, Anh, Đức và chút ít La Tinh và Hy Lạp khi lên tám, làm sao Charles Bennet ở Manchester có thể nói được nhiều thứ tiếng lúc mới ba tuổi? Những người không phải trong giới khoa học có giải thích được chăng các sự kiện lạ lùng ấy? [16] Các nhà khoa học có giải thích được chăng vì sao các hạch tuyến ấy lại phát triển khác thường trong một vài người mà không phát triển trong người khác, hay tất cả mọi người? Vấn đề thực sự còn chưa được giải quyết.
Thuyết truyền thống riêng rẽ không đủ để giải thích các trường hợp thần đồng.
"Phải chi trong ông bà cha mẹ hay trong hàng con cháu các vị ấy cũng có những thần đồng, dầu kém hơn, thì cũng là những sự kiện để chứng minh thuyết truyền thống."
Để giải thích vấn đề phức tạp ấy một cách thỏa đáng ta phải thêm vào thuyết truyền thống lý Nghiệp Báo và Tái Sanh.
Có lý do nào để tin rằng chỉ vỏn vẹn kiếp sống hiện tại nầy mà đủ có thể quyết định hạnh phúc vĩnh cửu hay cảnh khốn cùng vô tận trong tương lai không? Bao nhiêu cố gắng trong kiếp sống ngắn ngủi nhiều lắm là một trăm năm có thể là sự chuẩn bị thích nghi cho cuộc sống vĩnh cửu không?
Nếu chúng ta tin có hiện tại và tương lai, tất nhiên chúng ta tin có quá khứ.
Nếu có những lý do để tin rằng có những kiếp sống trong quá khứ thì cố nhiên chúng ta không có lý do nào để không tin rằng sau khi kiếp hiện tại tạm thời chấm dứt chúng ta vẫn tiếp tục sống. [17]
Chính những kiếp sống quá khứ và vị lai giải thích vì sao trong đời, lắm khi người hiền lương đạo đức phải chịu gian lao khốn khổ và có những người gian ác tàn bạo lại được giàu sang may mắn. [18]
Chúng ta sanh ra trong trạng thái mà chính hành động của ta trong quá khứ đã tạo nên. Nếu trong kiếp hiện tại, mặc dầu sống trong sạch, mà ta gặp phải những điều bất hạnh thì nên biết rằng đó là do nghiệp xấu của ta trong quá khứ. Trái lại, nếu đời sống nhơ bẩn tội lỗi mà ta vẫn được an vui hạnh phúc, giàu sang, may mắn, thì đó cũng do nghiệp tốt của ta đã tạo trong quá khứ. Hành động tốt và xấu của ta trong hiện tại cũng sẽ tạo quả ngay khi cơ duyên hội đủ.
Mộ văn hào Tây Phương nói:
"Dầu tin có những kiếp sống quá khứ hay không, niềm tin nầy là giả thuyết hợp lý duy nhất khả dĩ bắt nhịp cầu để vượt qua những cái hố trong sự hiểu biết của chúng ta về các sự kiện trong đời sống hằng ngày. Lý trí cho ta biết rằng ý niệm về đời sống quá khứ và lý nghiệp báo có thể giải thích chẳng hạn như mức độ khác biệt giữa hai đứa trẻ sanh đôi, như làm thế nào có người như Shakespeare, với kinh nghiệm ít ỏi, giới hạn trong một kiếp sống, có thể mô tả chính xác một cách kỳ diệu bao nhiêu nhân vật, thuộc nhiều loại rất khác nhau, những cảnh tượng v.v... mà thực ra ông không thể biết được. Nó giải thích tại sao các tác phẩm của các bậc vĩ nhân vượt lên khỏi rất xa kinh nghiệm mà các vị ấy có thể có. Nó giải thích hiện tượng thần đồng và sự khác biệt sâu xa giữa người nầy và người khác, trên phương diện tâm trí, đạo đức, tinh thần và vật chất, điều kiện, hoàn cảnh v.v... mà ta có thể quan sát ở khắp nơi trên thế gian."
3
Nghiệp Báo và Tái Sanh giải thích những gì?
Thuyết Nghiệp Báo và Tái Sanh giải thích:
1.- Vấn đề đau khổ mà chính ta phải chịu trách nhiệm;
2.- Tình trạng chênh lệch tựa hồ như bất công giữa người và người;
3.- Sự hiện hữu của những bậc vĩ nhân và những thần đồng;
4.- Tại sao hai trẻ sanh đôi giống nhau y hệt về mặt vật chất, được nuôi dưỡng y như nhau, mà lại có những đặc tính hoàn toàn khác biệt về mặt tinh thần, đạo đức và trí tuệ;
5.- Tại sao trong một gia đình, nếu theo định luật truyền thống thì con cái phải giống nhau hết, mà trong thực tế thì lại khác;
6.- Tại sao có những người có khiếu đặc biệt:
7.- Tại sao cha mẹ và con cái lại có những đặc tính khác nhau về mặt đạo đức và trí tuệ;
8.- Tại sao trẻ con lại có những tật xấu như tham lam, sân hận, ganh tỵ;
9.- Tại sao khi gặp một người nào lần đầu tiên, ta đã có thiện cảm hay ác cảm;
10.- Tại sao trong mỗi người lại có tiềm tàng ngủ thầm "một kho tàng đức hạnh và một hầm tật xấu";
11.- Tại sao có sự thay đổi bất ngờ, bậc thiện trí thức trở thành tầm thường hay kẻ sát nhân bổng nhiên đổi tánh, sống như bậc thánh;
12.- Tại sao có trường hợp cha mẹ hiền lương mà sanh con hung ác, trái lại cha mẹ hung dữ lạisanh con nhân từ;
13.- Tại sao, một đàng, ta như thế nào trong hiện tại là do ta đã như thế nào trong quá khứ, và ta sẽ như thế nào trong tương lai là do ta như thế nào trong hiện tại; theo một đàng khác, trong hiện tại ta như thế nào không hoàn toàn bởi vì trong quá khứ ta đã như thế nào và trong tương lai ta sẽ như thế nào cũng không hoàn toàn tùy thuộc nơi chúng ta như thế nào trong hiện tại;
14.- Tại sao có những cái chết đột ngột và có sự thay đổi bất ngờ về tài sản sự nghiệp;
15.- Và trên tất cả, thuyết Nghiệp Báo và Tái Sanh giải thích vì sao có bậc toàn giác, những bậc giáo chủ toàn thiện như chư Phật, với đầy đủ đức tánh vật lý, tinh thần và trí tuệ
Hôm nay vì bài học dài nên không có bản tin và đố vui
Giảng sư điền khuyết: TK Giác Đẳng
Bài 7: Tái Sanh
Trích từ "Đức Phật Và Phật Pháp" - Narada - bản dịch của Phạm Kim Khánh
1
Do đâu ta tin có tái sanh?
Đối với người Phật tử, Đức Phật có đủ uy quyền nhất để thuyết minh vấn đề Tái Sanh. Chính trong đêm Ngài đắc Quả Chánh Đẳng Chánh Giác, lúc canh một, Đức Phật chứng ngộ Túc Mạng Minh là tuệ biết rỏ những kiếp quá khứ .
Ngài nói: "Như Lai đã nhớ lại nhiều kiếp sống trong quá khứ như thế nầy: trước hết một kiếp, rồi hai kiếp, rồi ba, bốn, năm, mười, hai mươi, đến năm mươi, rồi một trăm, một ngàn, một trăm ngàn kiếp v.v... " [1]
Vào canh hai, Đức Phật chứng đắc Thiên Nhãn Minh, nhận thấy chúng sanh chết từ kiếp sống nầy tái sanh vào một kiếp sống khác. Ngài chứng kiến cảnh tượng "kẻ sang người hèn, kẻ đẹp người xấu, kẻ hạnh phúc người khốn khổ, chúng sanh hoại diệt và tái sanh, tùy hành vi tạo tác của mỗi người".
Đó là những Phật ngôn đề cập đến vấn đề tái sanh. Những đoạn kinh tham khảo trong kinh điển liên quan đến thuyết tái sanh chứng tỏ rằng Đức Phật không dựa vào một nguồn hiểu biết nào sẳn có để giải thích chân lý hiển nhiên nầy. Ngài chỉ dựa trên kinh nghiệm bản thân và nhận thức cá nhân của chính Ngài, một nhận thức tuy siêu phàm nhưng mỗi chúng ta đều có thể thành đạt nếu trau giồi rèn luyện đúng mức.
Trong bài kệ hoan hỷ (Udana) đầu tiên, Đức Phật tuyên ngôn:
"Xuyên qua kiếp sống nầy (anekajati), Như Lai lang thang đi, đi mãi, để tìm người thợ cất cái nhà nầy. Phiền muộn thay những kiếp sống triền miên lặp đi lặp lại (dukkha jati punappunam)." [2]
Trong bài kinh Pháp đầu tiên, kinh Chuyển Pháp Luân (Dhammacakka sutta) [3] Đức Phật đề cập đến chân lý thâm diệu thứ nhì như sau: "Chính Ái Dục dẫn dắt chúng sanh đi tái sanh"(yayam tanha ponobhavika). Và Đức Phật kết luận bài Pháp: "Đây là kiếp sống cuối cùng của Như Lai. Từ đây Như Lai không còn tái sanh nữa (ayam anyima jati natthi dani punabbhavo)."
Trong bộ Majjhima Nikaya, Trung A Hàm, có ghi rằng, sau khi thành tựu Đạo Quả Phật, vì lòng thương chúng sanh, Ngài dùng tuệ nhãn quan sát chúng sanh trước khi quyết định hoằng dương Giáo Pháp. Ngài nhận thấy rằng có những chúng sanh biết tội lỗi, sợ tái sanh, sợ mãi mãi sanh-tử, tử-sanh trong vòng luân hồi (paralokavajjabhaya-dassavino). [4]
Trong nhiều đoạn kinh khác nhau, Đức Phật dạy rỏ ràng rằng có những kẻ phải bị sanh vào cảnh khổ vì đã sống cuộc đời tội lỗi ô trược và có người, nhờ hành thiện, tạo nghiệp lành, được tái sanh vào nhàn cảnh.
Ngoài những tích truyện thú vị trong Túc Sanh Truyện (Jataka), một bộ truyện có giá trị luân lý quan trọng ghi lại các tiền kiếp của Đức Phật, hai bộ Majjhima Nikaya (Trung A Hàm) và Anguttara Nikaya (Tăng Nhứt A Hàm) thỉnh thoảng cũng đề cập đến những kiếp sống quá khứ của Đức Phật.
Trong kinh Ghatikara sutta [5], Đức Phật cũng thuật lại cho Đại Đức Ananda rằng trong một tiền kiếp, vào thời Đức Phật Kassapa, ngài là Jotipala. Kinh Anathapindikovada sutta [6] cũng ghi rằng liền sau khi tái sanh vào cảnh trời, nhà triệu phú Anathapindika (Cấp Cô Độc) trở về viếng Đức Phật đêm sau. Trong bộ Anguttara Nikaya [7], Tăng Nhứt A Hàm, Đức Phật nhắc đến một kiếp sống quá khứ Ngài có tên Pacetana. Trong bộ Samyutta Nikaya, Tạp A Hàm, Đức Phật kể tên vài vị Phật đã thị hiện trên thế gian trước Ngài.
Maha-Parinibbana sutta (Kinh Đại Niết Bàn) [8] ghi rằng một hôm Đại Đức Ananda đến bạch với Đức Phật, hỏi thăm về số phận của một số người chết trong làng nọ. Đức Phật nhẫn nại diễn tả trường hợp từng người, từng hoàn cảnh.
Những trường hợp tương tợ rất nhiều trong Tam Tạng Kinh, chứng tỏ Đức Phật giảng giải giáo thuyết tái sanh như một chân lý có thể kiểm chứng. [9]
2
Theo lời chỉ dạy của Đức Phật, trong hàng đệ tử của Ngài có nhiều vị tu hành đúng đắn, trau giồi và phát triển trí tuệ đúng mức, đã được biết ít nhiều về tiền kiếp của mình trong vô lượng kiếp sống. Tuệ giác của Đức Phật vô hạn định.
Trước thời Đức Phật, một vị nọ người Ấn Độ Rishis, cũng nổi tiếng nhờ những phép thần thông như thiên nhãn, thiên nhĩ, thần giao cánh cảm, viễn giác, viễn cảm v.v...
Mặc dầu khoa học chưa tiến đến mức am hiểu những pháp siêu thường, theo Phật Giáo, người trau giồi thiền tập và phát triển tâm lực đầy đủ có thể nhớ những việc xảy ra trong các kiếp quá khứ cũng như một việc đã xảy diễn vào lúc nào trong kiếp sống nầy. Xuyên qua những người ấy, ta có thể giao cảm trực tiếp với những cảnh giới khác bằng tư tưởng và tri giác, không phải bằng năm giác quan thường.
Cũng có một vài người khác thường, nhất là các em bé, do luật phối hợp tư tưởng bất ngờ, sực nhớ lại đoạn nào hoặc một vài chi tiết trong những kiếp sống quá khứ [10]. Sách có chép rằng Pythagoras đã nhớ lại tường tận cái nhẫn mà ông đã dùng trong một tiền kiếp, lúc ấy ông vây hãm thành Troy. Trong kiếp tái sanh làm Pythagoras, cái nhẫn ấy vẫn còn để trong một đền thờ Hy Lạp. [11]
Có một em bé, nhờ cách nọ hay cách kia, nhớ lại kiếp trước. Nhưng đến khi lớn lên thì em không còn nhớ nữa. Do những thí nghiệm của các nhà tâm linh học trứ danh, những hiện tượng ma quỷ, những sự giao cảm giữa hai cảnh âm dương, những sự kiện mà ta thường gọi là có một số âm linh nhập v.v... cũng đem lại một vài tia sáng cho vấn đề tái sanh. [12]
Trong trạng thái thôi miên, có vài người đã thuật lại những kinh nghiệm của mình ở kiếp quá khứ. Cũng có một ít người khác, như trường hợp Edgar Casey ở Mỹ Quốc, chẳng những thấy được kiếp trước của người khác nhờ đó mà còn có thể chữa bệnh cho họ.
Ta có thể giải thích những hiện tượng ấy rằng đó là nhờ người kia nhớ lại những kinh nghiệm ở kiếp trước, hoặc có một âm linh nhập. Cách giải thích thứ nhất có vẽ hợp lý hơn nhưng ta cũng không hoàn toàn bác bỏ cách giải thích thứ nhì. [13]
Bao nhiêu lần tình cờ mà ta gặp một người trước kia chưa từng gặp, nhưng trong trí vẫn nhớ hình như đã quen biết đâu đây? Bao nhiêu lần ta mục kích một cảnh lạ chưa từng đến, nhưng tự nhiên có cảm giác đã quen thuộc một lúc nào [14].
Trong Chú Giải Kinh Pháp Cú có ghi lại câu truyện hai vợ chồng người kia, khi gặp Đức Phật thì quỳ dưới chân Ngài, bạch rằng:
"Nầy con yêu dấu, có phải chăng phận sự con là phụng dưỡng cha mẹ lúc tuổi già? Tại sao bấy lâu nay con không đến thăm viếng cha mẹ? Đây là lần đầu tiên mà cha mẹ gặp lại con."
Đức Phật giải thích rằng sở dĩ có sự bộc khởi mối thâm tình một cách đột ngột và bất ngờ như vậy là vì trong nhiều kiếp sống quá khứ hai ông bà đã làm cha mẹ Ngài, và Đức Phật dạy:
"Do hoàn cảnh thân cận trong quá khứ hay thuận lợi trong hiện tại.
Tình thâm ở thời xa xôi ấy mọc lên trở lại như hoa sen mọc trong nước. [15]"
Trên thế gian có những nhân vật cao siêu xuất chúng, những bậc toàn giác như Đức Phật. Có thể nào chỉ trong một thời gian của một kiếp sống mà có thể trau giồi trí tuệ đến mức cao siêu toàn thiện như vậy chăng? Có thể nào có tình trạng tiến hóa đột ngột như vậy chăng?
Ta giải thích thế nào về trường hợp của những nhân vật như Đức Khổng Tử, Homer, Panini, Buddhaghosa, và Plato, những bậc thiên tài xuất chúng như Kalidasa, Shakespeare, và những hạng thần đồng như Ramanujan, Pascal, Mozart, Beethoven v.v...?
Các bậc cao siêu xuất chúng như vậy, dĩ nhiên đã trãi qua nhiều kiếp sống cao thượng trong quá khứ và đã từng thâu thập những kinh nghiệm tương tợ. Phải chăng là sự ngẫu nhiên hay hoàn cảnh thuận lợi đã đưa các vị ấy vào trong gia đình họ?
Trong trường hợp các thần đồng hình như cũng tạo nên những thắc mắc cho các nhà khoa học. Vài nhân vật trong ngành y học giải thích rằng những hiện tượng như thần đồng, phát sanh do sự phát triển khác thường của những hạch tuyến như hạch màn mũi, từng quả tuyến và hạch thận tuyến. Nguyên nhân sự phát triển khác thường của các hạch tuyến ấy bên trong vài cá nhân nhất định cũng có thể là do nghiệp quá khứ. Tuy nhiên, nếu chỉ một vài hạch tuyến phát triển khác thường, làm sao Christian Heineken có thể nói chuyện ngay vài tiếng đồng hồ sau khi được sanh ra, đọc lại nhiều đoạn trong thánh kinh lúc lên một, trả lời những câu hỏi về địa dư lúc lên hai, nói được tiếng Pháp và tiếng La Tinh lúc lên ba, và khi lên bốn đã theo học các lớp triết? Nếu chỉ vì có một vài hạch tuyến phát triển khác thường thì làm sao John Stuart Mill có thể đọc chữ Hy Lạp lúc mới ba tuổi, làm sao Macaulay có thể viết Thế Giới Sử lúc vừa sáu tuổi, làm sao William James Sidis đọc và viết rành chữ mẹ đẻ (Hoa Kỳ) lúc mới lên hai, đã đọc và viết những tiếng Pháp, Nga, Anh, Đức và chút ít La Tinh và Hy Lạp khi lên tám, làm sao Charles Bennet ở Manchester có thể nói được nhiều thứ tiếng lúc mới ba tuổi? Những người không phải trong giới khoa học có giải thích được chăng các sự kiện lạ lùng ấy? [16] Các nhà khoa học có giải thích được chăng vì sao các hạch tuyến ấy lại phát triển khác thường trong một vài người mà không phát triển trong người khác, hay tất cả mọi người? Vấn đề thực sự còn chưa được giải quyết.
Thuyết truyền thống riêng rẽ không đủ để giải thích các trường hợp thần đồng.
"Phải chi trong ông bà cha mẹ hay trong hàng con cháu các vị ấy cũng có những thần đồng, dầu kém hơn, thì cũng là những sự kiện để chứng minh thuyết truyền thống."
Để giải thích vấn đề phức tạp ấy một cách thỏa đáng ta phải thêm vào thuyết truyền thống lý Nghiệp Báo và Tái Sanh.
Có lý do nào để tin rằng chỉ vỏn vẹn kiếp sống hiện tại nầy mà đủ có thể quyết định hạnh phúc vĩnh cửu hay cảnh khốn cùng vô tận trong tương lai không? Bao nhiêu cố gắng trong kiếp sống ngắn ngủi nhiều lắm là một trăm năm có thể là sự chuẩn bị thích nghi cho cuộc sống vĩnh cửu không?
Nếu chúng ta tin có hiện tại và tương lai, tất nhiên chúng ta tin có quá khứ.
Nếu có những lý do để tin rằng có những kiếp sống trong quá khứ thì cố nhiên chúng ta không có lý do nào để không tin rằng sau khi kiếp hiện tại tạm thời chấm dứt chúng ta vẫn tiếp tục sống. [17]
Chính những kiếp sống quá khứ và vị lai giải thích vì sao trong đời, lắm khi người hiền lương đạo đức phải chịu gian lao khốn khổ và có những người gian ác tàn bạo lại được giàu sang may mắn. [18]
Chúng ta sanh ra trong trạng thái mà chính hành động của ta trong quá khứ đã tạo nên. Nếu trong kiếp hiện tại, mặc dầu sống trong sạch, mà ta gặp phải những điều bất hạnh thì nên biết rằng đó là do nghiệp xấu của ta trong quá khứ. Trái lại, nếu đời sống nhơ bẩn tội lỗi mà ta vẫn được an vui hạnh phúc, giàu sang, may mắn, thì đó cũng do nghiệp tốt của ta đã tạo trong quá khứ. Hành động tốt và xấu của ta trong hiện tại cũng sẽ tạo quả ngay khi cơ duyên hội đủ.
Mộ văn hào Tây Phương nói:
"Dầu tin có những kiếp sống quá khứ hay không, niềm tin nầy là giả thuyết hợp lý duy nhất khả dĩ bắt nhịp cầu để vượt qua những cái hố trong sự hiểu biết của chúng ta về các sự kiện trong đời sống hằng ngày. Lý trí cho ta biết rằng ý niệm về đời sống quá khứ và lý nghiệp báo có thể giải thích chẳng hạn như mức độ khác biệt giữa hai đứa trẻ sanh đôi, như làm thế nào có người như Shakespeare, với kinh nghiệm ít ỏi, giới hạn trong một kiếp sống, có thể mô tả chính xác một cách kỳ diệu bao nhiêu nhân vật, thuộc nhiều loại rất khác nhau, những cảnh tượng v.v... mà thực ra ông không thể biết được. Nó giải thích tại sao các tác phẩm của các bậc vĩ nhân vượt lên khỏi rất xa kinh nghiệm mà các vị ấy có thể có. Nó giải thích hiện tượng thần đồng và sự khác biệt sâu xa giữa người nầy và người khác, trên phương diện tâm trí, đạo đức, tinh thần và vật chất, điều kiện, hoàn cảnh v.v... mà ta có thể quan sát ở khắp nơi trên thế gian."
3
Nghiệp Báo và Tái Sanh giải thích những gì?
Thuyết Nghiệp Báo và Tái Sanh giải thích:
1.- Vấn đề đau khổ mà chính ta phải chịu trách nhiệm;
2.- Tình trạng chênh lệch tựa hồ như bất công giữa người và người;
3.- Sự hiện hữu của những bậc vĩ nhân và những thần đồng;
4.- Tại sao hai trẻ sanh đôi giống nhau y hệt về mặt vật chất, được nuôi dưỡng y như nhau, mà lại có những đặc tính hoàn toàn khác biệt về mặt tinh thần, đạo đức và trí tuệ;
5.- Tại sao trong một gia đình, nếu theo định luật truyền thống thì con cái phải giống nhau hết, mà trong thực tế thì lại khác;
6.- Tại sao có những người có khiếu đặc biệt:
7.- Tại sao cha mẹ và con cái lại có những đặc tính khác nhau về mặt đạo đức và trí tuệ;
8.- Tại sao trẻ con lại có những tật xấu như tham lam, sân hận, ganh tỵ;
9.- Tại sao khi gặp một người nào lần đầu tiên, ta đã có thiện cảm hay ác cảm;
10.- Tại sao trong mỗi người lại có tiềm tàng ngủ thầm "một kho tàng đức hạnh và một hầm tật xấu";
11.- Tại sao có sự thay đổi bất ngờ, bậc thiện trí thức trở thành tầm thường hay kẻ sát nhân bổng nhiên đổi tánh, sống như bậc thánh;
12.- Tại sao có trường hợp cha mẹ hiền lương mà sanh con hung ác, trái lại cha mẹ hung dữ lạisanh con nhân từ;
13.- Tại sao, một đàng, ta như thế nào trong hiện tại là do ta đã như thế nào trong quá khứ, và ta sẽ như thế nào trong tương lai là do ta như thế nào trong hiện tại; theo một đàng khác, trong hiện tại ta như thế nào không hoàn toàn bởi vì trong quá khứ ta đã như thế nào và trong tương lai ta sẽ như thế nào cũng không hoàn toàn tùy thuộc nơi chúng ta như thế nào trong hiện tại;
14.- Tại sao có những cái chết đột ngột và có sự thay đổi bất ngờ về tài sản sự nghiệp;
15.- Và trên tất cả, thuyết Nghiệp Báo và Tái Sanh giải thích vì sao có bậc toàn giác, những bậc giáo chủ toàn thiện như chư Phật, với đầy đủ đức tánh vật lý, tinh thần và trí tuệ
Hôm nay vì bài học dài nên không có bản tin và đố vui
Thứ Tư, 27 tháng 7, 2005
Nhật Hành
Ngày: 27 Tháng 07 năm 2005
Tri chúng: anitya
Tri chúngđiền khuyết:
Môn học: Phật Giáo Sử
Bài học: Bài 7: Chuyển Pháp Luân
Giảng sư chính: TT Giác Đẳng
Giảng sư điền khuyết: TT Tuệ Siêu
Vị Tăng hoặc Ni nói lời cầu nguyện đầu lớp học: DD minh hanh
Xướng ngôn viên: Như Khanh, Tinh Tấn, anitya, Hạt Cát
Xướng ngôn viên cho bài học: Phan1: ..., đk: ... // Hoi Huong: http://baidocmc.blogspot.com/
Xướng ngôn viên cho tin tức:
Người mở room: Diệu Quang va mindvox
Người mở nhạc và kinh tụng: Diệu Quang và anitya
Người post bài cho Room: mindvox , anitya và Nhu Phuc
Người post và gửi bài riêng cho chư Tăng: Nhu Phuc
Trực room (op): Nhu Phuc
Thông báo (nếu có):
Ngày: 27 Tháng 07 năm 2005
Tri chúng: anitya
Tri chúngđiền khuyết:
Môn học: Phật Giáo Sử
Bài học: Bài 7: Chuyển Pháp Luân
Giảng sư chính: TT Giác Đẳng
Giảng sư điền khuyết: TT Tuệ Siêu
Vị Tăng hoặc Ni nói lời cầu nguyện đầu lớp học: DD minh hanh
Xướng ngôn viên: Như Khanh, Tinh Tấn, anitya, Hạt Cát
Xướng ngôn viên cho bài học: Phan1: ..., đk: ... // Hoi Huong: http://baidocmc.blogspot.com/
Xướng ngôn viên cho tin tức:
Người mở room: Diệu Quang va mindvox
Người mở nhạc và kinh tụng: Diệu Quang và anitya
Người post bài cho Room: mindvox , anitya và Nhu Phuc
Người post và gửi bài riêng cho chư Tăng: Nhu Phuc
Trực room (op): Nhu Phuc
Thông báo (nếu có):
Lịch Sử Phật Giáo
Giảng sư: TK Giác Đẳng
Bài 7: Chuyển Pháp Luân
Trích từ Nghi Thức Tụng Niệm, Giáo Hội Tăng Già Nguyên Thủy Việt Nam, Tỳ khưu Giác Đẳng phụng dịch
Kinh Chuyển Pháp Luân
1) Như vầy tôi nghe
Một thời Thế Tôn ngự tại Lộc Uyển, ở I Si Pa Ta Na gần Ba Ra Na Si. Ðức Phật giảng cho năm thầy Tỳ kheo nghe như vầy:
2) Nầy các Tỳ kheo, có hai cực đoan mà bậc xuất gia phải tránh: một là lợi dưỡng vốn hạ liệt, tục luỵ, phàm phu, không thánh thiện, không lợi lạc; hai là khổ hạnh cũng không thánh thiện, không lợi lạc lại khổ đau.
Từ bỏ hai cực đoan nầy, Như Lai thực hành Trung Ðạo chứng đạt pháp nhãn, tuệ giác, tịnh trí, thắng trí, giác ngộ, niết bàn.
Nầy các Tỳ kheo, Trung Ðạo đó là gì?
Chính là thánh đạo tám chi phần: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Ðây là thánh đạo được Như Lai liễu ngộ vơí pháp nhãn, tuệ giác, tịnh trí, thắng trí, giác ngộ, niết bàn.
3) Nầy các Tỳ kheo, đây là diệu đế về sự khổ: sanh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ, sầu bi khổ ưu não là khổ, ghét phải gần là khổ, thương phải xa là khổ, muốn không được là khổ. Tóm lại năm thủ uẩn là khổ.
Nầy các Tỳ kheo, đây là diệu đế về nhân sanh khổ: khát ái dẫn đến tái sanh, cùng với hỷ và tham, tầm cầu dục lạc đó đây. Chính là dục ái, hữu ái, phi hữu ái.
Nầy các Tỳ kheo, đây là diệu đế về diệt khổ: yểm ly đọan diệt các dục, chấm dứt hệ luỵ, không còn dư y, hoàn toàn giải thoát mọi thằng thúc.
Nầy các Tỳ kheo, đây là diệu đế về con đường dẫn đến diệt khổ: chính là thánh đạo tám chi phần tức chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm và chánh định.
4) "Ðây là sự thật về khổ" là điều mà Như Lai chưa từng được nghe nay khởi lên với sự thấy, biết, hiểu, xác chứng và thấu triệt.
"Khổ đế cần được lãnh hội" là điều mà Như Lai chưa từng được nghe nay khởi lên với sự thấy, biết, hiểu, xác chứng và thấu triệt.
"Khổ đế đã được lãnh hội" là điều mà Như Lai chưa từng được nghe nay khởi lên với sự thấy, biết, hiểu, xác chứng và thấu triệt.
"Ðây là sự thật về nhân sanh khổ" là điều mà Như Lai chưa từng được nghe nay khởi lên với sự thấy, biết, hiểu, xác chứng và thấu triệt.
"Tập đế cần được đoạn diệt" là điều mà Như Lai chưa từng được nghe nay khởi lên với sự thấy, biết, hiểu, xác chứng và thấu triệt.
"Tập đế đã được đoạn diệt" là điều mà Như Lai chưa từng được nghe nay khởi lên với sự thấy, biết, hiểu, xác chứng và thấu triệt.
"Ðây là sự thật về diệt khổ" là điều mà Như Lai chưa từng được nghe nay khởi lên với sự thấy, biết, hiểu, xác chứng và thấu triệt.
"Diệt đế cần được chứng ngộ" là điều mà Như Lai chưa từng được nghe nay khởi lên với sự thấy, biết, hiểu, xác chứng và thấu triệt.
"Diệt đế đã được chứng ngộ" là điều mà Như Lai chưa từng được nghe nay khởi lên với sự thấy, biết, hiểu, xác chứng và thấu triệt.
"Ðây là sự thật về con đường diệt khổ" là điều mà Như Lai chưa từng được nghe nay khởi lên với sự thấy, biết, hiểu, xác chứng và thấu triệt.
"Ðạo đế cần được tu tập" là điều mà Như Lai chưa từng được nghe nay khởi lên với sự thấy, biết, hiểu, xác chứng và thấu triệt.
"Ðạo đế đã được tu tập" là điều mà Như Lai chưa từng được nghe nay khởi lên với sự thấy, biết, hiểu, xác chứng và thấu triệt.
5) Nầy các Tỳ kheo, cho đến khi nào bốn diệu đế nầy chưa được Như Lai hoàn toàn giác ngộ với ba luân, mười hai chuyển thì Như Lai không tự nhận cùng thiên giới, ma vương giới, phạm thiên giới, hội chúng sa môn, bà la môn, chư thiên và nhân loại rằng ta đã chứng quả vô thượng chánh đẳng chánh giác.
Nầy các Tỳ kheo, chính khi bốn diệu đế nầy được Như Lai hoàn toàn giác ngộ với ba luân, mười hai chuyển nên Như Lai tự nhận cùng thiên giới, ma vương giới, phạm thiên giới, hội chúng sa môn, bà la môn, chư thiên và nhân loại rằng ta đã chứng quả vô thượng chánh đẳng chánh giác.
Và nhận thức nầy khởi lên trong Như Lai: sự giải thoát của ta không lay chuyển. Ðây là kiếp chót, không còn luân hồi nữa.
6) Ðức Thế Tôn thuyết giảng như vậy, năm thầy Tỳ kheo hoan hỷ tín thọ. Khi pháp thoại nầy được tuyên thuyết, Tôn giả Kon Ðan Nha khởi sanh pháp nhãn thanh tịnh vô cấu hiểu rằng: phàm vật gì do nhân tập khởi tất cả pháp ấy đều bị hoại diệt.
Khi đức Phật chuyển Pháp luân nầy thì chư thiên trên địa cầu reo mừng: Pháp luân vi diệu! Những điều nầy chưa bao giờ được giảng dạy bởi bất cứ ai dù là sa môn, bà la môn, chư thiên, ma vương, phạm thiên nay được Thế Tôn tuyên thuyết tại Lộc Uyển, ở I Si Pa Ta Na gần Ba Ra Na Si.
7) Ðược nghe vậy chư thiên cõi tứ thiên vương, đạo lợi, dạ ma, đấu suất, hoá lạc, tha hoá tự tại cùng các cõi phạm thiên đồng thanh vui mừng.
Trong phút chốc cả mười ngàn thế giới chấn động. Một hào quang vô lượng vượt xa hào quang của chư thiên chiếu diệu cùng khắp thế giới. Ngay khi ấy đức Phật lên tiếng: Kon Ðan Nha đã liễu ngộ, Kon Ðan Nha đã liễu ngộ. Từ ấy Tôn giả Kon Ðan Nha được gọi là An Nha Kon Ðan Nha. (lạy)
Tạng Luật - Đại Phẩm 1:6, Kinh Tương Ưng Bộ V:11
Giảng sư: TK Giác Đẳng
Bài 7: Chuyển Pháp Luân
Trích từ Nghi Thức Tụng Niệm, Giáo Hội Tăng Già Nguyên Thủy Việt Nam, Tỳ khưu Giác Đẳng phụng dịch
Kinh Chuyển Pháp Luân
1) Như vầy tôi nghe
Một thời Thế Tôn ngự tại Lộc Uyển, ở I Si Pa Ta Na gần Ba Ra Na Si. Ðức Phật giảng cho năm thầy Tỳ kheo nghe như vầy:
2) Nầy các Tỳ kheo, có hai cực đoan mà bậc xuất gia phải tránh: một là lợi dưỡng vốn hạ liệt, tục luỵ, phàm phu, không thánh thiện, không lợi lạc; hai là khổ hạnh cũng không thánh thiện, không lợi lạc lại khổ đau.
Từ bỏ hai cực đoan nầy, Như Lai thực hành Trung Ðạo chứng đạt pháp nhãn, tuệ giác, tịnh trí, thắng trí, giác ngộ, niết bàn.
Nầy các Tỳ kheo, Trung Ðạo đó là gì?
Chính là thánh đạo tám chi phần: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Ðây là thánh đạo được Như Lai liễu ngộ vơí pháp nhãn, tuệ giác, tịnh trí, thắng trí, giác ngộ, niết bàn.
3) Nầy các Tỳ kheo, đây là diệu đế về sự khổ: sanh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ, sầu bi khổ ưu não là khổ, ghét phải gần là khổ, thương phải xa là khổ, muốn không được là khổ. Tóm lại năm thủ uẩn là khổ.
Nầy các Tỳ kheo, đây là diệu đế về nhân sanh khổ: khát ái dẫn đến tái sanh, cùng với hỷ và tham, tầm cầu dục lạc đó đây. Chính là dục ái, hữu ái, phi hữu ái.
Nầy các Tỳ kheo, đây là diệu đế về diệt khổ: yểm ly đọan diệt các dục, chấm dứt hệ luỵ, không còn dư y, hoàn toàn giải thoát mọi thằng thúc.
Nầy các Tỳ kheo, đây là diệu đế về con đường dẫn đến diệt khổ: chính là thánh đạo tám chi phần tức chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm và chánh định.
4) "Ðây là sự thật về khổ" là điều mà Như Lai chưa từng được nghe nay khởi lên với sự thấy, biết, hiểu, xác chứng và thấu triệt.
"Khổ đế cần được lãnh hội" là điều mà Như Lai chưa từng được nghe nay khởi lên với sự thấy, biết, hiểu, xác chứng và thấu triệt.
"Khổ đế đã được lãnh hội" là điều mà Như Lai chưa từng được nghe nay khởi lên với sự thấy, biết, hiểu, xác chứng và thấu triệt.
"Ðây là sự thật về nhân sanh khổ" là điều mà Như Lai chưa từng được nghe nay khởi lên với sự thấy, biết, hiểu, xác chứng và thấu triệt.
"Tập đế cần được đoạn diệt" là điều mà Như Lai chưa từng được nghe nay khởi lên với sự thấy, biết, hiểu, xác chứng và thấu triệt.
"Tập đế đã được đoạn diệt" là điều mà Như Lai chưa từng được nghe nay khởi lên với sự thấy, biết, hiểu, xác chứng và thấu triệt.
"Ðây là sự thật về diệt khổ" là điều mà Như Lai chưa từng được nghe nay khởi lên với sự thấy, biết, hiểu, xác chứng và thấu triệt.
"Diệt đế cần được chứng ngộ" là điều mà Như Lai chưa từng được nghe nay khởi lên với sự thấy, biết, hiểu, xác chứng và thấu triệt.
"Diệt đế đã được chứng ngộ" là điều mà Như Lai chưa từng được nghe nay khởi lên với sự thấy, biết, hiểu, xác chứng và thấu triệt.
"Ðây là sự thật về con đường diệt khổ" là điều mà Như Lai chưa từng được nghe nay khởi lên với sự thấy, biết, hiểu, xác chứng và thấu triệt.
"Ðạo đế cần được tu tập" là điều mà Như Lai chưa từng được nghe nay khởi lên với sự thấy, biết, hiểu, xác chứng và thấu triệt.
"Ðạo đế đã được tu tập" là điều mà Như Lai chưa từng được nghe nay khởi lên với sự thấy, biết, hiểu, xác chứng và thấu triệt.
5) Nầy các Tỳ kheo, cho đến khi nào bốn diệu đế nầy chưa được Như Lai hoàn toàn giác ngộ với ba luân, mười hai chuyển thì Như Lai không tự nhận cùng thiên giới, ma vương giới, phạm thiên giới, hội chúng sa môn, bà la môn, chư thiên và nhân loại rằng ta đã chứng quả vô thượng chánh đẳng chánh giác.
Nầy các Tỳ kheo, chính khi bốn diệu đế nầy được Như Lai hoàn toàn giác ngộ với ba luân, mười hai chuyển nên Như Lai tự nhận cùng thiên giới, ma vương giới, phạm thiên giới, hội chúng sa môn, bà la môn, chư thiên và nhân loại rằng ta đã chứng quả vô thượng chánh đẳng chánh giác.
Và nhận thức nầy khởi lên trong Như Lai: sự giải thoát của ta không lay chuyển. Ðây là kiếp chót, không còn luân hồi nữa.
6) Ðức Thế Tôn thuyết giảng như vậy, năm thầy Tỳ kheo hoan hỷ tín thọ. Khi pháp thoại nầy được tuyên thuyết, Tôn giả Kon Ðan Nha khởi sanh pháp nhãn thanh tịnh vô cấu hiểu rằng: phàm vật gì do nhân tập khởi tất cả pháp ấy đều bị hoại diệt.
Khi đức Phật chuyển Pháp luân nầy thì chư thiên trên địa cầu reo mừng: Pháp luân vi diệu! Những điều nầy chưa bao giờ được giảng dạy bởi bất cứ ai dù là sa môn, bà la môn, chư thiên, ma vương, phạm thiên nay được Thế Tôn tuyên thuyết tại Lộc Uyển, ở I Si Pa Ta Na gần Ba Ra Na Si.
7) Ðược nghe vậy chư thiên cõi tứ thiên vương, đạo lợi, dạ ma, đấu suất, hoá lạc, tha hoá tự tại cùng các cõi phạm thiên đồng thanh vui mừng.
Trong phút chốc cả mười ngàn thế giới chấn động. Một hào quang vô lượng vượt xa hào quang của chư thiên chiếu diệu cùng khắp thế giới. Ngay khi ấy đức Phật lên tiếng: Kon Ðan Nha đã liễu ngộ, Kon Ðan Nha đã liễu ngộ. Từ ấy Tôn giả Kon Ðan Nha được gọi là An Nha Kon Ðan Nha. (lạy)
Tạng Luật - Đại Phẩm 1:6, Kinh Tương Ưng Bộ V:11
Đố vui trong ngày
1. Trung đạo trong kinh Chuyển Pháp Luân hàm nghĩa là:
a. Nằm giữa mức độ khổ hạnh và lợi dưỡng
b. Phân nũa khổ hạnh, phân nữa lợi dưỡng
c. Không khổ hạnh cũng không lợi dưỡng
d. Cái nào cũng đúng, tuỳ theo mỗi cá nhân
2. Khi Đức Thế Tôn nói: Kondanna (Kiều Trần Như) liễu ngộ, Kondanna (Kiều Trần Như) liễu ngộ, điều nầy mang một ý nghĩa lịch sử bởi vì:
a. Ngài Kondanna là người đầu tiên chứng ngộ đạo quả trong giáo Pháp của Đức Phật
b. Ngài Kondanna chứng được quả vị cao nhất trong hàng thinh văn giác
c. Ngài Kondanna lãnh hội được những gì giảng giải trong bài pháp đầu tiên
d. Câu a và c đúng
3. Câu nào dưới đây mô tả chân xác Kinh Chuyển Pháp Luân
a. Đó là những Phật ngôn đầu tiên sau khi Phật thành đạo
b. Đó là những suy tư đầu tiên của Đức Phật
c. Đó là bài pháp đầu tiên
d. Đó là lời dạy cho những đệ tử đầu tiên
1. Trung đạo trong kinh Chuyển Pháp Luân hàm nghĩa là:
a. Nằm giữa mức độ khổ hạnh và lợi dưỡng
b. Phân nũa khổ hạnh, phân nữa lợi dưỡng
c. Không khổ hạnh cũng không lợi dưỡng
d. Cái nào cũng đúng, tuỳ theo mỗi cá nhân
2. Khi Đức Thế Tôn nói: Kondanna (Kiều Trần Như) liễu ngộ, Kondanna (Kiều Trần Như) liễu ngộ, điều nầy mang một ý nghĩa lịch sử bởi vì:
a. Ngài Kondanna là người đầu tiên chứng ngộ đạo quả trong giáo Pháp của Đức Phật
b. Ngài Kondanna chứng được quả vị cao nhất trong hàng thinh văn giác
c. Ngài Kondanna lãnh hội được những gì giảng giải trong bài pháp đầu tiên
d. Câu a và c đúng
3. Câu nào dưới đây mô tả chân xác Kinh Chuyển Pháp Luân
a. Đó là những Phật ngôn đầu tiên sau khi Phật thành đạo
b. Đó là những suy tư đầu tiên của Đức Phật
c. Đó là bài pháp đầu tiên
d. Đó là lời dạy cho những đệ tử đầu tiên
Tin Tức
No. 0423 NEW (Chánh Hạnh dịch)
Người Mẫu Nepal, Kohinoor, trở thành tu nữ Phật giáo
Kantipur Online, July 19, 2005
Kohinoor (Before)
KATHMANDU, Nepal -- Người mẫu Nepal nổi tiếng Kohinoor Singh đã quyết định xuất gia trở thành tu nữ Phật giáo. Cô nổi tiếng nhờ vào các video ca nhạc thực hiện bởi trung tâm âm nhạc Nepal cách đây vài năm. Cô nói cô muốn xuất gia từ hồi thưở bé.
Ani Losang Dolma 25 tuổi không kiêu hãnh cũng không hối tiếc về quá khứ của mình . Cô nói trên đài truyền hình Kantipur hôm thứ ba “Hôm qua tôi như thế nào thì tôi vẫn như vậy trong tương lai. Chỉ những người thấy và biết tôi với diện mạo bên ngoài mới ngạc nhiên với sự thay đổi của tôi. Kohinoor bây giờ là Ani Losang”
Kohinor nói cô quyết định trở thành tu nữ bởi ảnh hưởng cuả một vị trưởng lão.
Kohinoor (After, now known as Ani Losang)
Cô được biết đến với cái tên Deepa Singh trước khi trở thành người mẫu nổi tiếng Kohinoor. Cha cô đến từ Ấn Độ và quyết định ở lại Nepal luôn sau khi kết hôn với một người Nepal
Cô bắt đầu vươn lên ở tuổi 15 và từ đó cô củng cố địa vị của mình với nghệ danh Kohinoor.
Sau đó cô trở thành xướng ngôn viên đài truyền hình và nổi tiếng nhờ video ca nhạc được sản xuất bởi trung tâm ca nhạc Nepal Music. Sống gần Swayambhu, cô luôn chứng kiến đời sống của các tu sĩ . Hiện cô đang sống tại gia nhưng cô sẽ vào tu viện khi cô được Viện Trưởng gọi vào tháng tới.
-------------------------------------------------------------
No.0429 NEW( Hạt Cát dịch)
Sinh viên Phật tử nhắm mục đích sống đời đơn giản của một tu sĩ.
THE FLINT JOURNAL FIRST EDITION
By George Jaksa
gjaksa@flintjournal.com • 810.766.6332
GRAND BLANC TWP, Michigan -Saturday, July 23, 2005 - Josh Behan là một sinh viên chuyên ngành nhân chủng học tại Ðại học Michigan ở Ann Arbor, nhưng anh đã có một quan kiến về hoạt động của một đời sống khác: trở thành một tăng sĩ Phật giáo.
Behan, 21 tuổi, có thể có cơ hội trải nghiệm một đời sống bình nhật của một tu sĩ Phật giáo nếu anh giành được việc làm ba tháng đảm trách nhiệm vụ trai soạn cho 8 hoặc 9 tăng sĩ tại Tu Viện Bodhi ở Lafayette, New Jersey. Với việc làm này, Behan có thể trả dứt phí khoản $6,000 cho quá trình học kỳ của anh ta .
Và nếu như anh sinh viên tốt nghiệp Mott Middle College năm 2002 được chấp nhận ứng tuyển là một tu sĩ Phật giáo thì anh sẽ bỏ qua việc hoàn tất đại học để bước vào đời sống của một tu sĩ Phật Giáo.
Dưới đây là một số câu đối đáp của anh Behan với phóng viên tờ Flint Journal
Hỏi: Nếu được chấp nhận, những thủ tục để trở thành một tu sĩ sẽ là gì?
Ðáp: Ðiều này tùy theo truyền thống .Tôi sẽ trở thành một sa di có thể là trong một năm và sau đó tôi sẽ phải quyết định tôi có thực sự muốn trở thành một tu sĩ thọ cụ túc giới hay không.
Hỏi: Anh quy ngưỡng Phật pháp từ lúc nào ?
Ðáp: Chính thức là khoảng hai năm trước nhưng tôi đã từng nghĩ đến việc này trước thời điểm đó. Tôi trở nên hứng thú với Phật pháp lúc 18 tuổi như là một nhận thức nhưng một năm sau đó tôi trở nên gắn bó với Phật pháp sâu xa hơn.
Hỏi: Ðiều gì đã lôi cuốn anh đến với Phật Giáo?
Ðáp: Sự khác thường và quý giá của giáo pháp. Tôi lớn lên là một người Thiên chúa giáo nhưng tôi thích học hỏi về những tôn giáo khác. Sau đó Ken và Visakha của Trung Tâm Cứu Trợ Phật giáo tại đây đã đưa tôi đến chùa để hành thiền với họ.
Hỏi: Còn điều gì khác lôi cuốn anh nữa chăng?
Ðáp: Phật giáo không có khuynh hướng cầu nguyện van xin nhiều ở bất cứ con người hay đấng thần linh nào mà chỉ là sự hành trì luyện tập trên chính bản thân mình để sửa đổi những vấn đề tiêu cực trở thành tích cực hơn. Ví dụ nếu như bạn bị mất cắp vật gì đó, thay vì giận dữ, bạn nỗ lực sửa đổi để trở thành khoan hòa hoặc nếu bạn bị người dối trá, bạn cố gắng giảm thiểu sự thương tổn và thận trọng hơn.
Ðáp: Gia đình anh phản ứng như thế nào khi biết rằng anh có thể trở thành một tu sĩ Phật giáo ?
Ðáp: Mẹ tôi, Beth Meadows, người thường hay đi New Community Church of God, rất thích thú và nói: “Ô! Con sẽ được an lạc với chư tăng”
Hỏi: Ðiều gì sẽ xảy ra nếu anh không được chấp nhận vào tu viện ?
Ðáp: Tôi sẽ trở lại Ðại học Michigan để lấy một mảnh bằng và làm việc để hoàn trả món nợ $25,000 cho học trình của tôi. Sẽ mất ít nhất là 10 năm trước khi tôi có thể trở thành một tu sĩ nếu điều này xảy ra, nghĩa là nếu tôi không được chấp nhận vào tu viện bây giờ.
Hỏi: Anh đã từng có kinh nghiệm gì với chư tăng chưa ?
Ðáp: tôi đã từng đến Toronto để hành thiền trong một tu viện Miến Ðiện và mới đây tôi vừa trở về từ một khóa tu học tại tu viện New Jersey.
No. 0423 NEW (Chánh Hạnh dịch)
Người Mẫu Nepal, Kohinoor, trở thành tu nữ Phật giáo
Kantipur Online, July 19, 2005
Kohinoor (Before)
KATHMANDU, Nepal -- Người mẫu Nepal nổi tiếng Kohinoor Singh đã quyết định xuất gia trở thành tu nữ Phật giáo. Cô nổi tiếng nhờ vào các video ca nhạc thực hiện bởi trung tâm âm nhạc Nepal cách đây vài năm. Cô nói cô muốn xuất gia từ hồi thưở bé.
Ani Losang Dolma 25 tuổi không kiêu hãnh cũng không hối tiếc về quá khứ của mình . Cô nói trên đài truyền hình Kantipur hôm thứ ba “Hôm qua tôi như thế nào thì tôi vẫn như vậy trong tương lai. Chỉ những người thấy và biết tôi với diện mạo bên ngoài mới ngạc nhiên với sự thay đổi của tôi. Kohinoor bây giờ là Ani Losang”
Kohinor nói cô quyết định trở thành tu nữ bởi ảnh hưởng cuả một vị trưởng lão.
Kohinoor (After, now known as Ani Losang)
Cô được biết đến với cái tên Deepa Singh trước khi trở thành người mẫu nổi tiếng Kohinoor. Cha cô đến từ Ấn Độ và quyết định ở lại Nepal luôn sau khi kết hôn với một người Nepal
Cô bắt đầu vươn lên ở tuổi 15 và từ đó cô củng cố địa vị của mình với nghệ danh Kohinoor.
Sau đó cô trở thành xướng ngôn viên đài truyền hình và nổi tiếng nhờ video ca nhạc được sản xuất bởi trung tâm ca nhạc Nepal Music. Sống gần Swayambhu, cô luôn chứng kiến đời sống của các tu sĩ . Hiện cô đang sống tại gia nhưng cô sẽ vào tu viện khi cô được Viện Trưởng gọi vào tháng tới.
-------------------------------------------------------------
No.0429 NEW( Hạt Cát dịch)
Sinh viên Phật tử nhắm mục đích sống đời đơn giản của một tu sĩ.
THE FLINT JOURNAL FIRST EDITION
By George Jaksa
gjaksa@flintjournal.com • 810.766.6332
GRAND BLANC TWP, Michigan -Saturday, July 23, 2005 - Josh Behan là một sinh viên chuyên ngành nhân chủng học tại Ðại học Michigan ở Ann Arbor, nhưng anh đã có một quan kiến về hoạt động của một đời sống khác: trở thành một tăng sĩ Phật giáo.
Behan, 21 tuổi, có thể có cơ hội trải nghiệm một đời sống bình nhật của một tu sĩ Phật giáo nếu anh giành được việc làm ba tháng đảm trách nhiệm vụ trai soạn cho 8 hoặc 9 tăng sĩ tại Tu Viện Bodhi ở Lafayette, New Jersey. Với việc làm này, Behan có thể trả dứt phí khoản $6,000 cho quá trình học kỳ của anh ta .
Và nếu như anh sinh viên tốt nghiệp Mott Middle College năm 2002 được chấp nhận ứng tuyển là một tu sĩ Phật giáo thì anh sẽ bỏ qua việc hoàn tất đại học để bước vào đời sống của một tu sĩ Phật Giáo.
Dưới đây là một số câu đối đáp của anh Behan với phóng viên tờ Flint Journal
Hỏi: Nếu được chấp nhận, những thủ tục để trở thành một tu sĩ sẽ là gì?
Ðáp: Ðiều này tùy theo truyền thống .Tôi sẽ trở thành một sa di có thể là trong một năm và sau đó tôi sẽ phải quyết định tôi có thực sự muốn trở thành một tu sĩ thọ cụ túc giới hay không.
Hỏi: Anh quy ngưỡng Phật pháp từ lúc nào ?
Ðáp: Chính thức là khoảng hai năm trước nhưng tôi đã từng nghĩ đến việc này trước thời điểm đó. Tôi trở nên hứng thú với Phật pháp lúc 18 tuổi như là một nhận thức nhưng một năm sau đó tôi trở nên gắn bó với Phật pháp sâu xa hơn.
Hỏi: Ðiều gì đã lôi cuốn anh đến với Phật Giáo?
Ðáp: Sự khác thường và quý giá của giáo pháp. Tôi lớn lên là một người Thiên chúa giáo nhưng tôi thích học hỏi về những tôn giáo khác. Sau đó Ken và Visakha của Trung Tâm Cứu Trợ Phật giáo tại đây đã đưa tôi đến chùa để hành thiền với họ.
Hỏi: Còn điều gì khác lôi cuốn anh nữa chăng?
Ðáp: Phật giáo không có khuynh hướng cầu nguyện van xin nhiều ở bất cứ con người hay đấng thần linh nào mà chỉ là sự hành trì luyện tập trên chính bản thân mình để sửa đổi những vấn đề tiêu cực trở thành tích cực hơn. Ví dụ nếu như bạn bị mất cắp vật gì đó, thay vì giận dữ, bạn nỗ lực sửa đổi để trở thành khoan hòa hoặc nếu bạn bị người dối trá, bạn cố gắng giảm thiểu sự thương tổn và thận trọng hơn.
Ðáp: Gia đình anh phản ứng như thế nào khi biết rằng anh có thể trở thành một tu sĩ Phật giáo ?
Ðáp: Mẹ tôi, Beth Meadows, người thường hay đi New Community Church of God, rất thích thú và nói: “Ô! Con sẽ được an lạc với chư tăng”
Hỏi: Ðiều gì sẽ xảy ra nếu anh không được chấp nhận vào tu viện ?
Ðáp: Tôi sẽ trở lại Ðại học Michigan để lấy một mảnh bằng và làm việc để hoàn trả món nợ $25,000 cho học trình của tôi. Sẽ mất ít nhất là 10 năm trước khi tôi có thể trở thành một tu sĩ nếu điều này xảy ra, nghĩa là nếu tôi không được chấp nhận vào tu viện bây giờ.
Hỏi: Anh đã từng có kinh nghiệm gì với chư tăng chưa ?
Ðáp: tôi đã từng đến Toronto để hành thiền trong một tu viện Miến Ðiện và mới đây tôi vừa trở về từ một khóa tu học tại tu viện New Jersey.
Thứ Ba, 26 tháng 7, 2005
Nhật Hành
Ngày: 26 tháng 07 năm 2005
Tri chúng: Duong Tieu
Tri chúngđiền khuyết: Hat Cat
Môn học: Lớp Phật Học Cơ Bản
Bài học: Tâm ô nhiễm tạo nên quả bất thiện
Giảng sư chính: Sư cô Liễu Pháp
Giảng sư điền khuyết: TT Giác Đẳng
Vị Tăng hoặc Ni nói lời cầu nguyện đầu lớp học: ĐĐ minh hanh
Xướng ngôn viên: Anitya, Hat Cat, Nguồn Đức Hạnh
Xướng ngôn viên cho bài học: Phan1: .. đk: ..// Hoi Huong va cam ta: Duong Tieu http://baidocmc.blogspot.com/
Xướng ngôn viên cho phần Đố Vui :
Người mở room: Dieu Quang va mindvox
Người mở nhạc và kinh tụng: Dieu Quang,mindvox , anitya
Người post bài cho Room: mindvox
Người post và gửi bài riêng cho chư Tăng: Như Phúc
Trực room (op):
Thông báo (nếu có):
Ngày: 26 tháng 07 năm 2005
Tri chúng: Duong Tieu
Tri chúngđiền khuyết: Hat Cat
Môn học: Lớp Phật Học Cơ Bản
Bài học: Tâm ô nhiễm tạo nên quả bất thiện
Giảng sư chính: Sư cô Liễu Pháp
Giảng sư điền khuyết: TT Giác Đẳng
Vị Tăng hoặc Ni nói lời cầu nguyện đầu lớp học: ĐĐ minh hanh
Xướng ngôn viên: Anitya, Hat Cat, Nguồn Đức Hạnh
Xướng ngôn viên cho bài học: Phan1: .. đk: ..// Hoi Huong va cam ta: Duong Tieu http://baidocmc.blogspot.com/
Xướng ngôn viên cho phần Đố Vui :
Người mở room: Dieu Quang va mindvox
Người mở nhạc và kinh tụng: Dieu Quang,mindvox , anitya
Người post bài cho Room: mindvox
Người post và gửi bài riêng cho chư Tăng: Như Phúc
Trực room (op):
Thông báo (nếu có):
Lớp Phật Học Cơ Bản
Chương IV: The Mind / Tâm
4.3 An Untrained Mind Is Defiled / Tâm Không Tu Tập Là Tâm Ô Nhiễm
Giảng Sư: Sư cô Liễu Pháp
B. Tâm ô nhiễm tạo nên quả bất thiện / A Stained Mind Produces Evil Effects
Dẫn Nhập
Tâm cấu uế là tâm bị chi phối bởi các phiền não. Khi tâm của một chúng sanh câú uế thì người đó suy nghĩ, noí năng và hành động sai lầm. Một khi, do tác động của phiền não mà nghiêp bất thiện đã được taọ nên thì những kết quả tai haị cũng sẽ chờ đợi chúng sanh đó. Tương lai của những kẻ có tâm ô nhiễm là một tương lai mờ mịt, đầy bất trắc và không vừa ý. Hiểu rõ như vậy, chúng ta nên thường xuyên kiểm soát tâm ý của mình.
Chánh Kinh
"Monks, as a cloth that is stained and dirty would be dyed a bad color...a bad realm of existence is to be expected when the mind is stained." -M.I: 36, Page 101
Này các Tỷ-kheo, như một tấm vải cấu uế, nhiễm bụi, vải ấy sẽ được màu nhuộm không tốt đẹp, cũng vậy cõi ác chờ đợi một tâm cấu uế.
Chương IV: The Mind / Tâm
4.3 An Untrained Mind Is Defiled / Tâm Không Tu Tập Là Tâm Ô Nhiễm
Giảng Sư: Sư cô Liễu Pháp
B. Tâm ô nhiễm tạo nên quả bất thiện / A Stained Mind Produces Evil Effects
Dẫn Nhập
Tâm cấu uế là tâm bị chi phối bởi các phiền não. Khi tâm của một chúng sanh câú uế thì người đó suy nghĩ, noí năng và hành động sai lầm. Một khi, do tác động của phiền não mà nghiêp bất thiện đã được taọ nên thì những kết quả tai haị cũng sẽ chờ đợi chúng sanh đó. Tương lai của những kẻ có tâm ô nhiễm là một tương lai mờ mịt, đầy bất trắc và không vừa ý. Hiểu rõ như vậy, chúng ta nên thường xuyên kiểm soát tâm ý của mình.
Chánh Kinh
"Monks, as a cloth that is stained and dirty would be dyed a bad color...a bad realm of existence is to be expected when the mind is stained." -M.I: 36, Page 101
Này các Tỷ-kheo, như một tấm vải cấu uế, nhiễm bụi, vải ấy sẽ được màu nhuộm không tốt đẹp, cũng vậy cõi ác chờ đợi một tâm cấu uế.
Đố vui:
1. Cõi ác chờ đợi tâm câu uế bởi vì:
a. đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu
b. tâm cấu uế là đầu mối của các bất thiện nghiệp
c. tâm cấu uế là một yếu tố tạo nên cõi ác.
d. cả 3 câu trên đều đúng.
2. Chúng sanh có thể tránh được việc sanh vào các cõi ác bằng cách:
a. diệt trừ phiền não
b. nguyện sanh vaò cảnh giới tốt đẹp
c. nhờ vào lòng từ bi của chư Phật
d. cả 3 câu trên
3. Đứng trên quan điểm Phật giáo, câu thơ “Bắt phong trần phải phong trần, cho thanh cao mới được phần thanh cao”
a. Đúng, bởi vì mỗi con người đều có một số mệnh
b. Phần nào đúng, vì “có trời mà cũng taị ta”
c. Sai, không có một năng lực siêu nhiên nào để ban phước giáng hoạ cho mỗi người
d. Sai, không thể biết được yếu tố nào quyết định phước hay hoạ của mỗi người.
1. Cõi ác chờ đợi tâm câu uế bởi vì:
a. đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu
b. tâm cấu uế là đầu mối của các bất thiện nghiệp
c. tâm cấu uế là một yếu tố tạo nên cõi ác.
d. cả 3 câu trên đều đúng.
2. Chúng sanh có thể tránh được việc sanh vào các cõi ác bằng cách:
a. diệt trừ phiền não
b. nguyện sanh vaò cảnh giới tốt đẹp
c. nhờ vào lòng từ bi của chư Phật
d. cả 3 câu trên
3. Đứng trên quan điểm Phật giáo, câu thơ “Bắt phong trần phải phong trần, cho thanh cao mới được phần thanh cao”
a. Đúng, bởi vì mỗi con người đều có một số mệnh
b. Phần nào đúng, vì “có trời mà cũng taị ta”
c. Sai, không có một năng lực siêu nhiên nào để ban phước giáng hoạ cho mỗi người
d. Sai, không thể biết được yếu tố nào quyết định phước hay hoạ của mỗi người.
Thảo luận:
1. Khi noí cõi ác chờ đợi một tâm cấu uế, cõi ác đó là do nghiệp ác của chúng sanh taọ nên hay do những nguyên nhân nào khác?
2. Có trường hợp nào chúng sanh đang có tâm cậu uế mà vẫn taọ thiện nghiệp chăng?
3. Có phương pháp nào để vô hiệu hoá những nghiệp bất thiện đã taọ trong quá khứ không? Những thiện nghiệp chúng ta làm sau naỳ có thể “bù trừ” cho những nghiệp bất thiện chúng ta đã taọ trong quá khứ chăng?
1. Khi noí cõi ác chờ đợi một tâm cấu uế, cõi ác đó là do nghiệp ác của chúng sanh taọ nên hay do những nguyên nhân nào khác?
2. Có trường hợp nào chúng sanh đang có tâm cậu uế mà vẫn taọ thiện nghiệp chăng?
3. Có phương pháp nào để vô hiệu hoá những nghiệp bất thiện đã taọ trong quá khứ không? Những thiện nghiệp chúng ta làm sau naỳ có thể “bù trừ” cho những nghiệp bất thiện chúng ta đã taọ trong quá khứ chăng?
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)