Thứ Bảy, 11 tháng 6, 2005
Thứ Sáu, 10 tháng 6, 2005
Nhật Hành
Ngày: 10 Tháng 06 năm 2005
Tri chúng: Chanh Hanh
Tri chúng điền khuyết: Khanh Van
Môn học: A Tỳ Đàm
Bài học: Diễn Trình Tâm Ý Môn Ðặc Biệt
Giảng sư chính: Sư Giác Đẳng
Giảng sư điền khuyết:
Vị Tăng hoặc Ni nói lời cầu nguyện đầu lớp học: DD minh hanh
Xướng ngôn viên: SC Diệu Tịnh, Như Trúc, Sangkhaly, Hạt Cát, Tinh Tấn, Kristien
Xướng ngôn viên cho bài học: Phần 1: mindvox,đk: ...// Hoi Huong: Khanh Van http://baidocmc.blogspot.com/
Người mở room: Diệu Quang va mindvox
Người mở nhạc và kinh tụng: Diệu Quang, mindvox và anitya
Người post bài cho Room: mindvox , Hạt Cát,Nhu Phuc
Người post và gửi bài riêng cho chư Tăng: Nhu Phuc
Trực room (op):
Thông báo (nếu có):
Ngày: 10 Tháng 06 năm 2005
Tri chúng: Chanh Hanh
Tri chúng điền khuyết: Khanh Van
Môn học: A Tỳ Đàm
Bài học: Diễn Trình Tâm Ý Môn Ðặc Biệt
Giảng sư chính: Sư Giác Đẳng
Giảng sư điền khuyết:
Vị Tăng hoặc Ni nói lời cầu nguyện đầu lớp học: DD minh hanh
Xướng ngôn viên: SC Diệu Tịnh, Như Trúc, Sangkhaly, Hạt Cát, Tinh Tấn, Kristien
Xướng ngôn viên cho bài học: Phần 1: mindvox,đk: ...// Hoi Huong: Khanh Van http://baidocmc.blogspot.com/
Người mở room: Diệu Quang va mindvox
Người mở nhạc và kinh tụng: Diệu Quang, mindvox và anitya
Người post bài cho Room: mindvox , Hạt Cát,Nhu Phuc
Người post và gửi bài riêng cho chư Tăng: Nhu Phuc
Trực room (op):
Thông báo (nếu có):
A Tỳ Đàm
Diễn Trình Tâm Ý Môn Ðặc Biệt
(tiếp theo)
Tài liệu của Pháp sư Giác Chánh
3) Lộ Tâm Nhập Thiền
An chỉ (Appanā): nhứt tâm trên đối tượng gọi là An Chỉ ( Ekaggaṃ cittaṃ ārammane appenti). Ở lộ này, dòng tâm thức an trú vào đề mục, tuy dòng tâm thức sanh diệt nhiều lần nhưng vẫn đồng một thứ tâm. Lộ này có 2 loại: Nhập Thiền hợp thế và Nhập Thiền Cơ. Thiền hợp thế là Thiền Sắc giới và Thiền Vô Sắc giới; còn Thiền Cơ là thiền nhập để làm căn bản hiện thần thông. Thiền Cơ chỉ nhập được bằng Ngũ Thiền Sắc giới mà thôi. Dòng tâm thức để nhập hai loại thiền này diễn tiến như sau: Hôï Kiếp quá khứ, Hộ Kiếp rúng động, Hộ Kiếp ngưng lại, Khán ý môn, Chuẩn bị, Cận Hành, Thuận Thứ, Bỏ Bực, Thiền (1 trong 18 tâm thiền hiệp thế).
4) Lộ Tâm Hiện Thông
Là dòng tâm thức diễn tiến khi Diệu Trí (Abhiññā, Thắng Trí) phát sanh để làm các việc sau:
Thiên Nhãn Thông: thấy rõ các sắc dù sắc thô, sắc tế, sắc tốt, sắc xấu, sắc xa, sắc gần, sắc bên trong, sắc bên ngoài, sắc quá khứ, sắc hiện tại, sắc vị lai, ... Thiên Nhãn Thông đều thấy rõ.
Thiên Nhĩ Thông: tai nghe rõ các thứ tiếng, dù tiếng lớn, dù tiếng nhỏ, tiếng xa, tiếng gần, tiếng tốt, tiếng xấu, tiếng quá khứ, tiếng hiện tại, tiếng vị lai, ... Thiên Nhĩ Thông đều nghe được.
Tha Tâm Thông: biết được tâm của kẻ khác, nhưng đối với Ðạo Quả thì chỉ biết được tâm của những người đồng bực hoặc thấp hơn chứ không thể biết được tâm của những người chứng ngộ cao hơn.
Túc Mạng Thông: nhớ lại được nhiều kiếp xa xưa.
Sanh Tử Thông: biết rõ những người đang có mặt từ đâu sanh ra và biết rõ những người đã chết sẽ tục sinh ở cõi nào.
Thần Thông: có thể biến hiện ra nhiều hình thức như bay trên hư không, đi trên nước, di xuyên qua vách, chun xuống đất, ...
Lậu Tận Thông: là biết rõ các lậu (10 phiền não) đã tận; thông này chỉ có ở vị A-La-Hán mà thôi.
Lộ trình tâm diễn tiến như sau: Hôï Kiếp quá khứ, Hộ Kiếp rúng động, Hộ Kiếp ngưng lại, Khán ý môn, Chuẩn bị, Cận Hành, Thuận Thứ, Bỏ Bực, Thông, Hộ Kiếp. Lộ này có 6 cái, 7 thứ, 2 chặn, 5 người và 22 cõi.
Chú thích: 6 cái là: Khán ý môn, Chuẩn bị, Cận Hành, Thuận Thứ, Bỏ Bực và Thông. 7 thứ là: Khán ý môn, 2 tâm Thiện Dục giới thọ Xã hợp trí, 2 tâm Duy Tác Dục giới thọ Xã hợp trí và 2 tâm Diệu Trí. 2 chặn là Khán ý môn và Ðổng Tốc. 5 người là: người tam nhân và 4 thánh quả. 22 cõi là: 7cõi vui Dục giới và 15 cõi Sắc giới (trừ cõi Vô Tưởng).
Diễn Trình Tâm Ý Môn Ðặc Biệt
(tiếp theo)
Tài liệu của Pháp sư Giác Chánh
3) Lộ Tâm Nhập Thiền
An chỉ (Appanā): nhứt tâm trên đối tượng gọi là An Chỉ ( Ekaggaṃ cittaṃ ārammane appenti). Ở lộ này, dòng tâm thức an trú vào đề mục, tuy dòng tâm thức sanh diệt nhiều lần nhưng vẫn đồng một thứ tâm. Lộ này có 2 loại: Nhập Thiền hợp thế và Nhập Thiền Cơ. Thiền hợp thế là Thiền Sắc giới và Thiền Vô Sắc giới; còn Thiền Cơ là thiền nhập để làm căn bản hiện thần thông. Thiền Cơ chỉ nhập được bằng Ngũ Thiền Sắc giới mà thôi. Dòng tâm thức để nhập hai loại thiền này diễn tiến như sau: Hôï Kiếp quá khứ, Hộ Kiếp rúng động, Hộ Kiếp ngưng lại, Khán ý môn, Chuẩn bị, Cận Hành, Thuận Thứ, Bỏ Bực, Thiền (1 trong 18 tâm thiền hiệp thế).
4) Lộ Tâm Hiện Thông
Là dòng tâm thức diễn tiến khi Diệu Trí (Abhiññā, Thắng Trí) phát sanh để làm các việc sau:
Thiên Nhãn Thông: thấy rõ các sắc dù sắc thô, sắc tế, sắc tốt, sắc xấu, sắc xa, sắc gần, sắc bên trong, sắc bên ngoài, sắc quá khứ, sắc hiện tại, sắc vị lai, ... Thiên Nhãn Thông đều thấy rõ.
Thiên Nhĩ Thông: tai nghe rõ các thứ tiếng, dù tiếng lớn, dù tiếng nhỏ, tiếng xa, tiếng gần, tiếng tốt, tiếng xấu, tiếng quá khứ, tiếng hiện tại, tiếng vị lai, ... Thiên Nhĩ Thông đều nghe được.
Tha Tâm Thông: biết được tâm của kẻ khác, nhưng đối với Ðạo Quả thì chỉ biết được tâm của những người đồng bực hoặc thấp hơn chứ không thể biết được tâm của những người chứng ngộ cao hơn.
Túc Mạng Thông: nhớ lại được nhiều kiếp xa xưa.
Sanh Tử Thông: biết rõ những người đang có mặt từ đâu sanh ra và biết rõ những người đã chết sẽ tục sinh ở cõi nào.
Thần Thông: có thể biến hiện ra nhiều hình thức như bay trên hư không, đi trên nước, di xuyên qua vách, chun xuống đất, ...
Lậu Tận Thông: là biết rõ các lậu (10 phiền não) đã tận; thông này chỉ có ở vị A-La-Hán mà thôi.
Lộ trình tâm diễn tiến như sau: Hôï Kiếp quá khứ, Hộ Kiếp rúng động, Hộ Kiếp ngưng lại, Khán ý môn, Chuẩn bị, Cận Hành, Thuận Thứ, Bỏ Bực, Thông, Hộ Kiếp. Lộ này có 6 cái, 7 thứ, 2 chặn, 5 người và 22 cõi.
Chú thích: 6 cái là: Khán ý môn, Chuẩn bị, Cận Hành, Thuận Thứ, Bỏ Bực và Thông. 7 thứ là: Khán ý môn, 2 tâm Thiện Dục giới thọ Xã hợp trí, 2 tâm Duy Tác Dục giới thọ Xã hợp trí và 2 tâm Diệu Trí. 2 chặn là Khán ý môn và Ðổng Tốc. 5 người là: người tam nhân và 4 thánh quả. 22 cõi là: 7cõi vui Dục giới và 15 cõi Sắc giới (trừ cõi Vô Tưởng).
Tin Tức:
No. 0346 NEW( TinhTấn dịch)
Kim Thân Phật Vàng Ròng tại Wat Traimit
Được viết bởi Jeffrey Miller, The Korea Times Feature Writer,
ngày 2 tháng 6 năm 2005
Bangkok, Thailand – Có rất nhiều tu viện Phật Giáo nguy nga lộng lẫy đang đợi chờ du khách ở Bangkok, nhưng trong tất cả các Kim thân Phật, có lẽ không có Kim thân Phật nào uy nghi hơn Kim thân Phật Vàng Ròng này.
Tượng Phật được tôn trí tại chùa (Wat) Traimit ở cuối đường Yaowarat gần trạm xe lửa Hualampong ở Bangkok, Kim thân Phật Vàng Ròng là một trong các tượng Phật có sức hấp dẫn phải chiêm bái ở Bangkok. Mặc dù tu viện này so ra rất lu mờ đối với các tu viện khác ở BangKok vì kiến trúc khiêm nhượng hơn, nhưng Kim thân Phật Vàng Ròng bên trong tu viện đã hấp dẫn hàng trăm du khách hằng ngày.
Được đúc chế trong thời kỳ Sukhothai, bảo tọa của Đức Phật cao ba mét (khoảng 10 bộ) được làm bằng vàng khối và cân nặng năm tấn rưởi - là bảo tọa của Đức Phật lớn nhất trên thế giới. Kim thân Phật vĩ đại này long lanh ánh sáng vàng óng quý giá tráng lệ và tinh khiết mà ngay cả một người kiệt sức nhất cũng được cảm ứng bởi sự an lạc và năng lực của pho tượng tỏa ra khi bạn đến gần.
Thật sự, hầu như tất cả các tượng Phật mà người ta có thể chiêm bái ở Bangkok từ Kim Thân Phật ở Emerald ở Wat Phra Kaeo cho đến Kim Thân Phật Niết Bàn ở Wat Po, Kim thân Phật Vàng Ròng là một trong những bức tượng đẹp hơn và trong sáng an lành hơn được tìm thấy trong thành phố mà không một nghi vấn nào.
Viếng thăm Wat Traimit là việc nên đặt lên hàng đầu trong lịch trình những nơi tham quan khi tới Bangkok. Câu chuyện ẩn dụ sau Kim Thân Phật lạ lùng này (và việc khám phá ra) cũng gây ấn tượng sâu sắc như nhau. Trong khi người ta xác định rằng Kim Thân Phật được tạo ra trong khoảng thời gian nào đó vào thời kỳ Sukhothai (thế kỷ 13 đến thế kỷ 15)- một trong những thời kỳ nổi bật nhất ở Thailand về kiến trúc và nghệ thuật Phật Giáo - vẫn không ai biết chính xác khi nào và nơi đâu. Tuy nhiên, Kim Thân Phật được tôn trí trong một tu viện tại kinh đô cổ của thời Ayutthaya (khoảng một giờ đi xe về phía Bắc Bangkok).
Câu chuyện Kim Thân Phật Vàng Ròng thật thú vị vì tượng Phật được ngụy trang để bảo vệ sự quý giá của bức tượng. Khi người Miến Điện khởi sự cướp phá thành phố, Kim Thân Phật Vàng Ròng này được bao phủ trong lớp thạch cao để che đậy mắt những kẻ xâm chiếm. Hiển nhiên, công việc ngụy trang này trở nên quá tốt đẹp vì khi những người có trách nhiệm bao phủ bức tượng bằng lớp thạch cao đã qua đời, sự thật nguyên thủy của Kim Thân Phật Vàng Ròng cũng chìm vào dĩ vãng.
Về sau, tượng Phật phủ thạch cao đã được dời đến BangKok và được tôn thờ là Kim Thân Phật chính trong chánh điện của Tu viện Choti-naram, hay Wat Phrayakrai, suốt triều đại Vua Rama III (1824-51) của Thailand. Tu viện đã bị bỏ hoang vào khoảng năm 1931, và Kim Thân Phật phủ thạch cao được di chuyển vào một chổ ẩn tạm thời. Hai thế kỷ sau khi Kim Thân Phật Vàng Ròng được bao phủ thạch cao, không ai biết giá trị thật sự của Kim Thân.
Chân giá trị của Kim thân Phật có lẽ không được khám phá ra nếu không tình cờ xảy ra một sự rủi ro. Khi tượng Phật được di chuyển đến một tu viện mới ở BangKok vào thập niên 1950. Kim Thân Phật đã bị trượt từ một cần trục và rơi xuống bùn. Xuyên qua một nét rạn nứt trong thạch cao, vị tỳ khưu tu viện đã nhận ra tia lấp lánh vàng và chẳng mấy chốc khám phá rằng Kim Thân Phật này nguyên chất vàng ròng, và rồi sau đó là lịch sử của pho tượng.
------------------------------------------------
No. 0341 NEW ( Chánh Hạnh dịch)
Lumbini sẽ được phát triển thành trung tâm hoà bình thế giới
The Rising Nepal, May 24, 2005
Lumbini – Bộ trưởng bộ văn hóa, du lịch, Hàng không dân dụng và chủ tịch Ủy Ban Phát Triển Lâm Tỳ Ni Raj Bajracharya thừa nhận Tổng công trình phát triển Lâm Tỳ Ni được thiết kế cho sự hợp nhất của khu vực Lumbini không thể bắt kịp đà tiến hóa.
Với cương vị là khách mời hàng đầu trong buổi lễ hội đặc biệt tổ chức ngày 23 tháng 05 kỷ niệm đản sinh lần thứ 2549 của Gautam Buddha và ngày Lumbini – 2005, Bộ trưởng Bajracharya nói “Sự phát triển của Lumibini đã bị giới hạn so sánh với tình hình báo cáo trong các bài diễn thuyết và công trình này sẽ kéo dài cả 100 năm mới hoàn thành với tốc độ rùa bò”.
Ðược chuẩn bị và lên kế hoạch thực hiện vào năm 1978, tổng công trình được dự trù sẽ hoàn thành vào năm 1995, so với thực tế ngay cả phân nửa công việc cũng chưa hoàn thành. Lãng phí trong vấn đề thực hiện tổng công trình là sự sai lầm và thái độ thối nát của một số phần tử đảng phái chính trị trong 13 năm qua, Bajracharya nói thêm việc phát triển Lumbini lẽ ra phải được tiến hành sớm hơn về trước.
Ðề cập tới việc chính phủ chú tâm phát triển Lumbini thành trung tâm hòa biǹh thế giới, ông nói Căn cứ Hàng không Bhairahawa Gautam Buddha nên được phát triển như cảng hàng không quốc tế trong vòng 3 năm. Phó chủ tịch Ủy Ban, ông Omkar Prasad Gauchan và những viên chức khác cũng có phát biểu trong chương trình này.
Cùng lúc, Ủy ban tổ chức lễ kỷ niệm đản sinh Buddha Jayanti đã chủ tọa một buổi hội thảo chuyên đề thi ca đón mừng đản sinh lần thứ 2549 của Ðức Phật. Phát biểu trong d ịp này, Bộ trưởng bộ Giáo Dục và Thể thao Radha Krishna Mainali nói “Xã hội nên được hướng dẫn đi tới con đường hòa bình theo giáo huấn của Ðức Phật . Đó là nhiệm vụ phải làm của tất cả công dân cho nền hoà bình của đất nước”. Những sắc thái riêng biệt trong thi ca bằng ngôn ngữ Nepali, Tamang, Maithili, Nepalbhasha, Kirat được thuyết trình trong buổi hội thảo Một cuộc “Chạy đua vì Hoà bình” cũng được tổ chức trong dịp này để kỷ niệm đản sinh lần thứ 2549 của Ðức Phật. Vận động viên quốc tế Baikuntha Manandhar đã hướng dẫn cuộc đua bắt đầu từ chùa Namobuddha ở điạ phương và kết thúc ở Swyambhu Mahachaitya.
-----------------------------------------
No. 0350 NEW ( Hạt Cát dịch)
Hy vọng đi vào kỷ lục Guinness với bức mạn đà la lớn nhất thế giới.
The Star, June 7, 2005
Georgetown, Penang -Dân chúng Mã Lai đang tìm kiếm cơ hội đi vào kỷ lục thế giới trong sách Guinness với công trình thực hiện bức trang bằng cát hay còn gọi là Mạn Ðà La lớn nhất thế giới. Bức Mạn Ðà La này chiều ngang 24 mét, chiều cao 16 mét được hoàn thành trong 72 giờ với 90 tình nguyện viên, đa số từ nhóm SMK thuộc tổ chức Moral Uplifting Society tại thành phố Jalan Macalister, Mã Lai.
Nhà tổ chức hy vọng tác phẩm nghệ thuật này sẽ phá kỷ lục hiện tại là một bức mạn đà la 12 mét vuông được thực hiện hồi năm ngoái bởi các tu sĩ tại Kim Tháp Tự, Tân Gia Ba.
Bức mạn đà la mới nhất này được thực hiện bằngg 10 tấn cát nhuộm màu với tám biểu tượng cát tường như lộng, cá, ốc xà cừ, bình, hoa sen, bánh xe pháp v.v...Bức mạn đà la đã được chúc lành bởi tu sĩ Tây Tạng Lho Bhongtul Rinponche. Phần cát sau đó được phân chia cho tín chúng và một số được rải trên biển như một lời hồi hướng phước cho nạn nhân sóng thần hồi tháng 12 năm vừa qua. Công trình này đã diễn ra ngày 6 tháng 6 với sự yểm trợ của diễn viên hài kịch Hongkong Eric Tsang. Một điểm nổi bật khác của công trình là cống hiến 20,000 ngọn đèn dầu, cầu nguyện, chúc lành, tụng kinh, lớp dạy nấu món chay v.v... Nhà tổ chức hy vọng sẽ quyên góp được 400,000 Mã Kim cho các tổ chức thiện nguyện.
No. 0346 NEW( TinhTấn dịch)
Kim Thân Phật Vàng Ròng tại Wat Traimit
Được viết bởi Jeffrey Miller, The Korea Times Feature Writer,
ngày 2 tháng 6 năm 2005
Bangkok, Thailand – Có rất nhiều tu viện Phật Giáo nguy nga lộng lẫy đang đợi chờ du khách ở Bangkok, nhưng trong tất cả các Kim thân Phật, có lẽ không có Kim thân Phật nào uy nghi hơn Kim thân Phật Vàng Ròng này.
Tượng Phật được tôn trí tại chùa (Wat) Traimit ở cuối đường Yaowarat gần trạm xe lửa Hualampong ở Bangkok, Kim thân Phật Vàng Ròng là một trong các tượng Phật có sức hấp dẫn phải chiêm bái ở Bangkok. Mặc dù tu viện này so ra rất lu mờ đối với các tu viện khác ở BangKok vì kiến trúc khiêm nhượng hơn, nhưng Kim thân Phật Vàng Ròng bên trong tu viện đã hấp dẫn hàng trăm du khách hằng ngày.
Được đúc chế trong thời kỳ Sukhothai, bảo tọa của Đức Phật cao ba mét (khoảng 10 bộ) được làm bằng vàng khối và cân nặng năm tấn rưởi - là bảo tọa của Đức Phật lớn nhất trên thế giới. Kim thân Phật vĩ đại này long lanh ánh sáng vàng óng quý giá tráng lệ và tinh khiết mà ngay cả một người kiệt sức nhất cũng được cảm ứng bởi sự an lạc và năng lực của pho tượng tỏa ra khi bạn đến gần.
Thật sự, hầu như tất cả các tượng Phật mà người ta có thể chiêm bái ở Bangkok từ Kim Thân Phật ở Emerald ở Wat Phra Kaeo cho đến Kim Thân Phật Niết Bàn ở Wat Po, Kim thân Phật Vàng Ròng là một trong những bức tượng đẹp hơn và trong sáng an lành hơn được tìm thấy trong thành phố mà không một nghi vấn nào.
Viếng thăm Wat Traimit là việc nên đặt lên hàng đầu trong lịch trình những nơi tham quan khi tới Bangkok. Câu chuyện ẩn dụ sau Kim Thân Phật lạ lùng này (và việc khám phá ra) cũng gây ấn tượng sâu sắc như nhau. Trong khi người ta xác định rằng Kim Thân Phật được tạo ra trong khoảng thời gian nào đó vào thời kỳ Sukhothai (thế kỷ 13 đến thế kỷ 15)- một trong những thời kỳ nổi bật nhất ở Thailand về kiến trúc và nghệ thuật Phật Giáo - vẫn không ai biết chính xác khi nào và nơi đâu. Tuy nhiên, Kim Thân Phật được tôn trí trong một tu viện tại kinh đô cổ của thời Ayutthaya (khoảng một giờ đi xe về phía Bắc Bangkok).
Câu chuyện Kim Thân Phật Vàng Ròng thật thú vị vì tượng Phật được ngụy trang để bảo vệ sự quý giá của bức tượng. Khi người Miến Điện khởi sự cướp phá thành phố, Kim Thân Phật Vàng Ròng này được bao phủ trong lớp thạch cao để che đậy mắt những kẻ xâm chiếm. Hiển nhiên, công việc ngụy trang này trở nên quá tốt đẹp vì khi những người có trách nhiệm bao phủ bức tượng bằng lớp thạch cao đã qua đời, sự thật nguyên thủy của Kim Thân Phật Vàng Ròng cũng chìm vào dĩ vãng.
Về sau, tượng Phật phủ thạch cao đã được dời đến BangKok và được tôn thờ là Kim Thân Phật chính trong chánh điện của Tu viện Choti-naram, hay Wat Phrayakrai, suốt triều đại Vua Rama III (1824-51) của Thailand. Tu viện đã bị bỏ hoang vào khoảng năm 1931, và Kim Thân Phật phủ thạch cao được di chuyển vào một chổ ẩn tạm thời. Hai thế kỷ sau khi Kim Thân Phật Vàng Ròng được bao phủ thạch cao, không ai biết giá trị thật sự của Kim Thân.
Chân giá trị của Kim thân Phật có lẽ không được khám phá ra nếu không tình cờ xảy ra một sự rủi ro. Khi tượng Phật được di chuyển đến một tu viện mới ở BangKok vào thập niên 1950. Kim Thân Phật đã bị trượt từ một cần trục và rơi xuống bùn. Xuyên qua một nét rạn nứt trong thạch cao, vị tỳ khưu tu viện đã nhận ra tia lấp lánh vàng và chẳng mấy chốc khám phá rằng Kim Thân Phật này nguyên chất vàng ròng, và rồi sau đó là lịch sử của pho tượng.
------------------------------------------------
No. 0341 NEW ( Chánh Hạnh dịch)
Lumbini sẽ được phát triển thành trung tâm hoà bình thế giới
The Rising Nepal, May 24, 2005
Lumbini – Bộ trưởng bộ văn hóa, du lịch, Hàng không dân dụng và chủ tịch Ủy Ban Phát Triển Lâm Tỳ Ni Raj Bajracharya thừa nhận Tổng công trình phát triển Lâm Tỳ Ni được thiết kế cho sự hợp nhất của khu vực Lumbini không thể bắt kịp đà tiến hóa.
Với cương vị là khách mời hàng đầu trong buổi lễ hội đặc biệt tổ chức ngày 23 tháng 05 kỷ niệm đản sinh lần thứ 2549 của Gautam Buddha và ngày Lumbini – 2005, Bộ trưởng Bajracharya nói “Sự phát triển của Lumibini đã bị giới hạn so sánh với tình hình báo cáo trong các bài diễn thuyết và công trình này sẽ kéo dài cả 100 năm mới hoàn thành với tốc độ rùa bò”.
Ðược chuẩn bị và lên kế hoạch thực hiện vào năm 1978, tổng công trình được dự trù sẽ hoàn thành vào năm 1995, so với thực tế ngay cả phân nửa công việc cũng chưa hoàn thành. Lãng phí trong vấn đề thực hiện tổng công trình là sự sai lầm và thái độ thối nát của một số phần tử đảng phái chính trị trong 13 năm qua, Bajracharya nói thêm việc phát triển Lumbini lẽ ra phải được tiến hành sớm hơn về trước.
Ðề cập tới việc chính phủ chú tâm phát triển Lumbini thành trung tâm hòa biǹh thế giới, ông nói Căn cứ Hàng không Bhairahawa Gautam Buddha nên được phát triển như cảng hàng không quốc tế trong vòng 3 năm. Phó chủ tịch Ủy Ban, ông Omkar Prasad Gauchan và những viên chức khác cũng có phát biểu trong chương trình này.
Cùng lúc, Ủy ban tổ chức lễ kỷ niệm đản sinh Buddha Jayanti đã chủ tọa một buổi hội thảo chuyên đề thi ca đón mừng đản sinh lần thứ 2549 của Ðức Phật. Phát biểu trong d ịp này, Bộ trưởng bộ Giáo Dục và Thể thao Radha Krishna Mainali nói “Xã hội nên được hướng dẫn đi tới con đường hòa bình theo giáo huấn của Ðức Phật . Đó là nhiệm vụ phải làm của tất cả công dân cho nền hoà bình của đất nước”. Những sắc thái riêng biệt trong thi ca bằng ngôn ngữ Nepali, Tamang, Maithili, Nepalbhasha, Kirat được thuyết trình trong buổi hội thảo Một cuộc “Chạy đua vì Hoà bình” cũng được tổ chức trong dịp này để kỷ niệm đản sinh lần thứ 2549 của Ðức Phật. Vận động viên quốc tế Baikuntha Manandhar đã hướng dẫn cuộc đua bắt đầu từ chùa Namobuddha ở điạ phương và kết thúc ở Swyambhu Mahachaitya.
-----------------------------------------
No. 0350 NEW ( Hạt Cát dịch)
Hy vọng đi vào kỷ lục Guinness với bức mạn đà la lớn nhất thế giới.
The Star, June 7, 2005
Georgetown, Penang -Dân chúng Mã Lai đang tìm kiếm cơ hội đi vào kỷ lục thế giới trong sách Guinness với công trình thực hiện bức trang bằng cát hay còn gọi là Mạn Ðà La lớn nhất thế giới. Bức Mạn Ðà La này chiều ngang 24 mét, chiều cao 16 mét được hoàn thành trong 72 giờ với 90 tình nguyện viên, đa số từ nhóm SMK thuộc tổ chức Moral Uplifting Society tại thành phố Jalan Macalister, Mã Lai.
Nhà tổ chức hy vọng tác phẩm nghệ thuật này sẽ phá kỷ lục hiện tại là một bức mạn đà la 12 mét vuông được thực hiện hồi năm ngoái bởi các tu sĩ tại Kim Tháp Tự, Tân Gia Ba.
Bức mạn đà la mới nhất này được thực hiện bằngg 10 tấn cát nhuộm màu với tám biểu tượng cát tường như lộng, cá, ốc xà cừ, bình, hoa sen, bánh xe pháp v.v...Bức mạn đà la đã được chúc lành bởi tu sĩ Tây Tạng Lho Bhongtul Rinponche. Phần cát sau đó được phân chia cho tín chúng và một số được rải trên biển như một lời hồi hướng phước cho nạn nhân sóng thần hồi tháng 12 năm vừa qua. Công trình này đã diễn ra ngày 6 tháng 6 với sự yểm trợ của diễn viên hài kịch Hongkong Eric Tsang. Một điểm nổi bật khác của công trình là cống hiến 20,000 ngọn đèn dầu, cầu nguyện, chúc lành, tụng kinh, lớp dạy nấu món chay v.v... Nhà tổ chức hy vọng sẽ quyên góp được 400,000 Mã Kim cho các tổ chức thiện nguyện.
Thứ Năm, 9 tháng 6, 2005
Nhật Hành
Ngày: 9 Tháng 06 năm 2005
Tri chúng: Nhu Khanh
Tri chúng điền khuyết: anitya
Môn học: Phật Học Phổ Thông
Bài học: Huý Nhật Ngài Trưởng Lão Tịnh Sự - Santakicco Mahathero
Giảng sư chính: TT Trí Siêu
Giảng sư điền khuyết: Sư Giác Đẳng
Vị Tăng hoặc Ni nói lời cầu nguyện đầu lớp học: DD minh hanh
Xướng ngôn viên cho bài học: Phần 1a: ....đk: ...// Phần 1b: ....đk: ...//Phần 3a: ....đk: ...//Phần 3b: ....đk: ...//Phần 3c: ....đk: ...//Phần 3d: ....đk: ...//Hoi Huong: Nhu Khanh http://baidocmc.blogspot.com/
Người mở room: Diệu Quang va mindvox
Người mở nhạc và kinh tụng: Diệu Quang, mindvox và anitya
Người post bài cho Room: mindvox , anitya, Nhu Phuc
Người post và gửi bài riêng cho chư Tăng: Nhu Phuc
Trực room (op):
Thông báo (nếu có):
Ngày: 9 Tháng 06 năm 2005
Tri chúng: Nhu Khanh
Tri chúng điền khuyết: anitya
Môn học: Phật Học Phổ Thông
Bài học: Huý Nhật Ngài Trưởng Lão Tịnh Sự - Santakicco Mahathero
Giảng sư chính: TT Trí Siêu
Giảng sư điền khuyết: Sư Giác Đẳng
Vị Tăng hoặc Ni nói lời cầu nguyện đầu lớp học: DD minh hanh
Xướng ngôn viên cho bài học: Phần 1a: ....đk: ...// Phần 1b: ....đk: ...//Phần 3a: ....đk: ...//Phần 3b: ....đk: ...//Phần 3c: ....đk: ...//Phần 3d: ....đk: ...//Hoi Huong: Nhu Khanh http://baidocmc.blogspot.com/
Người mở room: Diệu Quang va mindvox
Người mở nhạc và kinh tụng: Diệu Quang, mindvox và anitya
Người post bài cho Room: mindvox , anitya, Nhu Phuc
Người post và gửi bài riêng cho chư Tăng: Nhu Phuc
Trực room (op):
Thông báo (nếu có):
Huý Nhật
Ngài Trưởng Lão Tịnh Sự - Santakicco Mahathero
1. Tuyên đọc: Tiểu sử Ngài Tịnh Sự
2. Nghi thức hướng nguyện công đức (Phạn ngữ)
3. Tư liệu 1: A Tỳ Đàm trong Phật Học
4. Vần thơ cảm niệm
5. Tư liệu 2: Ngài Tịnh Sự, môn A Tỳ Đàm và Đạo Phật Việt Nam
6. Nhạc phẩm: Lễ Tăng Bảo
7. Tư liệu 3: Sự thừa tiếp Tạng Diệu Pháp tại Việt Nam
8. Thảo luận của Chư Tăng
9. Cảm tạ - hồi hướng
Tiểu sử Ngài Tịnh Sự
Hòa thượng Tịnh Sự, thế danh là Võ Văn Ðang, sinh năm Quí Sửu (1913), trong một gia đình có truyền thống Nho giáo, tại một vùng quê miền Nam, xã Hòa Long, huyện Lai Vung, tỉnh Ðồng Tháp. Thân phụ Ngài là cụ Võ Văn Tỏ, thân mẫu là cụ Trần Thị Thông.
Năm 7 tuổi Ngài đã học chữ Nho. Rất thông minh, Ngài được người đương thời gọi là “Thần đồng Lê Quí Ðôn”. Do túc duyên sẵn có từ nhiều đời, đến năm 12 tuổi Ngài xuất gia và thọ giới Sa Di tại chùa Bửu Hưng (Sa Ðéc). Thấy Ngài quá thông minh nên Bổn sư đặt pháp danh là Thích Huệ Lực.
Năm 20 tuổi Ngài thọ giới Tỳ kheo tại chùa Kim Huê, Sa Ðéc. Ðến năm 25 tuổi Ngài được bổ nhiệm về trụ trì tại chùa Phước Ðịnh, Chợ Lách. Năm 30 tuổi Ngài trụ trì chùa Viên Giác, Vĩnh Long. Năm 35 tuổi duyên lành đối với Phật giáo Nam Tông đã chín mùi, Ngài được du học tại Chùa Tháp Campuchia, thọ giới theo Phật giáo Nam Tông tại chùa Kùm Pung (Treyloko) ở Trà Pét.
Từ Campuchia Ngài có thiện duyên du học tại Thái Lan, thọ giới Tỳ kheo tại chùa Pakknam Bangkok. Ngài được thầy tế độ ban pháp danh là Tịnh Sự (Santakicco) vì thấy Ngài chuyên tâm hành đạo. Tại xứ Phật giáo Thái Lan này, Ngài đã thực hành hạnh đầu đà, tu thiền Minh Sát và học A Tỳ Ðàm (Abhidhamma) trong bảy năm. Rời Thái Lan về Việt Nam, Ngài trở lại trụ trì chùa Viên Giác - Vĩnh Long. Ngài bắt đầu mở mang truyền bá giáo pháp Nguyên Thủy. Ngài dạy Pháp học A Tỳ Ðàm Pàli (Abhidhamma) và Pháp hành Tứ Niệm Xứ.
Muốn cho môn học Abhidhamma được truyền bá rộng rãi nên vào năm 59 tuổi Ngài về trụ trì chùa Siêu Lý - Sài Gòn. Mở trường chuyên dạy về môn Abhidhamma và dịch các bộ sách Giáo Khoa Phật Học như Vi Diệu Pháp Sơ Cấp, Trung Cấp và Chánh Tạng Abhidhamma.
Ngài đã đào tạo nhiều thế hệ học trò Vi Diệu Pháp. Các thế hệ đệ tử này đã kế thừa sự nghiệp của Ngài truyền bá môn Abhidhamma khắp nơi. Những thế hệ đệ tử Vi Diệu Pháp đầu tiên hiện nay còn những vị tiêu biểu như Ðại Ðức Giác Chánh, cư sĩ Vĩnh Phúc, cư sĩ Trần Quỳnh Hương đã có công đức duy trì và phát triển môn học Abhidhamma.
Về phương diện đào tạo Tăng tài, Ngài đã từng làm thầy Tế độ truyền giới xuất gia cho hàng trăm Sa Di, Tỳ Kheo. Họ đã tiếp nối được sự nghiệp truyền bá giáo pháp của Ngài một cách tốt đẹp.
Không những chỉ đào tạo Tăng tài mà Ngài còn xây dựng rất nhiều cơ sở tự viện: chùa Viên Giác (Vĩnh Long), chùa Long Linh, chùa Giác Phước, chùa Pháp Ðộ, chùa Trúc Lâm, chùa Siêu Lý, chùa Thiền Quang 1, chùa Thiền Quang 2.
Ðiểm nổi bật nhất trong sự nghiệp hoằng pháp của Hòa thượng là Ngài đã dịch hoàn thành Tạng luận Pàli tức Tạng Abhidhamma (A Tỳ Ðàm, Vi Diệu Pháp) gồm:
1) Bộ Pháp Tụ (Dhammasangani).
2) Bộ Phân Tích (Vibhanga).
3) Bộ Chất Ngữ (Dhàtu kàthà).
4) Bộ Nhân Chế Ðịnh (Puggala Pannatti).
5) Bộ Ngữ Tông (Kàthà Vatthu).
6) Bộ Song Ðối (Yamaka).
7) Bộ Pháp Trí (Patthana).
Ðó là phần chánh tạng Abhidhamma. Sau đây là những dịch phẩm giáo khoa Adhidhamma được giảng dạy tại các trường Phật Học Thái Lan:
1) Vi Diệu Pháp Sơ Cấp.
2) Vi Diệu Pháp Trung Cấp.
3) Vi Diệu Pháp Cao Cấp.
4) Thanh Tịnh Ðạo.
5) Diệu Pháp Lý Hợp.
Sự nghiệp đạo pháp của Ngài vô cùng to lớn. Nhất là Ngài đã dành hết đời mình để phiên dịch trọn Tạng Vi Diệu Pháp (Luận Tạng Pàli). Qua công hạnh này, Ngài là một ngôi sao mà càng nhìn chúng ta càng thấy sáng hơn.
Ðêm mùng 6 tháng 5 năm Giáp Tý, Ngài thọ bệnh. Nửa đêm hôm ấy Ngài cho gọi Chư Tăng để ban di huấn và gởi lời sám hối đến Tăng chúng gần xa. Rồi Ngài an trú chánh niệm và viên tịch lúc 6 giờ 15' sáng ngày 7 tháng 5 năm Giáp Tý (tức 05-06-1984), hưởng thọ 72 tuổi, hành đạo 52 năm.
--------------------------------------------------------------------------------
Tư liệu 1: A Tỳ Đàm trong Phật Học
Văn học Abhidhamma có thể xem là môn Tâm Lý Học của Phật giáo vì bốn vấn đề được đem ra giải thích cặn kẽ hoàn toàn thuộc về con người và đặc biệt là phần tâm thức. Bốn pháp được đề cập là Citta (tâm), Cetasika (tâm sở), Rùpa (Sắc) và Nibbàna (Niết bàn). Tâm, Tâm sở, Niết bàn dĩ nhiên thuộc về tâm thức, nhưng Sắc pháp ở đây nói nhiều về thân thể con người và sự liên lạc giữa thân thể ấy với tâm thức. Ðạo Phật không bao giờ tách rời Tâm và Sắc vì cả hai đều tương quan liên đới. Chia chẻ theo 2 pháp thời Nàma (danh) thuộc về Tâm pháp và Rùpa (Sắc) thuộc về Sắc pháp. Nói đến 5 Uẩn, thời Rùpakkhandha (Sắc uẩn) thuộc về Sắc pháp còn 4 Uẩn còn lại thuộc về Tâm pháp v.v...
Ðiểm nói bật nhất trong môn học Abhidharma là sự phân tích rất tinh tế và tỉ mỉ các tâm và tâm sở, và theo Pàli Abhidhamma, có đến 89 hay 121 tâm (Citta) và 52 tâm sở (Cetasika). Ðúng với truyền thống "phân tích tông" (Vibhajavàda, một tên khác của Thượng Tọa Bộ), Pàli Abhidhamma chia chẻ các loại tâm thành Dục giới tâm; Sắc giới tâm, Vô sắc giới tâm, Siêu thế tâm (theo cảnh giới), hoặc thành Bất thiện tâm, Vô nhân tâm, Tịnh quang tâm (theo khả năng hướng thiện hay không hướng thiện), hoặc theo Thiện tâm, Dị thục tâm, Duy tác tâm (theo khả năng tái sanh một đời sau hay không); hoặc theo Hữu nhân, Vô nhân tâm (nếu đứng về phương diện căn nhân chi phối các tâm ấy) v.v... Phần tâm sở lại tế nhị hơn, và chúng ta được biết khi nhãn thức khởi lên thời ít nhất có 7 Biến hành tâm sở cùng khởi một lần, tức là Xúc, thọ, trưởng, tư, mạng căn, nhứt tâm và tác ý. Còn tế nhị hơn là những băng thống kê tỉ mỉ tìm tòi số lượng các tâm sở hiện hành trong một tâm và những tâm sở nào được tìm thấy trong những loại tâm nào. Chúng ta không ngờ hỷ tâm sở có mặt trong 51 tâm, xả tâm sở khởi lên trong 70 tâm, và một tâm giản dị như tiếu sanh tâm cũng có đến 12 tâm sở cùng khởi lên một lần (xúc, thọ, tưởng, tư, nhứt tâm, tác ý, mạng cặn, tầm, tứ, hỷ, tinh tấn, thắng giải). Một sự cống hiến đặc biệt của Pàli Abhidhamma cho môn Tâm lý học là sự giải thích về Cittavìthi hay lộ trình của tâm. Mỗi khi có một sự kích thích ở ngoài ngang qua 5 căn thời cả một số tâm tiếp diễn liên tục, khởi lên, diệt xuống lâu cho đến 16 tâm sát-na.
1. Bhavangacalana: Hữu phần chuyển động.
2. Bhavangupaccheda: Hữu phần dừng nghỉ.
3. Pancadvàràvajjana: Ngũ môn hướng tâm.
4. Cakkhuvinnàna: (Nhãn thức hay một trong 4 thức khác).
5. Sampaticchana: Tiếp thọ tâm.
6. Santìrana: Suy đạc tâm.
7. Votthapana: Xác định tâm.
8-14. Javana: Tốc hành tâm.
15-16. Tadàlambana: Ðồng sở duyên tâm.
Như vậy từ khi Hữu phần rung động cho đến Ðồng sở duyên tâm có đến 16 tâm sát-na, và nếu chúng ta cộng thêm một tâm sát-na nữa, thời gian cần thiết để đối tượng ở ngoài tiếp xúc với nội căn, thời chúng ta thấy đời sống một lộ trình của tâm có đến tất cả 17 tâm sát-na và có 7 loại tâm khởi lên rồi diệt xuống trong một lộ trình (Từ Ngũ môn hướng tâm đến Ðồng sở duyên tâm). Thật là một sự khám phá hy hữu, và sự phân tích thật vô cùng tế nhị và khúc chiết.
Tập Abhidhamma không những giải thích sự diễn tiến của tâm thức khi bị kích thích bởi ngoại trần hay nội tâm, ngang qua 5 căn hay ngang qua ý căn (Pavattana), mà còn miêu tả Kiết sanh thức (Patisandhi) liên hệ từ đời này qua đời khác. Ở đây chúng ta thấy rõ cả sự cố gắng để giải thích trạng thái tái sanh của con người, những sức mạnh gì đã khiến con người sau khi chết phải đi đầu thai một đời nữa để thỏa mãn sự đòi hỏi, sự tham sống của kiếp người. Vẫn biết vấn đề này vượt ngoài sự nhận thức của con người vì chúng ta không nhớ đến khi chúng ta lâm chung hay đi đầu thai, nhưng sự cắt nghĩa ở đây có thể xem là hợp lý, khoa học nhất, dựa vào thực tế mà trình bày, và đây cũng là một sự cống hiến đặc biệt nữa của Abhidhamma cho vấn đề sống chết của con người, một vấn đề mà các nhà triết gia bao giờ cũng boăn khăn tìm hiểu.
Lama Govinda, một tu sĩ Phật giáo người Ðức trong quyển The Psychological Attitude of Early Buddhist Philosophy (Thái độ tâm lý của triết học đạo Phật nguyên thủy) đã xem văn học Abhidhamma như môn tâm lý học và triết học của đạo Phật. Còn ông Egerton C. Baptist trong quyển Abhidhamma for the Beginners (Abhidhamma cho những người sơ cơ) thì so sánh môn học Abhidhamma như môn siêu hình học của Phật giáo. Nếu siêu hình có nghĩa là vấn đề tìm hiểu Thượng đế và vấn đề tạo thiên lập địa thì môn học Abhidhamma không thể là môn siêu hình học, vì hai vấn đề này không được đề cập đến. Ðúng với truyền thống thực tiễn của Kinh tạng không muốn đề cập đến những vấn đề không liên hệ với đời sống thực tại, đối tượng của môn học Abhidhamma là vấn đề tâm linh và hoàn cảnh thực tại của con người đang sống. Nhưng nếu chúng ta định nghĩa siêu hình là những vấn đề vượt khỏi sự hiểu biết hiện tại cạn cợt và có giới hạn của chúng ta, thời Abhidhamma có thể xem là môn siêu hình vì Sắc giới tâm, Vô sắc giới tâm và Siêu thế tâm vượt ngoài sự hiểu biết hiện tại của con người. Muốn chứng được Sắc giới tâm, phải tu các pháp thiền ở Sắc giới, muốn hiểu Vô sắc giới tâm phải tu các pháp Thiền ở Vô Sắc giới, và muốn đạt đến các quả thánh, phải tu quán (vipassanà) về Ba pháp ấn. Ở đây chúng ta thấy rõ siêu hình không dựa trên lòng tin không bằng chứng vào tưởng tượng và dự đoán mà chỉ là trạng thái tâm thức chưa được phát giác ra, bởi vì kinh nghiệm cá nhân của con người chưa đạt tới, và khi đã đạt tới, thời siêu hình đã trở thành kinh nghiệm cá nhân. Nói một cách khác, đạo Phật không bác bỏ siêu hình, nếu phần siêu hình được phát giác trên con đường kinh nghiệm cá nhân. Phần này chỉ bị bác bỏ khi nào chỉ được hình thành trên con đường của tưởng tượng và dự đoán. Ở đây, theo tạng Abhidhamma, siêu hình là một khái niệm hoàn toàn tương đối mà ranh giới tùy thuộc ranh giới kinh nghiệm cá nhân của mình và tùy thuộc vào hình thức và tầm lực của nhận thức. Ðức Phật nhiếp phục siêu hình với những vấn đề nan giải của siêu hình, không phải chỉ không biết đến siêu hình, mà chính với thái độ tích cực và thiết thực, nghĩa là nhờ ở sự tu tập và tiềm lực của nhận thức, đức Phật thu nhỏ dần ranh giới của siêu hình, và như vậy siêu hình trở thành kinh nghiệm.
Nói đến đạo đức học tức là giới vức thứ ba của triết học, Abhidhamma cũng là môn luân lý học của đạo Phật, vì tất cả lời dạy trực tiếp hay gián tiếp của đức Phật đều hướng con người đến giải thoát và giác ngộ. Tiêu chuẩn đạo đức ở đây không phải là lời phán xét của đức Phật, cũng không phải dựa vào truyền thống hay tập tục của một thời đại nào. Tiêu chuẩn thiện ác ở đạo Phật tùy thuộc ở con người và 12 Bất thiện trong tâm Abhidhamma được định nghĩa là những tâm khiến con người đi xa đích giải thoát và giác ngộ, 18 Vô nhân tâm (ahetukacitta) là những tâm lưng chừng, không tới cũng không lui, và 59 Tịnh quang tâm (sobhanacitta) là những tâm khiến con người tiến dần đến mục tiêu giải thoát và giác ngộ. Ở đây, chúng ta cũng phải nhận rõ thái độ của nhà triết gia Ðông phương không những trình bày lý thuyết của mình mà còn phải sống theo lý thuyết ấy trên thực tế và kinh nghiệm. Tri hành hợp nhất, trí đức song tu là những tiêu chuẩn bất di bất dịch cho những triết gia Ðông phương và do vậy đạo đức học không bao giờ rời khỏi phần triết học trong tạng Abhidhamma. Tìm cho ra phần luận lý trong tạng Abhidhamma không phải dễ dàng vì văn học Abhidhamma tuy đã có sự cố gắng hệ thống hóa những tư tưởng chính của đức Phật, sự phát triển này về luận lý học chưa đến mực độ trở thành một hệ thống riêng biệt về luận lý như Nhơn minh học (Hetuvidyà) của Ðại thừa. Nhưng đạo Phật bao giờ cũng chú trọng đến lý trí, suy luận, thực tu thực chứng lẽ dĩ nhiên bao giờ cũng kính trọng những nguyên tắc căn bản của pháp suy luận và do vậy chúng ta có thể nói phần luận lý lúc nào cũng tiềm tàng trong tạng Abhidhamma.
Một vấn đề nữa cũng rất quan trọng trong khi đề cập đến Abhidhamma là sự liên lạc giữa Kinh tạng và Luận tạng, và sự sai khác giữa hai tạng ấy. Dầu Kinh tạng là phần tử hấp dẫn nhất trong Ba tạng, và được xem là nguyên thủy nhất, Kinh tạng vẫn là sự sưu tầm những lời dạy của đức Phật cho từng trường hợp, từng hoàn cảnh, từng cá nhân lẻ tẻ, nhiều khi không có liên hệ tương quan. Abhidhamma tạng là cả một sự cố gắng hệ thống hóa những lý thuyết và phương pháp tiềm tàng và rải rác trong Kinh tạng, và đặc biệt đặt những hệ thống ấy trên một bối cảnh chung và nhờ vậy giúp chúng ta có một khái niệm tổng quát và quán xuyến về đạo Phật. Chúng ta không thể lấy những điều kiện lịch sử để phán đoán giá trị của Abhidhamma, vì rất có thể những phần tử quan trọng của Abhidhamma được hình thành một lần với Kinh tạng. Phần lớn các nhà học giả đều đồng ý rằng tạng Abhidhamma được tổ chức và phát triển từ các Matrikà, nghĩa là những công thức đã có sẵn trong kinh tạng, và như vậy tạng Abhidhamma vẫn có thể được xem là tạng có tánh cách nguyên thủy. Vả lại chính trong Kinh tạng, cũng có những loại kinh hoặc bộ kinh mang nặng đặc chất Abhidhamma hơn là Kinh tạng, như kinh Sangìtisutta trong bộ Dìghanikàya và tập Niddesa trong bộ Khuddakanikàya. Và như Lama Govinda đã nói, "chính trong thời đức Phật tại thế, vẫn không có một đạo Phật tuyệt đối, một hình thức giáo điều của sự thật, mà chỉ có một sự hướng dẫn về phương hướng và phương pháp có thể đưa đến sự tự chứng cá nhân. Khi nào Abhidhamma còn phụng sự được lý tưởng này bằng cách chỉ cho chúng ta rõ, một ít nét đại cương của tư tưởng Phật giáo, thì vấn đề tạng Abhidhamma được kiết tập sớm hay muộn không có gì quan trọng cả".
Về phương pháp diễn đạt, tạng Abhidhamma chú trọng đặc biệt về một hệ thống gọi là Patisambhidà (Vô ngại giải hay Pratisamvit, một hệ thống của luận lý phân tích). Hệ thống này được chia thành bốn ngành. 1) Phân tích về ý nghĩa (Nghĩa vô ngại giải, Attha) của các danh từ (hay vật, vì danh từ định nghĩa sự vật). 2) Phân tích về pháp (Dhamma, Pháp vô ngại giải). Chữ pháp được tập Vibhanga và ngài Buddhaghosa, định nghĩa là sự hiểu biết về những nguyên nhân của sự vật. 3) Phân tích về văn phạm (Từ vô ngại giải, Nirutti), 4) Phân tích về Patibhàna (Biện vô ngại giải). Nhưng trong bộ luận chữ Hán Tsa-tsi, Attha lại có nghĩa là sự hiểu biết về những danh từ riêng và chung, và Dhamma có nghĩa là các Ðồng nghĩa. Trong tập Niddesa, các danh từ được giải thích bằng một danh sách dài các chữ Ðồng nghĩa (Dhamma) và các chữ khác được dùng những định nghĩa thông thường (Attha). Còn địa phương ngữ và những hình thức đặc biệt cũng cần giải thích và đó chính là Nirutti. Ngoài ra, còn có sự giải thích về giáo lý và ở đây cần phải có sức biện tài (Patibhàna).
Một đặc tánh nữa của tạng Abhidhamma mà các luận sư cho là rất đặc biệt là sự cố gắng của tạng Abhidhamma giải thích sự vật theo đệ nhứt nghĩa đế (Paramatthasacca), chớ không theo tục đế (Sammutisacca) như trong Kinh tạng. Như khi nói đến cái bàn, là theo tục đế, nhưng khi nói đến những cơ năng, những đặc tánh tạo thành cái bàn là nói đến Ðệ nhứt nghĩa đế. Trong Kinh tạng, đức Phật thường dùng những danh từ đàn ông, đàn bà, hữu tình, tự ngã. Trái lại trong Abhidhamma, những danh từ như năm uẩn, mười hai xứ, mười tám giới được dùng. Nói đến người thời có sự sai khác giữa đàn ông đàn bà, con nít người lớn, người thông minh kẻ ngu dốt và như vậy nằm trong phạm vi Tục đế. Khi nói đến năm uẩn hay mười hai xứ, thời không có sự phân biệt trên và con người chỉ là sự tụ họp của năm uẩn hay năm pháp.
Ngài Trưởng Lão Tịnh Sự - Santakicco Mahathero
1. Tuyên đọc: Tiểu sử Ngài Tịnh Sự
2. Nghi thức hướng nguyện công đức (Phạn ngữ)
3. Tư liệu 1: A Tỳ Đàm trong Phật Học
4. Vần thơ cảm niệm
5. Tư liệu 2: Ngài Tịnh Sự, môn A Tỳ Đàm và Đạo Phật Việt Nam
6. Nhạc phẩm: Lễ Tăng Bảo
7. Tư liệu 3: Sự thừa tiếp Tạng Diệu Pháp tại Việt Nam
8. Thảo luận của Chư Tăng
9. Cảm tạ - hồi hướng
Tiểu sử Ngài Tịnh Sự
Hòa thượng Tịnh Sự, thế danh là Võ Văn Ðang, sinh năm Quí Sửu (1913), trong một gia đình có truyền thống Nho giáo, tại một vùng quê miền Nam, xã Hòa Long, huyện Lai Vung, tỉnh Ðồng Tháp. Thân phụ Ngài là cụ Võ Văn Tỏ, thân mẫu là cụ Trần Thị Thông.
Năm 7 tuổi Ngài đã học chữ Nho. Rất thông minh, Ngài được người đương thời gọi là “Thần đồng Lê Quí Ðôn”. Do túc duyên sẵn có từ nhiều đời, đến năm 12 tuổi Ngài xuất gia và thọ giới Sa Di tại chùa Bửu Hưng (Sa Ðéc). Thấy Ngài quá thông minh nên Bổn sư đặt pháp danh là Thích Huệ Lực.
Năm 20 tuổi Ngài thọ giới Tỳ kheo tại chùa Kim Huê, Sa Ðéc. Ðến năm 25 tuổi Ngài được bổ nhiệm về trụ trì tại chùa Phước Ðịnh, Chợ Lách. Năm 30 tuổi Ngài trụ trì chùa Viên Giác, Vĩnh Long. Năm 35 tuổi duyên lành đối với Phật giáo Nam Tông đã chín mùi, Ngài được du học tại Chùa Tháp Campuchia, thọ giới theo Phật giáo Nam Tông tại chùa Kùm Pung (Treyloko) ở Trà Pét.
Từ Campuchia Ngài có thiện duyên du học tại Thái Lan, thọ giới Tỳ kheo tại chùa Pakknam Bangkok. Ngài được thầy tế độ ban pháp danh là Tịnh Sự (Santakicco) vì thấy Ngài chuyên tâm hành đạo. Tại xứ Phật giáo Thái Lan này, Ngài đã thực hành hạnh đầu đà, tu thiền Minh Sát và học A Tỳ Ðàm (Abhidhamma) trong bảy năm. Rời Thái Lan về Việt Nam, Ngài trở lại trụ trì chùa Viên Giác - Vĩnh Long. Ngài bắt đầu mở mang truyền bá giáo pháp Nguyên Thủy. Ngài dạy Pháp học A Tỳ Ðàm Pàli (Abhidhamma) và Pháp hành Tứ Niệm Xứ.
Muốn cho môn học Abhidhamma được truyền bá rộng rãi nên vào năm 59 tuổi Ngài về trụ trì chùa Siêu Lý - Sài Gòn. Mở trường chuyên dạy về môn Abhidhamma và dịch các bộ sách Giáo Khoa Phật Học như Vi Diệu Pháp Sơ Cấp, Trung Cấp và Chánh Tạng Abhidhamma.
Ngài đã đào tạo nhiều thế hệ học trò Vi Diệu Pháp. Các thế hệ đệ tử này đã kế thừa sự nghiệp của Ngài truyền bá môn Abhidhamma khắp nơi. Những thế hệ đệ tử Vi Diệu Pháp đầu tiên hiện nay còn những vị tiêu biểu như Ðại Ðức Giác Chánh, cư sĩ Vĩnh Phúc, cư sĩ Trần Quỳnh Hương đã có công đức duy trì và phát triển môn học Abhidhamma.
Về phương diện đào tạo Tăng tài, Ngài đã từng làm thầy Tế độ truyền giới xuất gia cho hàng trăm Sa Di, Tỳ Kheo. Họ đã tiếp nối được sự nghiệp truyền bá giáo pháp của Ngài một cách tốt đẹp.
Không những chỉ đào tạo Tăng tài mà Ngài còn xây dựng rất nhiều cơ sở tự viện: chùa Viên Giác (Vĩnh Long), chùa Long Linh, chùa Giác Phước, chùa Pháp Ðộ, chùa Trúc Lâm, chùa Siêu Lý, chùa Thiền Quang 1, chùa Thiền Quang 2.
Ðiểm nổi bật nhất trong sự nghiệp hoằng pháp của Hòa thượng là Ngài đã dịch hoàn thành Tạng luận Pàli tức Tạng Abhidhamma (A Tỳ Ðàm, Vi Diệu Pháp) gồm:
1) Bộ Pháp Tụ (Dhammasangani).
2) Bộ Phân Tích (Vibhanga).
3) Bộ Chất Ngữ (Dhàtu kàthà).
4) Bộ Nhân Chế Ðịnh (Puggala Pannatti).
5) Bộ Ngữ Tông (Kàthà Vatthu).
6) Bộ Song Ðối (Yamaka).
7) Bộ Pháp Trí (Patthana).
Ðó là phần chánh tạng Abhidhamma. Sau đây là những dịch phẩm giáo khoa Adhidhamma được giảng dạy tại các trường Phật Học Thái Lan:
1) Vi Diệu Pháp Sơ Cấp.
2) Vi Diệu Pháp Trung Cấp.
3) Vi Diệu Pháp Cao Cấp.
4) Thanh Tịnh Ðạo.
5) Diệu Pháp Lý Hợp.
Sự nghiệp đạo pháp của Ngài vô cùng to lớn. Nhất là Ngài đã dành hết đời mình để phiên dịch trọn Tạng Vi Diệu Pháp (Luận Tạng Pàli). Qua công hạnh này, Ngài là một ngôi sao mà càng nhìn chúng ta càng thấy sáng hơn.
Ðêm mùng 6 tháng 5 năm Giáp Tý, Ngài thọ bệnh. Nửa đêm hôm ấy Ngài cho gọi Chư Tăng để ban di huấn và gởi lời sám hối đến Tăng chúng gần xa. Rồi Ngài an trú chánh niệm và viên tịch lúc 6 giờ 15' sáng ngày 7 tháng 5 năm Giáp Tý (tức 05-06-1984), hưởng thọ 72 tuổi, hành đạo 52 năm.
--------------------------------------------------------------------------------
Tư liệu 1: A Tỳ Đàm trong Phật Học
Văn học Abhidhamma có thể xem là môn Tâm Lý Học của Phật giáo vì bốn vấn đề được đem ra giải thích cặn kẽ hoàn toàn thuộc về con người và đặc biệt là phần tâm thức. Bốn pháp được đề cập là Citta (tâm), Cetasika (tâm sở), Rùpa (Sắc) và Nibbàna (Niết bàn). Tâm, Tâm sở, Niết bàn dĩ nhiên thuộc về tâm thức, nhưng Sắc pháp ở đây nói nhiều về thân thể con người và sự liên lạc giữa thân thể ấy với tâm thức. Ðạo Phật không bao giờ tách rời Tâm và Sắc vì cả hai đều tương quan liên đới. Chia chẻ theo 2 pháp thời Nàma (danh) thuộc về Tâm pháp và Rùpa (Sắc) thuộc về Sắc pháp. Nói đến 5 Uẩn, thời Rùpakkhandha (Sắc uẩn) thuộc về Sắc pháp còn 4 Uẩn còn lại thuộc về Tâm pháp v.v...
Ðiểm nói bật nhất trong môn học Abhidharma là sự phân tích rất tinh tế và tỉ mỉ các tâm và tâm sở, và theo Pàli Abhidhamma, có đến 89 hay 121 tâm (Citta) và 52 tâm sở (Cetasika). Ðúng với truyền thống "phân tích tông" (Vibhajavàda, một tên khác của Thượng Tọa Bộ), Pàli Abhidhamma chia chẻ các loại tâm thành Dục giới tâm; Sắc giới tâm, Vô sắc giới tâm, Siêu thế tâm (theo cảnh giới), hoặc thành Bất thiện tâm, Vô nhân tâm, Tịnh quang tâm (theo khả năng hướng thiện hay không hướng thiện), hoặc theo Thiện tâm, Dị thục tâm, Duy tác tâm (theo khả năng tái sanh một đời sau hay không); hoặc theo Hữu nhân, Vô nhân tâm (nếu đứng về phương diện căn nhân chi phối các tâm ấy) v.v... Phần tâm sở lại tế nhị hơn, và chúng ta được biết khi nhãn thức khởi lên thời ít nhất có 7 Biến hành tâm sở cùng khởi một lần, tức là Xúc, thọ, trưởng, tư, mạng căn, nhứt tâm và tác ý. Còn tế nhị hơn là những băng thống kê tỉ mỉ tìm tòi số lượng các tâm sở hiện hành trong một tâm và những tâm sở nào được tìm thấy trong những loại tâm nào. Chúng ta không ngờ hỷ tâm sở có mặt trong 51 tâm, xả tâm sở khởi lên trong 70 tâm, và một tâm giản dị như tiếu sanh tâm cũng có đến 12 tâm sở cùng khởi lên một lần (xúc, thọ, tưởng, tư, nhứt tâm, tác ý, mạng cặn, tầm, tứ, hỷ, tinh tấn, thắng giải). Một sự cống hiến đặc biệt của Pàli Abhidhamma cho môn Tâm lý học là sự giải thích về Cittavìthi hay lộ trình của tâm. Mỗi khi có một sự kích thích ở ngoài ngang qua 5 căn thời cả một số tâm tiếp diễn liên tục, khởi lên, diệt xuống lâu cho đến 16 tâm sát-na.
1. Bhavangacalana: Hữu phần chuyển động.
2. Bhavangupaccheda: Hữu phần dừng nghỉ.
3. Pancadvàràvajjana: Ngũ môn hướng tâm.
4. Cakkhuvinnàna: (Nhãn thức hay một trong 4 thức khác).
5. Sampaticchana: Tiếp thọ tâm.
6. Santìrana: Suy đạc tâm.
7. Votthapana: Xác định tâm.
8-14. Javana: Tốc hành tâm.
15-16. Tadàlambana: Ðồng sở duyên tâm.
Như vậy từ khi Hữu phần rung động cho đến Ðồng sở duyên tâm có đến 16 tâm sát-na, và nếu chúng ta cộng thêm một tâm sát-na nữa, thời gian cần thiết để đối tượng ở ngoài tiếp xúc với nội căn, thời chúng ta thấy đời sống một lộ trình của tâm có đến tất cả 17 tâm sát-na và có 7 loại tâm khởi lên rồi diệt xuống trong một lộ trình (Từ Ngũ môn hướng tâm đến Ðồng sở duyên tâm). Thật là một sự khám phá hy hữu, và sự phân tích thật vô cùng tế nhị và khúc chiết.
Tập Abhidhamma không những giải thích sự diễn tiến của tâm thức khi bị kích thích bởi ngoại trần hay nội tâm, ngang qua 5 căn hay ngang qua ý căn (Pavattana), mà còn miêu tả Kiết sanh thức (Patisandhi) liên hệ từ đời này qua đời khác. Ở đây chúng ta thấy rõ cả sự cố gắng để giải thích trạng thái tái sanh của con người, những sức mạnh gì đã khiến con người sau khi chết phải đi đầu thai một đời nữa để thỏa mãn sự đòi hỏi, sự tham sống của kiếp người. Vẫn biết vấn đề này vượt ngoài sự nhận thức của con người vì chúng ta không nhớ đến khi chúng ta lâm chung hay đi đầu thai, nhưng sự cắt nghĩa ở đây có thể xem là hợp lý, khoa học nhất, dựa vào thực tế mà trình bày, và đây cũng là một sự cống hiến đặc biệt nữa của Abhidhamma cho vấn đề sống chết của con người, một vấn đề mà các nhà triết gia bao giờ cũng boăn khăn tìm hiểu.
Lama Govinda, một tu sĩ Phật giáo người Ðức trong quyển The Psychological Attitude of Early Buddhist Philosophy (Thái độ tâm lý của triết học đạo Phật nguyên thủy) đã xem văn học Abhidhamma như môn tâm lý học và triết học của đạo Phật. Còn ông Egerton C. Baptist trong quyển Abhidhamma for the Beginners (Abhidhamma cho những người sơ cơ) thì so sánh môn học Abhidhamma như môn siêu hình học của Phật giáo. Nếu siêu hình có nghĩa là vấn đề tìm hiểu Thượng đế và vấn đề tạo thiên lập địa thì môn học Abhidhamma không thể là môn siêu hình học, vì hai vấn đề này không được đề cập đến. Ðúng với truyền thống thực tiễn của Kinh tạng không muốn đề cập đến những vấn đề không liên hệ với đời sống thực tại, đối tượng của môn học Abhidhamma là vấn đề tâm linh và hoàn cảnh thực tại của con người đang sống. Nhưng nếu chúng ta định nghĩa siêu hình là những vấn đề vượt khỏi sự hiểu biết hiện tại cạn cợt và có giới hạn của chúng ta, thời Abhidhamma có thể xem là môn siêu hình vì Sắc giới tâm, Vô sắc giới tâm và Siêu thế tâm vượt ngoài sự hiểu biết hiện tại của con người. Muốn chứng được Sắc giới tâm, phải tu các pháp thiền ở Sắc giới, muốn hiểu Vô sắc giới tâm phải tu các pháp Thiền ở Vô Sắc giới, và muốn đạt đến các quả thánh, phải tu quán (vipassanà) về Ba pháp ấn. Ở đây chúng ta thấy rõ siêu hình không dựa trên lòng tin không bằng chứng vào tưởng tượng và dự đoán mà chỉ là trạng thái tâm thức chưa được phát giác ra, bởi vì kinh nghiệm cá nhân của con người chưa đạt tới, và khi đã đạt tới, thời siêu hình đã trở thành kinh nghiệm cá nhân. Nói một cách khác, đạo Phật không bác bỏ siêu hình, nếu phần siêu hình được phát giác trên con đường kinh nghiệm cá nhân. Phần này chỉ bị bác bỏ khi nào chỉ được hình thành trên con đường của tưởng tượng và dự đoán. Ở đây, theo tạng Abhidhamma, siêu hình là một khái niệm hoàn toàn tương đối mà ranh giới tùy thuộc ranh giới kinh nghiệm cá nhân của mình và tùy thuộc vào hình thức và tầm lực của nhận thức. Ðức Phật nhiếp phục siêu hình với những vấn đề nan giải của siêu hình, không phải chỉ không biết đến siêu hình, mà chính với thái độ tích cực và thiết thực, nghĩa là nhờ ở sự tu tập và tiềm lực của nhận thức, đức Phật thu nhỏ dần ranh giới của siêu hình, và như vậy siêu hình trở thành kinh nghiệm.
Nói đến đạo đức học tức là giới vức thứ ba của triết học, Abhidhamma cũng là môn luân lý học của đạo Phật, vì tất cả lời dạy trực tiếp hay gián tiếp của đức Phật đều hướng con người đến giải thoát và giác ngộ. Tiêu chuẩn đạo đức ở đây không phải là lời phán xét của đức Phật, cũng không phải dựa vào truyền thống hay tập tục của một thời đại nào. Tiêu chuẩn thiện ác ở đạo Phật tùy thuộc ở con người và 12 Bất thiện trong tâm Abhidhamma được định nghĩa là những tâm khiến con người đi xa đích giải thoát và giác ngộ, 18 Vô nhân tâm (ahetukacitta) là những tâm lưng chừng, không tới cũng không lui, và 59 Tịnh quang tâm (sobhanacitta) là những tâm khiến con người tiến dần đến mục tiêu giải thoát và giác ngộ. Ở đây, chúng ta cũng phải nhận rõ thái độ của nhà triết gia Ðông phương không những trình bày lý thuyết của mình mà còn phải sống theo lý thuyết ấy trên thực tế và kinh nghiệm. Tri hành hợp nhất, trí đức song tu là những tiêu chuẩn bất di bất dịch cho những triết gia Ðông phương và do vậy đạo đức học không bao giờ rời khỏi phần triết học trong tạng Abhidhamma. Tìm cho ra phần luận lý trong tạng Abhidhamma không phải dễ dàng vì văn học Abhidhamma tuy đã có sự cố gắng hệ thống hóa những tư tưởng chính của đức Phật, sự phát triển này về luận lý học chưa đến mực độ trở thành một hệ thống riêng biệt về luận lý như Nhơn minh học (Hetuvidyà) của Ðại thừa. Nhưng đạo Phật bao giờ cũng chú trọng đến lý trí, suy luận, thực tu thực chứng lẽ dĩ nhiên bao giờ cũng kính trọng những nguyên tắc căn bản của pháp suy luận và do vậy chúng ta có thể nói phần luận lý lúc nào cũng tiềm tàng trong tạng Abhidhamma.
Một vấn đề nữa cũng rất quan trọng trong khi đề cập đến Abhidhamma là sự liên lạc giữa Kinh tạng và Luận tạng, và sự sai khác giữa hai tạng ấy. Dầu Kinh tạng là phần tử hấp dẫn nhất trong Ba tạng, và được xem là nguyên thủy nhất, Kinh tạng vẫn là sự sưu tầm những lời dạy của đức Phật cho từng trường hợp, từng hoàn cảnh, từng cá nhân lẻ tẻ, nhiều khi không có liên hệ tương quan. Abhidhamma tạng là cả một sự cố gắng hệ thống hóa những lý thuyết và phương pháp tiềm tàng và rải rác trong Kinh tạng, và đặc biệt đặt những hệ thống ấy trên một bối cảnh chung và nhờ vậy giúp chúng ta có một khái niệm tổng quát và quán xuyến về đạo Phật. Chúng ta không thể lấy những điều kiện lịch sử để phán đoán giá trị của Abhidhamma, vì rất có thể những phần tử quan trọng của Abhidhamma được hình thành một lần với Kinh tạng. Phần lớn các nhà học giả đều đồng ý rằng tạng Abhidhamma được tổ chức và phát triển từ các Matrikà, nghĩa là những công thức đã có sẵn trong kinh tạng, và như vậy tạng Abhidhamma vẫn có thể được xem là tạng có tánh cách nguyên thủy. Vả lại chính trong Kinh tạng, cũng có những loại kinh hoặc bộ kinh mang nặng đặc chất Abhidhamma hơn là Kinh tạng, như kinh Sangìtisutta trong bộ Dìghanikàya và tập Niddesa trong bộ Khuddakanikàya. Và như Lama Govinda đã nói, "chính trong thời đức Phật tại thế, vẫn không có một đạo Phật tuyệt đối, một hình thức giáo điều của sự thật, mà chỉ có một sự hướng dẫn về phương hướng và phương pháp có thể đưa đến sự tự chứng cá nhân. Khi nào Abhidhamma còn phụng sự được lý tưởng này bằng cách chỉ cho chúng ta rõ, một ít nét đại cương của tư tưởng Phật giáo, thì vấn đề tạng Abhidhamma được kiết tập sớm hay muộn không có gì quan trọng cả".
Về phương pháp diễn đạt, tạng Abhidhamma chú trọng đặc biệt về một hệ thống gọi là Patisambhidà (Vô ngại giải hay Pratisamvit, một hệ thống của luận lý phân tích). Hệ thống này được chia thành bốn ngành. 1) Phân tích về ý nghĩa (Nghĩa vô ngại giải, Attha) của các danh từ (hay vật, vì danh từ định nghĩa sự vật). 2) Phân tích về pháp (Dhamma, Pháp vô ngại giải). Chữ pháp được tập Vibhanga và ngài Buddhaghosa, định nghĩa là sự hiểu biết về những nguyên nhân của sự vật. 3) Phân tích về văn phạm (Từ vô ngại giải, Nirutti), 4) Phân tích về Patibhàna (Biện vô ngại giải). Nhưng trong bộ luận chữ Hán Tsa-tsi, Attha lại có nghĩa là sự hiểu biết về những danh từ riêng và chung, và Dhamma có nghĩa là các Ðồng nghĩa. Trong tập Niddesa, các danh từ được giải thích bằng một danh sách dài các chữ Ðồng nghĩa (Dhamma) và các chữ khác được dùng những định nghĩa thông thường (Attha). Còn địa phương ngữ và những hình thức đặc biệt cũng cần giải thích và đó chính là Nirutti. Ngoài ra, còn có sự giải thích về giáo lý và ở đây cần phải có sức biện tài (Patibhàna).
Một đặc tánh nữa của tạng Abhidhamma mà các luận sư cho là rất đặc biệt là sự cố gắng của tạng Abhidhamma giải thích sự vật theo đệ nhứt nghĩa đế (Paramatthasacca), chớ không theo tục đế (Sammutisacca) như trong Kinh tạng. Như khi nói đến cái bàn, là theo tục đế, nhưng khi nói đến những cơ năng, những đặc tánh tạo thành cái bàn là nói đến Ðệ nhứt nghĩa đế. Trong Kinh tạng, đức Phật thường dùng những danh từ đàn ông, đàn bà, hữu tình, tự ngã. Trái lại trong Abhidhamma, những danh từ như năm uẩn, mười hai xứ, mười tám giới được dùng. Nói đến người thời có sự sai khác giữa đàn ông đàn bà, con nít người lớn, người thông minh kẻ ngu dốt và như vậy nằm trong phạm vi Tục đế. Khi nói đến năm uẩn hay mười hai xứ, thời không có sự phân biệt trên và con người chỉ là sự tụ họp của năm uẩn hay năm pháp.
Thứ Tư, 8 tháng 6, 2005
Nhật Hành
Ngày: 08 Tháng 06 năm 2005
Tri chúng: Gioi Huong
Tri chúngđiền khuyết: Hat Cat
Môn học: Phật Giáo Sử
Bài học: Sự Chào Đời Của Vị Phật Tương Lai
Giảng sư chính: Sư Giác Đẳng
Giảng sư điền khuyết: Sư Trí Siêu
Vị Tăng hoặc Ni nói lời cầu nguyện đầu lớp học: DD minh hanh
Xướng ngôn viên cho bài học: Phan1:NK, đk: KV// Hoi Huong: Gioi Huong http://baidocmc.blogspot.com/
Xướng ngôn viên cho tin tức: ban tin so347 : kV doc, dk Sangkhaly// so 348: tinhtan doc , dk Sangkhaly// so :345 CH doc , dk KV
Người mở room: Diệu Quang va mindvox
Người mở nhạc và kinh tụng: Diệu Quang và anitya
Người post bài cho Room: mindvox , anitya và Nhu Phuc
Người post và gửi bài riêng cho chư Tăng: Nhu Phuc
Trực room (op) và coi mic: Hat Cat va Sangkhaly
Thông báo (nếu có):
Ngày: 08 Tháng 06 năm 2005
Tri chúng: Gioi Huong
Tri chúngđiền khuyết: Hat Cat
Môn học: Phật Giáo Sử
Bài học: Sự Chào Đời Của Vị Phật Tương Lai
Giảng sư chính: Sư Giác Đẳng
Giảng sư điền khuyết: Sư Trí Siêu
Vị Tăng hoặc Ni nói lời cầu nguyện đầu lớp học: DD minh hanh
Xướng ngôn viên cho bài học: Phan1:NK, đk: KV// Hoi Huong: Gioi Huong http://baidocmc.blogspot.com/
Xướng ngôn viên cho tin tức: ban tin so347 : kV doc, dk Sangkhaly// so 348: tinhtan doc , dk Sangkhaly// so :345 CH doc , dk KV
Người mở room: Diệu Quang va mindvox
Người mở nhạc và kinh tụng: Diệu Quang và anitya
Người post bài cho Room: mindvox , anitya và Nhu Phuc
Người post và gửi bài riêng cho chư Tăng: Nhu Phuc
Trực room (op) và coi mic: Hat Cat va Sangkhaly
Thông báo (nếu có):
Lịch sử Phật Giáo
Giảng sư: TT Giác Đẳng
Sự Chào Đời Của Vị Phật Tương Lai
Nguyên tác: The Life Of The Buddha - tác giả: Nanamoli - TK Giác Đẳng dịch
Lời dẫn
Lịch sử của Ấn Độ bắt đầu với sử liệu về Đức Phật Gotama (Cồ Đàm). Nói rõ hơn là lịch sử được ghi chép thay thế cho những khám phá của ngành khảo cổ và thần thoại. Những dữ kiện về Đức Phật và lời dạy của Ngài cho thấy xã hội thời ấy là một nền văn minh rất cao đã thật sự trải qua một quá trình dài để trưởng thành. Lúc bấy giờ Đức Thế Tôn viên thành Phật quả tại Uruvela trong lưu vực sông Ganga (Hằng Hà) vùng đất được lịch sử gọi là "Trung Quốc Độ" Nếu tính về địa dư thì nơi nầy cách thành phố thiêng liêng cổ kính Banares (Ba la nại) không xa lắm. Ngài mất 6 năm phấn đấu để tìm ra con đường giác ngộ vào lúc ba mươi lăm tuổi. Từ đó ngài vân du suốt 45 năm từ nơi nầy sang nơi khác để tuyên thuyết giáo lý tứ diệu đế. Theo các sử gia Tây phương Đức Phật vào năm 483 trước Tây lịch. ( vào Rằm Tháng Tư Âm lịch). Thời kỳ Đức Phật trụ thế là giai đoạn đặc biệt thái bình với nền pháp trị vững vàng trong xã hội ổn định. Điều nầy tạo nên bức tranh tương phản lớn so với trước và sau thời Phật.
Sử kiện
Ba tháng sau khi Đức Phật viên tịch, những thánh đệ tử niên cao lạp trưởng triệu tập một đại hội kết tập kinh điển để quyết định hình thức của giáo điển lưu truyền thế hệ mai hậu. Trong năm trăm vị thánh tăng vô lậu giải thoát, Trưởng lão Upàli (Ưu Ba Ly) được ghi nhận là người có thẩm quyền về giới bổn và nghi luật Tăng già những điều được kết tập trở thành luật tạng. Khi còn là cư sĩ Ngài vốn là một người thợ hớt tóc trong cung về sau đi xuất gia cùng với người anh em chú bác của Đức Phật là Ngài Ananda và những hoàng tử khác. Ngài được thỉnh cử tuyên đọc trước đại hội những giới điều cùng với nhân duyên được ban hành.Tạng Luật -Vinaya Pitaka được kết tập từ sự trùng tụng của Ngài. Sau khi Ngài hoàn tất, Trưởng lão Ànanda được đại hội thỉnh cử trùng tụng những pháp thoại. Trong suốt 25 năm sau cùng của Đức Phật, tôn giả là người thị giả luôn bên cạnh. Tôn giả cũng có một tư chất đặc biệt là trí nhớ phi thường. Hầu hết Tạng Kinh - Sutta Pitaka do Ngài Ànanda thuật lại. Tôn giả Upàli khi trùng tụng Tạng Luật mở đầu với mệnh đề "tena samayena - Lúc bấy giờ", còn phần tôn giả Ànanda thì mở đầu với câu "evam me sutam - Tôi nghe như vầy"
Lời dẫn
Bài kinh dưới đây được trích từ Tam Tạng. Giáo điển nầy đã tồn tại thế nào là câu chuyện sẽ bàn sau. Nhưng khởi điểm ở đây là câu chuyện về kiếp áp chót của Đức Phật do chính Ngài kể lại sau nầy được thuật lại bởi Trưởng lão Ànanda. Bài kinh nầy dịch từ Phạn văn Pàli, ngôn ngữ được chính Đức Phật sử dụng.
Kinh văn
Kinh Hy hữu vị tằng hữu pháp
(Acchariya-abbhùtadhamma sutta)
HT Minh Châu dịch, TK Giác Đẳng phân đoạn
[Duyên sự]
Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn trú ở Savatthi (Xá-vệ), Jetavana (Kỳ-đà-lâm), tại tịnh xá ông Anathapindika (Cấp Cô Ðộc).
Rồi một số rất đông Tỷ-kheo, sau buổi ăn, sau khi đi khất thực về, đang ngồi tụ họp trong thị giả đường (upatthanasala), câu chuyện này được khởi lên giữa chúng Tăng:
"Thật hy hữu thay chư Hiền! Thật vị tằng hữu thay chư Hiền, là đại thần thông lực, đại uy lực của Như Lai! Vì Ngài biết được chư Phật quá khứ, đã nhập Niết-bàn, đã đoạn các hý luận, đã đoạn các chướng đạo, đã chấm dứt luân hồi, đã thoát ly mọi khổ: "Chư Thế Tôn ấy sanh tánh như vậy, danh tánh như vậy, tộc tánh như vậy, giới hạnh như vậy, pháp hạnh như vậy, tuệ hạnh như vậy, trú hạnh như vậy, chư Thế Tôn ấy giải thoát như vậy".
Khi được nghe nói như vậy, Tôn giả Ananda nói với các Tỷ-kheo ấy: "Thật hy hữu thay chư Hiền, Như Lai được đầy đủ các pháp hy hữu! Thật vị tằng hữu thay chư Hiền, Như Lai được đầy đủ các pháp vị tằng hữu!"
Và câu chuyện giữa các Tỷ-kheo ấy bị gián đoạn. Rồi Thế Tôn vào buổi chiều, từ Thiền tịnh độc cư đứng dậy, đi đến thị giả đường, sau khi đến, ngồi trên chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:
-- Này các Tỷ-kheo, nay các Ông ngồi nói chuyện gì? Câu chuyện gì giữa các Ông bị gián đoạn?
-- Ở đây, bạch Thế Tôn, chúng con sau buổi ăn, sau khi đi khất thực trở về, chúng con ngồi tụ họp tại thị giả đường, câu chuyện sau đây được khởi lên: "Hy hữu thay, chư Hiền! ... chư Thế Tôn ấy được giải thoát như vậy". Khi được nghe nói vậy, bạch Thế Tôn, Tôn giả Ananda nói với chúng con như sau: "Thật hy hữu thay... Như Lai được đầy đủ các pháp hy hữu! Thật vị tằng hữu thay... Như Lai được đầy đủ các pháp vị tằng hữu!" Câu chuyện này giữa chúng con, bạch Thế Tôn, bị gián đoạn. Rồi Thế Tôn đến.
Thế Tôn bảo Tôn giả Ananda:
-- Do vậy, này Ananda, hãy nói lên nhiều nữa, những đặc tánh hy hữu, vị tằng hữu của Như Lai.
[An trú chánh niệm trong kiếp áp chót tại Đâu Suất]
-- Bạch Thế Tôn, con tận mặt nghe, con tận mặt ghi nhớ từ Thế Tôn: "Chánh niệm tỉnh giác, này Ananda, Bồ-tát sanh trong Thiên chúng (Kaya) Tusita". Vì rằng, bạch Thế Tôn, chánh niệm tỉnh giác, Bồ-tát sanh trong Thiên chúng Tusita, con thọ trì sự việc này, bạch Thế Tôn, là một hy hữu, một vị tằng hữu của Thế Tôn.
Bạch Thế Tôn, con tận mặt nghe, con tận mặt ghi nhớ từ Thế Tôn: "Chánh niệm tỉnh giác, này Ananda, Bồ-tát an trú trong Thiên chúng Tusita". Vì rằng, bạch Thế Tôn, chánh niệm tỉnh giác, Bồ-tát an trú trong Thiên chúng Tusita, con thọ trì sự việc này, bạch Thế Tôn, là một hy hữu, một vị tằng hữu của Thế Tôn.
Bạch Thế Tôn, con tận mặt nghe, con tận mặt ghi nhớ từ Thế Tôn: "Chánh niệm tỉnh giác, này Ananda, Bồ-tát an trú tại Thiên chúng Tusita cho đến trọn thọ mạng". Vì rằng, bạch Thế Tôn, chánh niệm tỉnh giác, Bồ-tát an trú tại Thiên chúng Tusita cho đến trọn thọ mạng, con thọ trì sự việc này, bạch Thế Tôn, là một hy hữu, một vị tằng hữu của Thế Tôn.
Bạch Thế Tôn, con tận mặt nghe, con tận mặt ghi nhớ từ Thế Tôn: "Chánh niệm tỉnh giác này Ananda, Bồ-tát sau khi từ Thiên chúng Tusita mạng chung, nhập vào mẫu thai". Vì rằng, bạch Thế Tôn, chánh niệm tỉnh giác, Bồ-tát sau khi từ Thiên chúng Tusita mạng chung, nhập vào mẫu thai, con thọ trì sự việc này, bạch Thế Tôn, là một hy hữu, một vị tằng hữu của Thế Tôn.
Bạch Thế Tôn, con tận mặt nghe, con tận mặt ghi nhớ từ Thế Tôn: "Khi Bồ-tát nhập vào mẫu thai, này Ananda, khi ấy một hào quang vô lượng, thần diệu, thắng xa oai lực của chư Thiên hiện ra cùng khắp thế giới, gồm có các thế giới ở trên chư Thiên, thế giới của các Ma vương và Phạm thiên và thế giới ở dưới gồm các vị Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người. Cho đến các thế giới ở giữa các thế giới, tối tăm, u ám không có nền tảng, những cảnh giới mà mặt trăng mặt trời với đại thần lực, với đại oai lực như vậy cũng không thể chiếu thấu, trong những cảnh giới ấy, một hào quang vô lượng, thắng xa oai lực của chư Thiên hiện ra. Và các chúng sanh sống tại những chỗ ấy nhờ hào quang ấy mới thấy nhau và nói: "Cũng có những chúng sanh khác sống ở đây". Và mười ngàn thế giới này chuyển động, rung động, chuyển động mạnh. Và hào quang vô lượng, thần diệu, thắng xa oai lực của chư Thiên hiện ra ở thế giới. Vì rằng, bạch Thế Tôn, con thọ trì sự việc này, bạch Thế Tôn, là một hy hữu, một vị tằng hữu của Thế Tôn".
Bạch Thế Tôn, con tận mặt nghe, con tận mặt ghi nhớ từ Thế Tôn: "Khi Bồ-tát nhập mẫu thai, này Ananda, bốn vị Thiên tử đến canh gác bốn phương trời và nói: "Không cho một ai, người hay không phải loài người được phiền nhiễu Bồ-tát, hay mẹ vị Bồ-tát". Vì rằng, bạch Thế Tôn, con thọ trì sự việc này, bạch Thế Tôn, là một hy hữu, một vị tằng hữu của Thế Tôn".
Bạch Thế Tôn, con tận mặt nghe, con tận mặt ghi nhớ từ Thế Tôn: "Khi Bồ-tát nhập mẫu thai, này Ananda, mẹ Bồ-tát giữ giới một cách hồn nhiên, không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói láo, không uống các thứ rượu nấu, rượu lên chất men". Vì rằng, bạch Thế Tôn, con thọ trì sự việc này, bạch Thế Tôn, là một hy hữu, một vị tằng hữu của Thế Tôn.
Bạch Thế Tôn, con tận mặt nghe, con tận mặt ghi nhớ từ Thế Tôn: "Khi Bồ-tát nhập mẫu thai, này Ananda, mẹ Bồ-tát không khởi dục tâm đối với một nam nhân nào, và mẹ Bồ-tát không bị xâm phạm bởi bất kỳ người đàn ông nào có nhiễm tâm". Vì rằng, bạch Thế Tôn, con thọ trì sự việc này, bạch Thế Tôn, là một hy hữu, một vị tằng hữu của Thế Tôn.
Bạch Thế Tôn, con tận mặt nghe, con tận mặt ghi nhớ từ Thế Tôn: "Khi Bồ-tát nhập mẫu thai, này Ananda, mẹ vị Bồ-tát tận hưởng năm dục công đức đầy đủ, tận hưởng trọn năm dục công đức". Vì rằng, bạch Thế Tôn, con thọ trì sự việc này, bạch Thế Tôn, là một hy hữu, một vị tằng hữu của Thế Tôn.
Bạch Thế Tôn, con tận mặt nghe, con tận mặt ghi nhớ từ Thế Tôn: "Khi Bồ-tát nhập mẫu thai, này Ananda, mẹ Bồ-tát không bị một bệnh tật gì. Bà sống với tâm hoan hỷ, với tâm khoan khoái. Bà thấy trong bào thai của mình vị Bồ-tát đầy đủ mọi bộ phận và chân tay. Này Ananda, ví như viên ngọc lưu ly, thanh tịnh, thuần nhất, có tám cạnh, khéo cắt, khéo dũa, trong sáng, không tỳ vết, hoàn hảo trong mọi phương diện. Rồi một sợi dây được xâu qua viên ngọc ấy, dây màu xanh, màu vàng, màu đỏ, màu trắng hay màu vàng lợt. Nếu có người có mắt để viên ngọc trên bàn tay của mình, người ấy sẽ thấy rõ ràng: "Ðây là viên ngọc lưu ly, thanh tịnh, thuần nhất, có tám cạnh, khéo cắt, khéo dũa, trong sáng, không tỳ vết, hoàn hảo trong mọi phương diện. Ðây là sợi dây xâu qua, sợi dây màu xanh, màu vàng, màu đỏ, màu trắng hay màu vàng lợt". Cũng vậy, này Ananda, khi Bồ-tát nhập mẫu thai, mẹ Bồ-tát không bị một bệnh tật gì. Bà sống với tâm hoan hỷ, với tâm khoan khoái. Bà thấy trong bào thai của mình vị Bồ-tát đầy đủ bộ phận và chân tay". Vì rằng, bạch Thế Tôn, con thọ trì sự việc này, bạch Thế Tôn, là một hy hữu, một vị tằng hữu của Thế Tôn.
Bạch Thế Tôn con tận mặt nghe, con tận mặt ghi nhớ từ Thế Tôn: "Sau khi sanh Bồ-tát bảy ngày, này Ananda, mẹ Bồ-tát mệnh chung và sanh lên cõi trời Ðâu suất". Vì rằng, bạch Thế Tôn, con thọ trì sự việc này, bạch Thế Tôn, là một hy hữu, một vị tằng hữu của Thế Tôn.
Bạch Thế Tôn, con tận mặt nghe, con tận mặt ghi nhớ từ Thế Tôn: "Trong khi các người đàn bà khác, này Ananda, mang bầu thai trong bụng chín tháng hay mười tháng rồi mới sanh, mẹ Bồ-tát sanh Bồ-tát không phải như vậy. Mẹ Bồ-tát mang Bồ-tát trong bụng mười tháng rồi mới sanh". Vì rằng, bạch Thế Tôn, con thọ trì sự việc này, bạch Thế Tôn, là một hy hữu, một vị tằng hữu của Thế Tôn.
Bạch Thế Tôn, con tận mặt nghe, con tận mặt ghi nhớ từ Thế Tôn: "Trong khi các người đàn bà khác, này Ananda, hoặc ngồi hoặc nằm mà sanh con, mẹ vị Bồ-tát sanh Bồ- tát không phải như vậy. Mẹ Bồ-tát đứng mà sanh Bồ-tát". Vì rằng, bạch Thế Tôn, con thọ trì sự việc này, bạch Thế Tôn, là một hy hữu, một vị tằng hữu của Thế Tôn.
Bạch Thế Tôn, con tận mặt nghe, con tận mặt ghi nhớ từ Thế Tôn: "Khi Bồ-tát từ bụng mẹ sanh ra, này Ananda, chư Thiên đỡ lấy Ngài trước, sau mới đến loài người". Vì rằng, bạch Thế Tôn, con thọ trì sự việc này, bạch Thế Tôn, là một hy hữu, một vị tằng hữu của Thế Tôn.
Bạch Thế Tôn, con tận mặt nghe, con tận mặt ghi nhớ từ Thế Tôn: "Khi Bồ-tát từ bụng mẹ sanh ra, này Ananda, Bồ-tát không đụng đến đất. Có bốn Thiên tử đỡ lấy Ngài, đặt Ngài trước bà mẹ và thưa: "Hoàng hậu hãy hoan hỷ! Hoàng Hậu sanh một bậc vĩ nhân". Vì rằng, bạch Thế Tôn, con thọ trì sự việc này, bạch Thế Tôn, là một hy hữu, một vị tằng hữu của Thế Tôn.
Bạch Thế Tôn, con tận mặt nghe, con tận mặt ghi nhớ từ Thế Tôn: "Khi Bồ-tát từ bụng mẹ sanh ra, này Ananda, Ngài sanh ra thanh tịnh, không bị nhiễm ô bởi nước nhớt nào, không bị nhiễm ô bởi loại mủ nào, không bị nhiễm ô bởi loại máu nào, không bị nhiễm ô bởi bất cứ vật bất tịnh nào, thanh tịnh, trong sạch. Này Ananda, ví như một viên ngọc ma-ni bảo châu đặt trên một tấm vải Ba-la-nại. Viên ngọc không làm nhiễm ô tấm vải Ba-la-nại, tấm vải Ba-la-nai cũng không làm nhiễm ô hòn ngọc. Vì sao vậy? Vì cả hai đều thanh tịnh. Cũng vậy, này Ananda, khi Bồ-tát từ bụng mẹ sanh ra, Ngài sanh ra thanh tịnh, không bị nhiễm ô bởi nước nhớt nào, không bị nhiễm ô bởi loại mủ nào, không bị nhiễm ô bởi loại máu nào, không bị nhiễm ô bởi bất cứ vật bất tịnh nào, thanh tịnh, trong sạch". Vì rằng, bạch Thế Tôn, con thọ trì sự việc này, bạch Thế Tôn, là một hy hữu, một vị tằng hữu của Thế Tôn.
Bạch Thế Tôn, con tận mặt nghe, con tận mặt ghi nhớ từ Thế Tôn: "Khi Bồ-tát từ bụng mẹ sanh ra, này Ananda, hai dòng nước từ hư không hiện ra, một dòng lạnh, một dòng nóng. Hai dòng nước ấy tắm rửa sạch sẽ cho Bồ-tát và cho bà mẹ". Vì rằng, bạch Thế Tôn, con thọ trì sự việc này, bạch Thế Tôn, là một hy hữu, một vị tằng hữu của Thế Tôn.
Bạch Thế Tôn, con tận mặt nghe, con tận mặt ghi nhớ từ Thế Tôn: "Bồ-tát khi sanh ra, này Ananda, Ngài đứng vững, thăng bằng trên hai chân, mặt hướng phía Bắc, bước đi bảy bước, một lọng trắng được che lên. Ngài nhìn khắp cả mọi phương, lên tiếng như con ngưu vương, thốt ra lời như sau: "Ta là bậc tối thượng ở trên đời! Ta là bậc tối tôn ở trên đời! Ta là bậc cao nhất ở trên đời! Nay là đời sống cuối cùng, không còn phải tái sanh ở đời này nữa". Vì rằng, bạch Thế Tôn, con thọ trì sự việc này, bạch Thế Tôn, là một hy hữu, một vị tằng hữu của Thế Tôn.
Bạch Thế Tôn, con tận mặt nghe, con tận mặt ghi nhớ từ Thế Tôn: "Khi Bồ-tát từ bụng mẹ sanh ra, này Ananda, khi ấy một hào quang vô lượng thần diệu, thắng xa oai lực của chư Thiên, hiện ra cùng khắp thế giới, gồm có các thế giới trên chư Thiên, thế giới của các Ma vương và Phạm thiên, và thế giới ở dưới gồm các Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người. Cho đến các cảnh giới giữa các thế giới, tối tăm, u ám, không có nền tảng, những cảnh giới mà mặt trăng mặt trời với đại thần lực, đại oai lực như vậy cũng không thể chiếu thấu, trong những cảnh giới ấy một hào quang vô lượng, thắng xa oai lực chư Thiên hiện ra. Và các chúng sanh sống tại các chỗ ấy, nhờ hào quang ấy mới thấy nhau mà nói: "Cũng có những chúng sanh khác sống ở đây". Và mười ngàn thế giới này chuyển động, rung động, chuyển động mạnh. Và hào quang vô lượng thần diệu, thắng xa oai lực của chư Thiên hiện ra ở thế giới. Vì rằng, bạch Thế Tôn, con thọ trì sự việc này, bạch Thế Tôn là một hy hữu, một vị tằng hữu của Thế Tôn.
-- Do vậy, này Ananda, hãy thọ trì sự việc này là một hy hữu, một vị tằng hữu của Như Lai. Ở đây, này Ananda, các cảm thọ khởi lên nơi Thế Tôn được biết đến; được biết đến, chúng an trú; được biết đến, chúng đi đến biến hoại; các tưởng được biết đến; các tầm khởi lên được biết đến; được biết đến, chúng an trú; được biết đến, chúng đi đến biến hoại. Này Ananda, hãy thọ trì việc này là một hy hữu, một vị tằng hữu của Như Lai.
-- Vì rằng, bạch Thế Tôn, các cảm thọ khởi lên nơi Thế Tôn được biết đến; được biết đến, chúng an trú; được biết đến, chúng đi đến biến hoại; các tưởng được biết đến; các tầm khởi lên được biết đến; được biết đến, chúng an trú; được biết đến, chúng đi đến biến hoại. Bạch Thế Tôn, con thọ trì sự việc này là một hy hữu, một vị tằng hữu của Như Lai.
Tôn giả Ananda nói như vậy. Bậc Ðạo Sư chấp nhận. Các Tỷ-kheo hoan hỷ tín thọ lời Tôn giả Ananda nói.
Kinh văn
(XI) Kinh Nàlaka (Sn 131)
679. ẩn sĩ Asita,
Trong lúc giữa ban ngày,
Thấy chúng các chư Thiên
Cõi trời Ba mươi ba,
Họ hoan hỷ vui vẻ,
Với y áo, thanh tịnh,
Họ cung kính In-đa,
Các vị ấy cầm áo
Với nhiệt tình nói lên,
Những lời khen tán thán.
680. Thấy chư Thiên hoan hỷ,
Dõng dạc và phấn chấn,
Với tâm tư cung kính,
Ở đây, vị ấy nói.
Asita:
Vì sao chúng chư Thiên
Lại nhiệt tình hoan hỷ?
Họ cầm áo vui múa,
Là do nhân duyên gì?
681. Trong thời gian chiến trận,
Với các Asura,
Dững sĩ được thắng trận
Asura bại trận,
Thời gian ấy họ không,
Lông tóc dựng ngược dậy,
Họ thấy gì hy hữu,
Chư Thiên hoan hỷ vậy.
682. Họ la lớn ca hát,
Và họ tấu nhạc trời,
Họ múa tay, vỗ tay,
Họ múa nhảy vũ điệu,
Nay ta hỏi các Ông,
Trú đảnh núi Meru,
Các Ngài hãy mau chóng,
Giải tỏa điều ta nghĩ.
Chư Thiên:
683. Tại xứ Lumbini
Trong làng các Thích-ca,
Có sanh vị Bồ Tát,
Báu tối thắng, vô tỷ,
Ngài sanh, đem an lạc,
Hạnh phúc cho loài Người,
Do vậy chúng tôi mừng,
Tâm vô cùng hoan hỷ.
684. Ngài, chúng sanh tối thượng,
Ngài loài Người tối thắng,
Bậc Ngưu vương loài Người,
Thượng thủ mọi sanh loại;
Ngài sẽ chuyển Pháp luân,
Trong khu rừng ẩn sĩ,
Rống tiếng rống sư tử,
Hùng mạnh nhiếp loài thú.
685. Sau khi nghe lời ấy,
ẩn sĩ Asita,
Liền vội vàng bước xuống,
Và đi đến đầu đài,
Của đức vua Tịnh Phạn.
Ðến nơi Ngài ngồi xuống,
Nói với các Thích-Ca:
"Hoàng tử nay ở đâu,
Ta nay muốn thấy Ngài".
686. Thấy Thái tử chói sáng
Rực rỡ như vàng chói
Trong lò đúc nấu vàng,
Ðược thợ khéo luyện thành,
Bừng sáng và rực rỡ,
Với dung sắc tuyệt mỹ,
Họ Thích trình Thái-tử,
Cho ẩn sĩ Tư-đà.
687. Sau khi thấy Thái tử
Chói sáng như lửa ngọn,
Thanh tịnh như sao ngưu
Vận hành giữa hư không,
Sáng chiếu như mặt trời
Giữa trời thu, mây tịnh,
Ẩn sĩ tâm hân hoan
Ðược hỷ lạc rộng lớn.
688. Chư Thiên cầm ngôi lọng
Ðưa lên giữa hư không,
Cây lọng có nhiều cành,
Có hàng ngàn vòng chuyền.
Họ quạt với phất trần,
Có tán vàng, lông thú,
Nhưng không ai thấy được,
Kẻ cầm lọng, phất trần.
689. Bậc ẩn sĩ bện tóc,
Tên Kà-ha-xi-ri,
Thấy Thái tử nằm dài
Trên tấm chăn màu vàng,
Như đồng tiền bằng vàng,
Lại trên đầu Thái tử
Có lông trắng đưa lên,
Tâm ẩn sĩ phấn khởi,
Ðẹp ý, lòng hân hoan
Ðưa tay bồng Thái tử.
690. Sau khi ẩm bồng lên
Con trai dòng họ Thích,
Bậc cầu đạo tìm hiểu,
Vượt khổ, nhờ tướng, chú,
Tâm tư được hoan hỷ,
Thốt lên lời như sau:
Vị này bậc Vô thượng,
"Tối thượng loài hai chân".
691. Khi vị ấy nghĩ đến,
Số mệnh của tự mình,
Số mệnh không tốt đẹp,
Vị ấy rơi nước mắt,
Thấy vậy, các Thích Ca,
Hỏi ẩn sĩ đang khóc;
"Có sự gì chướng ngại
Sẽ xảy cho Thái tử?".
692. Thấy họ Thích lo lắng,
Vị ẩn sĩ trả lời:
"Ta không thấy bất hạnh
Xảy đến cho Thái tử,
Ðối với Thái tử ấy,
Chướng ngại sẽ không có,
Vị này không hạ liệt,
Chớ có lo lắng gì.
693. Thái tử này sẽ chứng
Tối thượng quả Bồ đề,
Sẽ chuyển bánh xe pháp,
Thấy thanh tịnh tối thắng,
Vì lòng tử thương xót,
Vì hạnh phúc nhiều người,
Và đời sống Phạm hạnh,
Ðược truyền bá rộng rãi.
694. Thọ mạng ta ở đời
Còn lại không bao nhiêu,
Ðến giữa đời sống Ngài
Ta sẽ bị mệnh chung.
Ta không được nghe pháp,
Bậc tinh cần vô tỷ,
Do vậy ta sầu não,
Bất hạnh và khổ đau".
695. Sau khi khiến họ Thích,
Sanh hoan hỷ rộng lớn,
Bậc sống theo Phạm hạnh,
Bước ra khỏi nội thành.
Vị ấy vì lòng từ,
Thương con trai của chị,
Khích lệ nó học pháp,
Bậc tinh cần vô tỷ.
696. Khi Ông nghe tiếng Phật,
Từ người khác nói lên,
Bậc đã đạt Bồ-đề,
Ðã đi con đường pháp,
Hãy đi đến chỗ ấy,
Hỏi kỹ về đạo pháp,
Và sống đời Phạm hạnh,
Dưới bậc Thế Tôn ấy.
697. Như vậy, được khuyên bảo,
Bởi vị nghĩ hạnh phúc,
Vị thấy ở tương lai,
Ðường tối thắng thanh tịnh.
Do vậy Nà-la-ka,
Với phước đức chất chứa,
Sống với căn hộ trì,
Chờ đợi bậc chiến thắng.
698. Khi nghe tin Pháp luân,
Ðược bậc chiến thắng chuyển,
Ðến thấy được hoan hỷ,
Bậc ẩn sĩ Ngưu vương,
Hỏi Mâu ni tối thắng,
Pháp Mâu ni tối thượng,
Như A-xi-ta khuyên
Trong buổi gặp gỡ trước.
Giảng sư: TT Giác Đẳng
Sự Chào Đời Của Vị Phật Tương Lai
Nguyên tác: The Life Of The Buddha - tác giả: Nanamoli - TK Giác Đẳng dịch
Lời dẫn
Lịch sử của Ấn Độ bắt đầu với sử liệu về Đức Phật Gotama (Cồ Đàm). Nói rõ hơn là lịch sử được ghi chép thay thế cho những khám phá của ngành khảo cổ và thần thoại. Những dữ kiện về Đức Phật và lời dạy của Ngài cho thấy xã hội thời ấy là một nền văn minh rất cao đã thật sự trải qua một quá trình dài để trưởng thành. Lúc bấy giờ Đức Thế Tôn viên thành Phật quả tại Uruvela trong lưu vực sông Ganga (Hằng Hà) vùng đất được lịch sử gọi là "Trung Quốc Độ" Nếu tính về địa dư thì nơi nầy cách thành phố thiêng liêng cổ kính Banares (Ba la nại) không xa lắm. Ngài mất 6 năm phấn đấu để tìm ra con đường giác ngộ vào lúc ba mươi lăm tuổi. Từ đó ngài vân du suốt 45 năm từ nơi nầy sang nơi khác để tuyên thuyết giáo lý tứ diệu đế. Theo các sử gia Tây phương Đức Phật vào năm 483 trước Tây lịch. ( vào Rằm Tháng Tư Âm lịch). Thời kỳ Đức Phật trụ thế là giai đoạn đặc biệt thái bình với nền pháp trị vững vàng trong xã hội ổn định. Điều nầy tạo nên bức tranh tương phản lớn so với trước và sau thời Phật.
Sử kiện
Ba tháng sau khi Đức Phật viên tịch, những thánh đệ tử niên cao lạp trưởng triệu tập một đại hội kết tập kinh điển để quyết định hình thức của giáo điển lưu truyền thế hệ mai hậu. Trong năm trăm vị thánh tăng vô lậu giải thoát, Trưởng lão Upàli (Ưu Ba Ly) được ghi nhận là người có thẩm quyền về giới bổn và nghi luật Tăng già những điều được kết tập trở thành luật tạng. Khi còn là cư sĩ Ngài vốn là một người thợ hớt tóc trong cung về sau đi xuất gia cùng với người anh em chú bác của Đức Phật là Ngài Ananda và những hoàng tử khác. Ngài được thỉnh cử tuyên đọc trước đại hội những giới điều cùng với nhân duyên được ban hành.Tạng Luật -Vinaya Pitaka được kết tập từ sự trùng tụng của Ngài. Sau khi Ngài hoàn tất, Trưởng lão Ànanda được đại hội thỉnh cử trùng tụng những pháp thoại. Trong suốt 25 năm sau cùng của Đức Phật, tôn giả là người thị giả luôn bên cạnh. Tôn giả cũng có một tư chất đặc biệt là trí nhớ phi thường. Hầu hết Tạng Kinh - Sutta Pitaka do Ngài Ànanda thuật lại. Tôn giả Upàli khi trùng tụng Tạng Luật mở đầu với mệnh đề "tena samayena - Lúc bấy giờ", còn phần tôn giả Ànanda thì mở đầu với câu "evam me sutam - Tôi nghe như vầy"
Lời dẫn
Bài kinh dưới đây được trích từ Tam Tạng. Giáo điển nầy đã tồn tại thế nào là câu chuyện sẽ bàn sau. Nhưng khởi điểm ở đây là câu chuyện về kiếp áp chót của Đức Phật do chính Ngài kể lại sau nầy được thuật lại bởi Trưởng lão Ànanda. Bài kinh nầy dịch từ Phạn văn Pàli, ngôn ngữ được chính Đức Phật sử dụng.
Kinh văn
Kinh Hy hữu vị tằng hữu pháp
(Acchariya-abbhùtadhamma sutta)
HT Minh Châu dịch, TK Giác Đẳng phân đoạn
[Duyên sự]
Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn trú ở Savatthi (Xá-vệ), Jetavana (Kỳ-đà-lâm), tại tịnh xá ông Anathapindika (Cấp Cô Ðộc).
Rồi một số rất đông Tỷ-kheo, sau buổi ăn, sau khi đi khất thực về, đang ngồi tụ họp trong thị giả đường (upatthanasala), câu chuyện này được khởi lên giữa chúng Tăng:
"Thật hy hữu thay chư Hiền! Thật vị tằng hữu thay chư Hiền, là đại thần thông lực, đại uy lực của Như Lai! Vì Ngài biết được chư Phật quá khứ, đã nhập Niết-bàn, đã đoạn các hý luận, đã đoạn các chướng đạo, đã chấm dứt luân hồi, đã thoát ly mọi khổ: "Chư Thế Tôn ấy sanh tánh như vậy, danh tánh như vậy, tộc tánh như vậy, giới hạnh như vậy, pháp hạnh như vậy, tuệ hạnh như vậy, trú hạnh như vậy, chư Thế Tôn ấy giải thoát như vậy".
Khi được nghe nói như vậy, Tôn giả Ananda nói với các Tỷ-kheo ấy: "Thật hy hữu thay chư Hiền, Như Lai được đầy đủ các pháp hy hữu! Thật vị tằng hữu thay chư Hiền, Như Lai được đầy đủ các pháp vị tằng hữu!"
Và câu chuyện giữa các Tỷ-kheo ấy bị gián đoạn. Rồi Thế Tôn vào buổi chiều, từ Thiền tịnh độc cư đứng dậy, đi đến thị giả đường, sau khi đến, ngồi trên chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:
-- Này các Tỷ-kheo, nay các Ông ngồi nói chuyện gì? Câu chuyện gì giữa các Ông bị gián đoạn?
-- Ở đây, bạch Thế Tôn, chúng con sau buổi ăn, sau khi đi khất thực trở về, chúng con ngồi tụ họp tại thị giả đường, câu chuyện sau đây được khởi lên: "Hy hữu thay, chư Hiền! ... chư Thế Tôn ấy được giải thoát như vậy". Khi được nghe nói vậy, bạch Thế Tôn, Tôn giả Ananda nói với chúng con như sau: "Thật hy hữu thay... Như Lai được đầy đủ các pháp hy hữu! Thật vị tằng hữu thay... Như Lai được đầy đủ các pháp vị tằng hữu!" Câu chuyện này giữa chúng con, bạch Thế Tôn, bị gián đoạn. Rồi Thế Tôn đến.
Thế Tôn bảo Tôn giả Ananda:
-- Do vậy, này Ananda, hãy nói lên nhiều nữa, những đặc tánh hy hữu, vị tằng hữu của Như Lai.
[An trú chánh niệm trong kiếp áp chót tại Đâu Suất]
-- Bạch Thế Tôn, con tận mặt nghe, con tận mặt ghi nhớ từ Thế Tôn: "Chánh niệm tỉnh giác, này Ananda, Bồ-tát sanh trong Thiên chúng (Kaya) Tusita". Vì rằng, bạch Thế Tôn, chánh niệm tỉnh giác, Bồ-tát sanh trong Thiên chúng Tusita, con thọ trì sự việc này, bạch Thế Tôn, là một hy hữu, một vị tằng hữu của Thế Tôn.
Bạch Thế Tôn, con tận mặt nghe, con tận mặt ghi nhớ từ Thế Tôn: "Chánh niệm tỉnh giác, này Ananda, Bồ-tát an trú trong Thiên chúng Tusita". Vì rằng, bạch Thế Tôn, chánh niệm tỉnh giác, Bồ-tát an trú trong Thiên chúng Tusita, con thọ trì sự việc này, bạch Thế Tôn, là một hy hữu, một vị tằng hữu của Thế Tôn.
Bạch Thế Tôn, con tận mặt nghe, con tận mặt ghi nhớ từ Thế Tôn: "Chánh niệm tỉnh giác, này Ananda, Bồ-tát an trú tại Thiên chúng Tusita cho đến trọn thọ mạng". Vì rằng, bạch Thế Tôn, chánh niệm tỉnh giác, Bồ-tát an trú tại Thiên chúng Tusita cho đến trọn thọ mạng, con thọ trì sự việc này, bạch Thế Tôn, là một hy hữu, một vị tằng hữu của Thế Tôn.
Bạch Thế Tôn, con tận mặt nghe, con tận mặt ghi nhớ từ Thế Tôn: "Chánh niệm tỉnh giác này Ananda, Bồ-tát sau khi từ Thiên chúng Tusita mạng chung, nhập vào mẫu thai". Vì rằng, bạch Thế Tôn, chánh niệm tỉnh giác, Bồ-tát sau khi từ Thiên chúng Tusita mạng chung, nhập vào mẫu thai, con thọ trì sự việc này, bạch Thế Tôn, là một hy hữu, một vị tằng hữu của Thế Tôn.
Bạch Thế Tôn, con tận mặt nghe, con tận mặt ghi nhớ từ Thế Tôn: "Khi Bồ-tát nhập vào mẫu thai, này Ananda, khi ấy một hào quang vô lượng, thần diệu, thắng xa oai lực của chư Thiên hiện ra cùng khắp thế giới, gồm có các thế giới ở trên chư Thiên, thế giới của các Ma vương và Phạm thiên và thế giới ở dưới gồm các vị Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người. Cho đến các thế giới ở giữa các thế giới, tối tăm, u ám không có nền tảng, những cảnh giới mà mặt trăng mặt trời với đại thần lực, với đại oai lực như vậy cũng không thể chiếu thấu, trong những cảnh giới ấy, một hào quang vô lượng, thắng xa oai lực của chư Thiên hiện ra. Và các chúng sanh sống tại những chỗ ấy nhờ hào quang ấy mới thấy nhau và nói: "Cũng có những chúng sanh khác sống ở đây". Và mười ngàn thế giới này chuyển động, rung động, chuyển động mạnh. Và hào quang vô lượng, thần diệu, thắng xa oai lực của chư Thiên hiện ra ở thế giới. Vì rằng, bạch Thế Tôn, con thọ trì sự việc này, bạch Thế Tôn, là một hy hữu, một vị tằng hữu của Thế Tôn".
Bạch Thế Tôn, con tận mặt nghe, con tận mặt ghi nhớ từ Thế Tôn: "Khi Bồ-tát nhập mẫu thai, này Ananda, bốn vị Thiên tử đến canh gác bốn phương trời và nói: "Không cho một ai, người hay không phải loài người được phiền nhiễu Bồ-tát, hay mẹ vị Bồ-tát". Vì rằng, bạch Thế Tôn, con thọ trì sự việc này, bạch Thế Tôn, là một hy hữu, một vị tằng hữu của Thế Tôn".
Bạch Thế Tôn, con tận mặt nghe, con tận mặt ghi nhớ từ Thế Tôn: "Khi Bồ-tát nhập mẫu thai, này Ananda, mẹ Bồ-tát giữ giới một cách hồn nhiên, không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói láo, không uống các thứ rượu nấu, rượu lên chất men". Vì rằng, bạch Thế Tôn, con thọ trì sự việc này, bạch Thế Tôn, là một hy hữu, một vị tằng hữu của Thế Tôn.
Bạch Thế Tôn, con tận mặt nghe, con tận mặt ghi nhớ từ Thế Tôn: "Khi Bồ-tát nhập mẫu thai, này Ananda, mẹ Bồ-tát không khởi dục tâm đối với một nam nhân nào, và mẹ Bồ-tát không bị xâm phạm bởi bất kỳ người đàn ông nào có nhiễm tâm". Vì rằng, bạch Thế Tôn, con thọ trì sự việc này, bạch Thế Tôn, là một hy hữu, một vị tằng hữu của Thế Tôn.
Bạch Thế Tôn, con tận mặt nghe, con tận mặt ghi nhớ từ Thế Tôn: "Khi Bồ-tát nhập mẫu thai, này Ananda, mẹ vị Bồ-tát tận hưởng năm dục công đức đầy đủ, tận hưởng trọn năm dục công đức". Vì rằng, bạch Thế Tôn, con thọ trì sự việc này, bạch Thế Tôn, là một hy hữu, một vị tằng hữu của Thế Tôn.
Bạch Thế Tôn, con tận mặt nghe, con tận mặt ghi nhớ từ Thế Tôn: "Khi Bồ-tát nhập mẫu thai, này Ananda, mẹ Bồ-tát không bị một bệnh tật gì. Bà sống với tâm hoan hỷ, với tâm khoan khoái. Bà thấy trong bào thai của mình vị Bồ-tát đầy đủ mọi bộ phận và chân tay. Này Ananda, ví như viên ngọc lưu ly, thanh tịnh, thuần nhất, có tám cạnh, khéo cắt, khéo dũa, trong sáng, không tỳ vết, hoàn hảo trong mọi phương diện. Rồi một sợi dây được xâu qua viên ngọc ấy, dây màu xanh, màu vàng, màu đỏ, màu trắng hay màu vàng lợt. Nếu có người có mắt để viên ngọc trên bàn tay của mình, người ấy sẽ thấy rõ ràng: "Ðây là viên ngọc lưu ly, thanh tịnh, thuần nhất, có tám cạnh, khéo cắt, khéo dũa, trong sáng, không tỳ vết, hoàn hảo trong mọi phương diện. Ðây là sợi dây xâu qua, sợi dây màu xanh, màu vàng, màu đỏ, màu trắng hay màu vàng lợt". Cũng vậy, này Ananda, khi Bồ-tát nhập mẫu thai, mẹ Bồ-tát không bị một bệnh tật gì. Bà sống với tâm hoan hỷ, với tâm khoan khoái. Bà thấy trong bào thai của mình vị Bồ-tát đầy đủ bộ phận và chân tay". Vì rằng, bạch Thế Tôn, con thọ trì sự việc này, bạch Thế Tôn, là một hy hữu, một vị tằng hữu của Thế Tôn.
Bạch Thế Tôn con tận mặt nghe, con tận mặt ghi nhớ từ Thế Tôn: "Sau khi sanh Bồ-tát bảy ngày, này Ananda, mẹ Bồ-tát mệnh chung và sanh lên cõi trời Ðâu suất". Vì rằng, bạch Thế Tôn, con thọ trì sự việc này, bạch Thế Tôn, là một hy hữu, một vị tằng hữu của Thế Tôn.
Bạch Thế Tôn, con tận mặt nghe, con tận mặt ghi nhớ từ Thế Tôn: "Trong khi các người đàn bà khác, này Ananda, mang bầu thai trong bụng chín tháng hay mười tháng rồi mới sanh, mẹ Bồ-tát sanh Bồ-tát không phải như vậy. Mẹ Bồ-tát mang Bồ-tát trong bụng mười tháng rồi mới sanh". Vì rằng, bạch Thế Tôn, con thọ trì sự việc này, bạch Thế Tôn, là một hy hữu, một vị tằng hữu của Thế Tôn.
Bạch Thế Tôn, con tận mặt nghe, con tận mặt ghi nhớ từ Thế Tôn: "Trong khi các người đàn bà khác, này Ananda, hoặc ngồi hoặc nằm mà sanh con, mẹ vị Bồ-tát sanh Bồ- tát không phải như vậy. Mẹ Bồ-tát đứng mà sanh Bồ-tát". Vì rằng, bạch Thế Tôn, con thọ trì sự việc này, bạch Thế Tôn, là một hy hữu, một vị tằng hữu của Thế Tôn.
Bạch Thế Tôn, con tận mặt nghe, con tận mặt ghi nhớ từ Thế Tôn: "Khi Bồ-tát từ bụng mẹ sanh ra, này Ananda, chư Thiên đỡ lấy Ngài trước, sau mới đến loài người". Vì rằng, bạch Thế Tôn, con thọ trì sự việc này, bạch Thế Tôn, là một hy hữu, một vị tằng hữu của Thế Tôn.
Bạch Thế Tôn, con tận mặt nghe, con tận mặt ghi nhớ từ Thế Tôn: "Khi Bồ-tát từ bụng mẹ sanh ra, này Ananda, Bồ-tát không đụng đến đất. Có bốn Thiên tử đỡ lấy Ngài, đặt Ngài trước bà mẹ và thưa: "Hoàng hậu hãy hoan hỷ! Hoàng Hậu sanh một bậc vĩ nhân". Vì rằng, bạch Thế Tôn, con thọ trì sự việc này, bạch Thế Tôn, là một hy hữu, một vị tằng hữu của Thế Tôn.
Bạch Thế Tôn, con tận mặt nghe, con tận mặt ghi nhớ từ Thế Tôn: "Khi Bồ-tát từ bụng mẹ sanh ra, này Ananda, Ngài sanh ra thanh tịnh, không bị nhiễm ô bởi nước nhớt nào, không bị nhiễm ô bởi loại mủ nào, không bị nhiễm ô bởi loại máu nào, không bị nhiễm ô bởi bất cứ vật bất tịnh nào, thanh tịnh, trong sạch. Này Ananda, ví như một viên ngọc ma-ni bảo châu đặt trên một tấm vải Ba-la-nại. Viên ngọc không làm nhiễm ô tấm vải Ba-la-nại, tấm vải Ba-la-nai cũng không làm nhiễm ô hòn ngọc. Vì sao vậy? Vì cả hai đều thanh tịnh. Cũng vậy, này Ananda, khi Bồ-tát từ bụng mẹ sanh ra, Ngài sanh ra thanh tịnh, không bị nhiễm ô bởi nước nhớt nào, không bị nhiễm ô bởi loại mủ nào, không bị nhiễm ô bởi loại máu nào, không bị nhiễm ô bởi bất cứ vật bất tịnh nào, thanh tịnh, trong sạch". Vì rằng, bạch Thế Tôn, con thọ trì sự việc này, bạch Thế Tôn, là một hy hữu, một vị tằng hữu của Thế Tôn.
Bạch Thế Tôn, con tận mặt nghe, con tận mặt ghi nhớ từ Thế Tôn: "Khi Bồ-tát từ bụng mẹ sanh ra, này Ananda, hai dòng nước từ hư không hiện ra, một dòng lạnh, một dòng nóng. Hai dòng nước ấy tắm rửa sạch sẽ cho Bồ-tát và cho bà mẹ". Vì rằng, bạch Thế Tôn, con thọ trì sự việc này, bạch Thế Tôn, là một hy hữu, một vị tằng hữu của Thế Tôn.
Bạch Thế Tôn, con tận mặt nghe, con tận mặt ghi nhớ từ Thế Tôn: "Bồ-tát khi sanh ra, này Ananda, Ngài đứng vững, thăng bằng trên hai chân, mặt hướng phía Bắc, bước đi bảy bước, một lọng trắng được che lên. Ngài nhìn khắp cả mọi phương, lên tiếng như con ngưu vương, thốt ra lời như sau: "Ta là bậc tối thượng ở trên đời! Ta là bậc tối tôn ở trên đời! Ta là bậc cao nhất ở trên đời! Nay là đời sống cuối cùng, không còn phải tái sanh ở đời này nữa". Vì rằng, bạch Thế Tôn, con thọ trì sự việc này, bạch Thế Tôn, là một hy hữu, một vị tằng hữu của Thế Tôn.
Bạch Thế Tôn, con tận mặt nghe, con tận mặt ghi nhớ từ Thế Tôn: "Khi Bồ-tát từ bụng mẹ sanh ra, này Ananda, khi ấy một hào quang vô lượng thần diệu, thắng xa oai lực của chư Thiên, hiện ra cùng khắp thế giới, gồm có các thế giới trên chư Thiên, thế giới của các Ma vương và Phạm thiên, và thế giới ở dưới gồm các Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người. Cho đến các cảnh giới giữa các thế giới, tối tăm, u ám, không có nền tảng, những cảnh giới mà mặt trăng mặt trời với đại thần lực, đại oai lực như vậy cũng không thể chiếu thấu, trong những cảnh giới ấy một hào quang vô lượng, thắng xa oai lực chư Thiên hiện ra. Và các chúng sanh sống tại các chỗ ấy, nhờ hào quang ấy mới thấy nhau mà nói: "Cũng có những chúng sanh khác sống ở đây". Và mười ngàn thế giới này chuyển động, rung động, chuyển động mạnh. Và hào quang vô lượng thần diệu, thắng xa oai lực của chư Thiên hiện ra ở thế giới. Vì rằng, bạch Thế Tôn, con thọ trì sự việc này, bạch Thế Tôn là một hy hữu, một vị tằng hữu của Thế Tôn.
-- Do vậy, này Ananda, hãy thọ trì sự việc này là một hy hữu, một vị tằng hữu của Như Lai. Ở đây, này Ananda, các cảm thọ khởi lên nơi Thế Tôn được biết đến; được biết đến, chúng an trú; được biết đến, chúng đi đến biến hoại; các tưởng được biết đến; các tầm khởi lên được biết đến; được biết đến, chúng an trú; được biết đến, chúng đi đến biến hoại. Này Ananda, hãy thọ trì việc này là một hy hữu, một vị tằng hữu của Như Lai.
-- Vì rằng, bạch Thế Tôn, các cảm thọ khởi lên nơi Thế Tôn được biết đến; được biết đến, chúng an trú; được biết đến, chúng đi đến biến hoại; các tưởng được biết đến; các tầm khởi lên được biết đến; được biết đến, chúng an trú; được biết đến, chúng đi đến biến hoại. Bạch Thế Tôn, con thọ trì sự việc này là một hy hữu, một vị tằng hữu của Như Lai.
Tôn giả Ananda nói như vậy. Bậc Ðạo Sư chấp nhận. Các Tỷ-kheo hoan hỷ tín thọ lời Tôn giả Ananda nói.
Kinh văn
(XI) Kinh Nàlaka (Sn 131)
679. ẩn sĩ Asita,
Trong lúc giữa ban ngày,
Thấy chúng các chư Thiên
Cõi trời Ba mươi ba,
Họ hoan hỷ vui vẻ,
Với y áo, thanh tịnh,
Họ cung kính In-đa,
Các vị ấy cầm áo
Với nhiệt tình nói lên,
Những lời khen tán thán.
680. Thấy chư Thiên hoan hỷ,
Dõng dạc và phấn chấn,
Với tâm tư cung kính,
Ở đây, vị ấy nói.
Asita:
Vì sao chúng chư Thiên
Lại nhiệt tình hoan hỷ?
Họ cầm áo vui múa,
Là do nhân duyên gì?
681. Trong thời gian chiến trận,
Với các Asura,
Dững sĩ được thắng trận
Asura bại trận,
Thời gian ấy họ không,
Lông tóc dựng ngược dậy,
Họ thấy gì hy hữu,
Chư Thiên hoan hỷ vậy.
682. Họ la lớn ca hát,
Và họ tấu nhạc trời,
Họ múa tay, vỗ tay,
Họ múa nhảy vũ điệu,
Nay ta hỏi các Ông,
Trú đảnh núi Meru,
Các Ngài hãy mau chóng,
Giải tỏa điều ta nghĩ.
Chư Thiên:
683. Tại xứ Lumbini
Trong làng các Thích-ca,
Có sanh vị Bồ Tát,
Báu tối thắng, vô tỷ,
Ngài sanh, đem an lạc,
Hạnh phúc cho loài Người,
Do vậy chúng tôi mừng,
Tâm vô cùng hoan hỷ.
684. Ngài, chúng sanh tối thượng,
Ngài loài Người tối thắng,
Bậc Ngưu vương loài Người,
Thượng thủ mọi sanh loại;
Ngài sẽ chuyển Pháp luân,
Trong khu rừng ẩn sĩ,
Rống tiếng rống sư tử,
Hùng mạnh nhiếp loài thú.
685. Sau khi nghe lời ấy,
ẩn sĩ Asita,
Liền vội vàng bước xuống,
Và đi đến đầu đài,
Của đức vua Tịnh Phạn.
Ðến nơi Ngài ngồi xuống,
Nói với các Thích-Ca:
"Hoàng tử nay ở đâu,
Ta nay muốn thấy Ngài".
686. Thấy Thái tử chói sáng
Rực rỡ như vàng chói
Trong lò đúc nấu vàng,
Ðược thợ khéo luyện thành,
Bừng sáng và rực rỡ,
Với dung sắc tuyệt mỹ,
Họ Thích trình Thái-tử,
Cho ẩn sĩ Tư-đà.
687. Sau khi thấy Thái tử
Chói sáng như lửa ngọn,
Thanh tịnh như sao ngưu
Vận hành giữa hư không,
Sáng chiếu như mặt trời
Giữa trời thu, mây tịnh,
Ẩn sĩ tâm hân hoan
Ðược hỷ lạc rộng lớn.
688. Chư Thiên cầm ngôi lọng
Ðưa lên giữa hư không,
Cây lọng có nhiều cành,
Có hàng ngàn vòng chuyền.
Họ quạt với phất trần,
Có tán vàng, lông thú,
Nhưng không ai thấy được,
Kẻ cầm lọng, phất trần.
689. Bậc ẩn sĩ bện tóc,
Tên Kà-ha-xi-ri,
Thấy Thái tử nằm dài
Trên tấm chăn màu vàng,
Như đồng tiền bằng vàng,
Lại trên đầu Thái tử
Có lông trắng đưa lên,
Tâm ẩn sĩ phấn khởi,
Ðẹp ý, lòng hân hoan
Ðưa tay bồng Thái tử.
690. Sau khi ẩm bồng lên
Con trai dòng họ Thích,
Bậc cầu đạo tìm hiểu,
Vượt khổ, nhờ tướng, chú,
Tâm tư được hoan hỷ,
Thốt lên lời như sau:
Vị này bậc Vô thượng,
"Tối thượng loài hai chân".
691. Khi vị ấy nghĩ đến,
Số mệnh của tự mình,
Số mệnh không tốt đẹp,
Vị ấy rơi nước mắt,
Thấy vậy, các Thích Ca,
Hỏi ẩn sĩ đang khóc;
"Có sự gì chướng ngại
Sẽ xảy cho Thái tử?".
692. Thấy họ Thích lo lắng,
Vị ẩn sĩ trả lời:
"Ta không thấy bất hạnh
Xảy đến cho Thái tử,
Ðối với Thái tử ấy,
Chướng ngại sẽ không có,
Vị này không hạ liệt,
Chớ có lo lắng gì.
693. Thái tử này sẽ chứng
Tối thượng quả Bồ đề,
Sẽ chuyển bánh xe pháp,
Thấy thanh tịnh tối thắng,
Vì lòng tử thương xót,
Vì hạnh phúc nhiều người,
Và đời sống Phạm hạnh,
Ðược truyền bá rộng rãi.
694. Thọ mạng ta ở đời
Còn lại không bao nhiêu,
Ðến giữa đời sống Ngài
Ta sẽ bị mệnh chung.
Ta không được nghe pháp,
Bậc tinh cần vô tỷ,
Do vậy ta sầu não,
Bất hạnh và khổ đau".
695. Sau khi khiến họ Thích,
Sanh hoan hỷ rộng lớn,
Bậc sống theo Phạm hạnh,
Bước ra khỏi nội thành.
Vị ấy vì lòng từ,
Thương con trai của chị,
Khích lệ nó học pháp,
Bậc tinh cần vô tỷ.
696. Khi Ông nghe tiếng Phật,
Từ người khác nói lên,
Bậc đã đạt Bồ-đề,
Ðã đi con đường pháp,
Hãy đi đến chỗ ấy,
Hỏi kỹ về đạo pháp,
Và sống đời Phạm hạnh,
Dưới bậc Thế Tôn ấy.
697. Như vậy, được khuyên bảo,
Bởi vị nghĩ hạnh phúc,
Vị thấy ở tương lai,
Ðường tối thắng thanh tịnh.
Do vậy Nà-la-ka,
Với phước đức chất chứa,
Sống với căn hộ trì,
Chờ đợi bậc chiến thắng.
698. Khi nghe tin Pháp luân,
Ðược bậc chiến thắng chuyển,
Ðến thấy được hoan hỷ,
Bậc ẩn sĩ Ngưu vương,
Hỏi Mâu ni tối thắng,
Pháp Mâu ni tối thượng,
Như A-xi-ta khuyên
Trong buổi gặp gỡ trước.
Tin Tức
No. 0345 NEW ( Hạt Cát dịch)
Lễ hội Ngày Chuyển Hóa Tâm sẽ cống hiến nhiều sắc thái Phật giáo
by TIM SULLIVAN, Oregon Live, June 1, 2005
Portland, Oregon (USA) Nhà tổ chức nói rằng Ngày Chuyển Hóa Tâm năm nay sẽ nhằm mục đích tạo nên những gặp gỡ giữa tư tưởng cũng như chuyển hóa nó.
Cư dân vùng Ðông Nam Portland hưởng ứng Lễ Hội Ngày Chuyển Hóa Tâm đã tụ tập tại một khu vực từ chùa Phật Giáo Oregon trên đường 34 tới Trung Tâm thiền tập Pháp Vũ trên đường Madison. Khu vực này có nhiều cơ sở dành cho Phật tử đến tu học.
Chương trình Lễ Hội cống hiến nhiều đề tài khác nhau. Trong khi nơi này thiền tập, nơi kia tụng niệm thì nơi nọ thuyết giảng Kinh Bát Nhã, Kinh Kim Cang v.v...
Sự đa dạng của Phật giáo là điều mà các bậc lãnh đạo PG hy vọng truyền đạt trong kỳ Lễ Hội Ngày Chuyển Hóa Tâm hằng năm lần thứ nhì ở Công Viên Mùa Hè tại khu đông Nam thành Phố Portland tiểu bang Oregon trong tuần lễ vừa qua.
Ông Heidi Hoogstra của Hội Ái Hữu Phật Giáo, một người trong nhóm tổ chức lễ hội nói “Phật Giáo tại Portland có một sắc thái rất phong phú, vì vậy chúng ta nên ăn mừng” .
Ngày Chuyển Hóa Tâm lần thứ nhất xảy ra 12 năm trước khi Tạp Chí Phật Giáo Tricycle tổ chức một buổi hướng dẫn thiền tập để giới thiệu tư tưởng và giáo lý Phật Giáo với công chúng tại Công viên Central thuộc New York City, bởi vì nhà tổ chức nghĩ rằng có một số người e dè ngần ngại khi tìm đến những cơ sở hành tập bình thường.
Buổi hướng dẫn thiền tập này thu hút được vài trăm người. Kể từ đó, Ngày Chuyển Hóa Tâm, Thứ Bảy đầu tiên của tháng Sáu, trở thành một phong trào thế giới, ngày được tổ chức từ Houston đến San Francisco.
“Ðây là một cơ hội lớn lao cho những ai muốn gặp gỡ và tìm hiểu tất cả các tông phái và giảng sư Phật Giáo để xem giáo lý nào thích hợp với mình”. DD Faulconer, tu sĩ thường trú tại chùa Nichiren ( Nhật Liên Tông thuộc Nhật Bản) nói như thế, ông nói thêm “Và tôi cảm thấy cộng đồng Phật Giáo cần có một mối liên hệ thân hữu như thế này để trở thành vững mạnh hơn”.
Portland có một truyền thống Phật Giáo lâu đời, cám ơn cộng đồng di dân Á Châu. Chùa Oregon Buddhist Temple gần đây đã kỷ niệm 100 năm, chùa Nichiren không bao lâu sẽ kỷ niệm 75 năm.
Tại Portland và xuyên suốt vùng Tây Bắc Thái Bình Dương, Phật Giáo khởi sắc với con số tỷ lệ chuyển sang đạo Phật được coi là khá cao. Trung Tâm Pháp Vũ được thành lập bởi đa số thành viên là người Mỹ gốc Âu vào giữa năm 1980 khi nó tách rời tổ chức chính ở California..
Năm ngoái, Portland tham gia Ngày Chuyển Hóa Tâm lần thứ nhất. Faulconer đã tham dự một chương trình Chuyển Hóa Tâm khác trước kia, và ông nghĩ rằng sắc thái đa dạng của Phật giáo tại Portland có thể áp dụng hình thức đó để mọi tông phái có thể hiểu biết lẫn nhau.
Rất nhiều cộng đồng Phật Giáo đã loại bỏ các hình thức khác của Phật Giáo. Phong trào này có thể giúp ta nhận thức được Ðức Phật đã dạy rất nhiều điều khác nhau.
Năm ngoái, ngày Chuyển Hóa Tâm thu hút vài trăm người. Năm nay, nhà tổ chức hy vọng sẽ thu hút nhiều Phật tử hơn. Một số thành viên tham dự lễ hội sẽ cống hiến các màn khiên vũ truyền thống, kể chuyện và trình diễn âm nhạc. Ông Hoogstra nói “Sự tìm hiểu tất cả các giáo phái và cổ võ sự đa dạng là một việc làm rất Âu Mỹ, tuy nhiên, tôi hy vọng rằng Ngày Chuyển Hóa Tâm có thể trở thành một ngày lễ của Phật Giáo trên toàn cầu”.
--------------------------------------------------------
No. 0348 NEW ( Hạt Cát dịch)
Tu sĩ Tích Lan bắt đầu tuyệt thực phản đối chính phủ hợp tác với đảng đối lập quá khích Tigers
www.chinaview.cn 2005-06-06 23:19:43
COLOMBO, June 6 (Xinhuanet) Tu sĩ đảng Truyền Thống tại Tích Lan bắt đầu một cuộc tuyệt thực đến chết để phản đối Tổng Thống dự định bắt tay thương lượng với đảng đối lập Tiger trong vấn đề phân phối viện trợ Tsunami.
Phát ngôn viên của đảng JHU nói rằng chư tăng sẽ tiếp tục tuyệt thực cho đến chết tại địa điểm gần ngôi chùa lịch sử thờ xá lợi răng ở trung tâm thành phố Kandy cho đến khi nào tổng thống thu hồi ý định hợp tác với đảng đối lập Tiger tại Tamil.
Một nguồn tin từ đảng Truyền Thống JHU cho hay DD Omalpe Sobhita, một trong 9 nghị viên sẽ tuyệt thực đến chết.
Ðảng JHU ra mặt đẩy mạnh áp lực với tổng thống sau chuyến công du từ Ấn Ðộ trở về hồi cuối tuần của tổng thống và bản báo cáo được sự đồng ý của chính phủ Ấn Ðộ về việc hợp tác với Tiger.
Bà Kumaratunga đang đối diện với sự chỉ trích gay gắt mà giới phê bình cho rằng đó là một thái độ phong chức công nhận đảng Tigers.
Ðảng JVP, Nhân Dân Tự Do Tiền Phong, lực lượng liên minh chính của Bà Kumara đã hăm dọa rằng họ sẽ ra khỏi chính phủ nếu Bà Kumaratunga hợp tác với Ðảng Tigers. Tu sĩ đảng Truyền Thống bắt đầu tuyệt thực một ngày sau khi đảng hậu thuẫn JVP đưa ra lời cảnh cáo 48 tiếng thời hạn chót cho chính phủ thu hồi ý định.
Kumaratunga được hậu thuẫn bởi cộng đồng quốc tế ra mặt quyết định đi vào thương lượng nhìn nhận rằng đã có một sự thu xếp hành chính giới hạn trong thời gian một năm trên một khu vực bán kính 2 km miền duyên hải bị tàn phá dưới quyền kiểm soát của đảng Tiger tại phía bắc và phía đông.
--------------------------------------------------
N0. 0347 NEW ( Khánh Văn dịch)
Một tu sĩ Hoa Kỳ đi bộ cho hòa bình
By Kim Ki-tae
Staff Reporter
Đại Ðức Mu Ryang, một tu sĩ Hoa Kỳ đang xây dựng một ngôi chùa theo lối kiến trúc của Đại Hàn trong vùng Mohave Desert ở tiểu bang California, dự định sẽ đi bộ 10 ngày, mỗi ngày 40 cây số (25 miles), băng qua sa mạc để nguyện cầu cho hòa bình. Cuộc đi bộ sẽ bắt đầu vào ngày 25 tháng 6, đánh dấu 55 năm cuộc nội chiến Đại Hàn.
“Từ ngày 25, tháng 6 đến ngày 4 tháng 7, ngày lễ Độc lập ở Hoa kỳ, Tôi sẽ bắt đầu đi bộ để kêu gọi hòa bình cho thế giới.”
Cuộc hành trình này sẽ bắt đầu từ Korea Bell of Friendship ở Los Angeles đi đến Tobongsan Taego-sa Temple, là một ngôi chùa kiến trúc theo kiểu Đại hàn. Đại đức nói "Tôi sẽ đi cùng với vài người bạn , đã từng học chung với tôi.”
Đại đức Mu Ryang đã bước vào hàng tu sĩ Phật giáo năm 1983 dưới sự hướng dẫn của Đại Ðức Seung Sahn, người theo truyền phái thiền tông Đại hàn. Từ đó, Đại đức Mu Ryang tu tập theo hệ phái thiền tông này trong những chùa chiền ở Đại hàn bao gồm luôn Hwagye-sa and Sudok-sa cho đến khi Đại đức sang Hoa kỳ vào năm 1993.
Khánh Văn lượt dịch
No. 0345 NEW ( Hạt Cát dịch)
Lễ hội Ngày Chuyển Hóa Tâm sẽ cống hiến nhiều sắc thái Phật giáo
by TIM SULLIVAN, Oregon Live, June 1, 2005
Portland, Oregon (USA) Nhà tổ chức nói rằng Ngày Chuyển Hóa Tâm năm nay sẽ nhằm mục đích tạo nên những gặp gỡ giữa tư tưởng cũng như chuyển hóa nó.
Cư dân vùng Ðông Nam Portland hưởng ứng Lễ Hội Ngày Chuyển Hóa Tâm đã tụ tập tại một khu vực từ chùa Phật Giáo Oregon trên đường 34 tới Trung Tâm thiền tập Pháp Vũ trên đường Madison. Khu vực này có nhiều cơ sở dành cho Phật tử đến tu học.
Chương trình Lễ Hội cống hiến nhiều đề tài khác nhau. Trong khi nơi này thiền tập, nơi kia tụng niệm thì nơi nọ thuyết giảng Kinh Bát Nhã, Kinh Kim Cang v.v...
Sự đa dạng của Phật giáo là điều mà các bậc lãnh đạo PG hy vọng truyền đạt trong kỳ Lễ Hội Ngày Chuyển Hóa Tâm hằng năm lần thứ nhì ở Công Viên Mùa Hè tại khu đông Nam thành Phố Portland tiểu bang Oregon trong tuần lễ vừa qua.
Ông Heidi Hoogstra của Hội Ái Hữu Phật Giáo, một người trong nhóm tổ chức lễ hội nói “Phật Giáo tại Portland có một sắc thái rất phong phú, vì vậy chúng ta nên ăn mừng” .
Ngày Chuyển Hóa Tâm lần thứ nhất xảy ra 12 năm trước khi Tạp Chí Phật Giáo Tricycle tổ chức một buổi hướng dẫn thiền tập để giới thiệu tư tưởng và giáo lý Phật Giáo với công chúng tại Công viên Central thuộc New York City, bởi vì nhà tổ chức nghĩ rằng có một số người e dè ngần ngại khi tìm đến những cơ sở hành tập bình thường.
Buổi hướng dẫn thiền tập này thu hút được vài trăm người. Kể từ đó, Ngày Chuyển Hóa Tâm, Thứ Bảy đầu tiên của tháng Sáu, trở thành một phong trào thế giới, ngày được tổ chức từ Houston đến San Francisco.
“Ðây là một cơ hội lớn lao cho những ai muốn gặp gỡ và tìm hiểu tất cả các tông phái và giảng sư Phật Giáo để xem giáo lý nào thích hợp với mình”. DD Faulconer, tu sĩ thường trú tại chùa Nichiren ( Nhật Liên Tông thuộc Nhật Bản) nói như thế, ông nói thêm “Và tôi cảm thấy cộng đồng Phật Giáo cần có một mối liên hệ thân hữu như thế này để trở thành vững mạnh hơn”.
Portland có một truyền thống Phật Giáo lâu đời, cám ơn cộng đồng di dân Á Châu. Chùa Oregon Buddhist Temple gần đây đã kỷ niệm 100 năm, chùa Nichiren không bao lâu sẽ kỷ niệm 75 năm.
Tại Portland và xuyên suốt vùng Tây Bắc Thái Bình Dương, Phật Giáo khởi sắc với con số tỷ lệ chuyển sang đạo Phật được coi là khá cao. Trung Tâm Pháp Vũ được thành lập bởi đa số thành viên là người Mỹ gốc Âu vào giữa năm 1980 khi nó tách rời tổ chức chính ở California..
Năm ngoái, Portland tham gia Ngày Chuyển Hóa Tâm lần thứ nhất. Faulconer đã tham dự một chương trình Chuyển Hóa Tâm khác trước kia, và ông nghĩ rằng sắc thái đa dạng của Phật giáo tại Portland có thể áp dụng hình thức đó để mọi tông phái có thể hiểu biết lẫn nhau.
Rất nhiều cộng đồng Phật Giáo đã loại bỏ các hình thức khác của Phật Giáo. Phong trào này có thể giúp ta nhận thức được Ðức Phật đã dạy rất nhiều điều khác nhau.
Năm ngoái, ngày Chuyển Hóa Tâm thu hút vài trăm người. Năm nay, nhà tổ chức hy vọng sẽ thu hút nhiều Phật tử hơn. Một số thành viên tham dự lễ hội sẽ cống hiến các màn khiên vũ truyền thống, kể chuyện và trình diễn âm nhạc. Ông Hoogstra nói “Sự tìm hiểu tất cả các giáo phái và cổ võ sự đa dạng là một việc làm rất Âu Mỹ, tuy nhiên, tôi hy vọng rằng Ngày Chuyển Hóa Tâm có thể trở thành một ngày lễ của Phật Giáo trên toàn cầu”.
--------------------------------------------------------
No. 0348 NEW ( Hạt Cát dịch)
Tu sĩ Tích Lan bắt đầu tuyệt thực phản đối chính phủ hợp tác với đảng đối lập quá khích Tigers
www.chinaview.cn 2005-06-06 23:19:43
COLOMBO, June 6 (Xinhuanet) Tu sĩ đảng Truyền Thống tại Tích Lan bắt đầu một cuộc tuyệt thực đến chết để phản đối Tổng Thống dự định bắt tay thương lượng với đảng đối lập Tiger trong vấn đề phân phối viện trợ Tsunami.
Phát ngôn viên của đảng JHU nói rằng chư tăng sẽ tiếp tục tuyệt thực cho đến chết tại địa điểm gần ngôi chùa lịch sử thờ xá lợi răng ở trung tâm thành phố Kandy cho đến khi nào tổng thống thu hồi ý định hợp tác với đảng đối lập Tiger tại Tamil.
Một nguồn tin từ đảng Truyền Thống JHU cho hay DD Omalpe Sobhita, một trong 9 nghị viên sẽ tuyệt thực đến chết.
Ðảng JHU ra mặt đẩy mạnh áp lực với tổng thống sau chuyến công du từ Ấn Ðộ trở về hồi cuối tuần của tổng thống và bản báo cáo được sự đồng ý của chính phủ Ấn Ðộ về việc hợp tác với Tiger.
Bà Kumaratunga đang đối diện với sự chỉ trích gay gắt mà giới phê bình cho rằng đó là một thái độ phong chức công nhận đảng Tigers.
Ðảng JVP, Nhân Dân Tự Do Tiền Phong, lực lượng liên minh chính của Bà Kumara đã hăm dọa rằng họ sẽ ra khỏi chính phủ nếu Bà Kumaratunga hợp tác với Ðảng Tigers. Tu sĩ đảng Truyền Thống bắt đầu tuyệt thực một ngày sau khi đảng hậu thuẫn JVP đưa ra lời cảnh cáo 48 tiếng thời hạn chót cho chính phủ thu hồi ý định.
Kumaratunga được hậu thuẫn bởi cộng đồng quốc tế ra mặt quyết định đi vào thương lượng nhìn nhận rằng đã có một sự thu xếp hành chính giới hạn trong thời gian một năm trên một khu vực bán kính 2 km miền duyên hải bị tàn phá dưới quyền kiểm soát của đảng Tiger tại phía bắc và phía đông.
--------------------------------------------------
N0. 0347 NEW ( Khánh Văn dịch)
Một tu sĩ Hoa Kỳ đi bộ cho hòa bình
By Kim Ki-tae
Staff Reporter
Đại Ðức Mu Ryang, một tu sĩ Hoa Kỳ đang xây dựng một ngôi chùa theo lối kiến trúc của Đại Hàn trong vùng Mohave Desert ở tiểu bang California, dự định sẽ đi bộ 10 ngày, mỗi ngày 40 cây số (25 miles), băng qua sa mạc để nguyện cầu cho hòa bình. Cuộc đi bộ sẽ bắt đầu vào ngày 25 tháng 6, đánh dấu 55 năm cuộc nội chiến Đại Hàn.
“Từ ngày 25, tháng 6 đến ngày 4 tháng 7, ngày lễ Độc lập ở Hoa kỳ, Tôi sẽ bắt đầu đi bộ để kêu gọi hòa bình cho thế giới.”
Cuộc hành trình này sẽ bắt đầu từ Korea Bell of Friendship ở Los Angeles đi đến Tobongsan Taego-sa Temple, là một ngôi chùa kiến trúc theo kiểu Đại hàn. Đại đức nói "Tôi sẽ đi cùng với vài người bạn , đã từng học chung với tôi.”
Đại đức Mu Ryang đã bước vào hàng tu sĩ Phật giáo năm 1983 dưới sự hướng dẫn của Đại Ðức Seung Sahn, người theo truyền phái thiền tông Đại hàn. Từ đó, Đại đức Mu Ryang tu tập theo hệ phái thiền tông này trong những chùa chiền ở Đại hàn bao gồm luôn Hwagye-sa and Sudok-sa cho đến khi Đại đức sang Hoa kỳ vào năm 1993.
Khánh Văn lượt dịch
Thứ Ba, 7 tháng 6, 2005
Nhật Hành
Ngày: 7 tháng 06 năm 2005
Tri chúng: Duong Tieu
Tri chúngđiền khuyết: Hat Cat
Môn học:
Bài học: Sự Suy Tàn và Phục Hưng Phật Giáo Ấn Độ
Giảng sư chính: Bhante Satyapal
Giảng sư điền khuyết:
Vị Tăng hoặc Ni nói lời cầu nguyện đầu lớp học: DD minh hanh
Xướng ngôn viên cho bài học: Phan1: Dharma 10 đk: .TLN// Hoi Huong va cam ta: Duong Tieu http://baidocmc.blogspot.com/
Xướng ngôn viên cho phần Đố Vui : Sangkhaly
Người mở room: Dieu Quang va mindvox
Người mở nhạc và kinh tụng: Dieu Quang,mindvox , anitya
Người post bài cho Room: Nhu Phuc , mindvox
Người post và gửi bài riêng cho chư Tăng: Nhu Phuc
Trực room (op):
Thông báo (nếu có):
Ngày: 7 tháng 06 năm 2005
Tri chúng: Duong Tieu
Tri chúngđiền khuyết: Hat Cat
Môn học:
Bài học: Sự Suy Tàn và Phục Hưng Phật Giáo Ấn Độ
Giảng sư chính: Bhante Satyapal
Giảng sư điền khuyết:
Vị Tăng hoặc Ni nói lời cầu nguyện đầu lớp học: DD minh hanh
Xướng ngôn viên cho bài học: Phan1: Dharma 10 đk: .TLN// Hoi Huong va cam ta: Duong Tieu http://baidocmc.blogspot.com/
Xướng ngôn viên cho phần Đố Vui : Sangkhaly
Người mở room: Dieu Quang va mindvox
Người mở nhạc và kinh tụng: Dieu Quang,mindvox , anitya
Người post bài cho Room: Nhu Phuc , mindvox
Người post và gửi bài riêng cho chư Tăng: Nhu Phuc
Trực room (op):
Thông báo (nếu có):
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)