Thứ Năm, 2 tháng 6, 2005

Đố Vui Trong Ngày


1. Mệnh đề nào dưới đây đồng nghĩa với : "Tâm giải thoát và tuệ giải thoát"

a. Học pháp và hành pháp

b. Tu phước và tu huệ

c. Đắc thiền và đắc đạo

d. La hán và bồ tát



2. Đặc điểm nào dưới đây phù hợp với định nghĩa về "đắc đạo" theo A Tỳ Đàm

a. Liễu ngộ Niết bàn

b. Đoạn tuyệt phiền não

c. Phát huy tuyệt đỉnh tám chi đạo (chánh kiến, chánh tư duy ...)

d. Gồm cả ba yếu tố trên



3. Nếu làm một sự so sánh chính xác giữa đắc thiền và đắc đạo quả thì:

a. Chủ yếu của thiền là định mà của đạo là tuệ

b. Đắc thiền thì được sanh cõi vào cõi thiền còn đắc đạo thì sanh vào cõi người

c. Thiền định khắc chế phiền não còn đắc đạo thì đoạn tuyệt phiền não

d. Câu A và C đúng


Thảo Luận

1. Tại sao những vị thánh vô lậu vẫn tu tập thiền chỉ?

2. Tại sao định tâm trong "tâm đạo" tối thiểu cũng bằng với sơ thiền trong thiền chỉ?

3. 5 chi thiền có thể đồng sanh hợp lý trong tâm thiền nhưng tại sao 8 chi đạo lại có thể sanh chung trong tâm đạo thí dụ chánh mạng có quan hệ gì đến niết bàn?
Tin Tức

No. 0333 NEW( Hạt Cát dịch)

Khám phá Phật Tháp có thể khiến thôn làng hẻo lánh trở thành địa điểm du lịch hấp dẫn.

Newindpress, May 19 2005

KENDRAPARA, India Mặc dù đang là một địa điểm khảo cổ, Langudi mang một nhãn hiệu ít người biết đến. Tọa lạc tại một địa điểm cách 40 km từ Kendrapara, Langudi là một thôn trang đang ngủ yên với dân cư thưa thớt. Nhưng mọi việc có thể thay đổi bởi những thu lượm phong phú trong công trình khảo cổ mới đây kể cả một Phật tháp và vài tượng Phật trong nhiều tư thế khác nhau.
Langudi đã được đưa lên hàng đầu trên báo chí tám năm trước qua vài sử gia và chuyên gia khảo cổ với địa danh Puspagiri đã được Ngài Huyền Trang mô tả . Nhưng từ đó đã không có nhiều du khách thăm viếng thôn trang hẻo lánh này. Hiện nay thì các chuyên gia khảo cổ dự cảm rằng khu Phật tích tại Langudi có thể trở thành nơi có đầy đủ tiêu chuẩn của một khu du lịch.
Ông Pradhan, một chuyên gia khảo cổ và là thư ký của Viện Nghiên Cứu Hàng Hải và Ðông Nam Á Orissan, Giám Ðốc Qơ Quan Lịch Sử Hàng Hải Ðông Nam Á tiểu bang nói rằng rất nhiều khu vực mới khám phá tại Dharmasala đã xác định bằng chứng sự hiện diện của một nền văn minh Phật Giáo hưng thịnh.
Ông Pradhan nói chánh phủ tiểu bang đã bắt đầu phát triển khu vực với các công trình mở đường và các thiết bị khác để khuyến khích du khách. Gần đây chính quyền trung ương đã thỉnh cầu một trái khoản 5 tỷ đồng Rupee từ chính phủ Nhật Bản để nâng cấp và bảo trì khu Phật tích Orissa.
Khám phá hang động Phật tích tại Neulipur và đồi Langudi có thể khiến khu vực này trở thành một địa điểm du lịch lý tưởng. Hang động ở Langudi hướng về phía nam và và được đục trong núi đá Khondalite trong khi đa số hang động ở Neulipur hình chữ nhật và một vài hang động hình vuông. Một số hang động cũng được tìm thấy ở Bajragiri, Kaema, Deuli, Sarapur và Paikrapur.
Một lũy đài xưa vừa mới được tìm thấy ở Radhanagar có cấu trúc tương tự như lũy đài tại Sisupalagarh gần Bhubenswar. Lũy đài này bị san bằng trong thời gian Kalinga bị chiếm đóng bởi Vua A Dục và có thể đây là một dinh trại của quân đội. Vài học giả đã xác nhận Dantapur, kinh đô xưa của Kalinga là Radhanagar hiện nay. Nhưng ông Pradhan thì còn hoài nghi, ông nhận định rằng khu vực này là một kho bảo tàng của lịch sử đang chờ đợi khám phá. Ông nói thêm” Gần đây chúng tôi đã thỉnh cầu sự trợ giúp của Hội Thạch Bi Văn Ấn Ðộ ở Mysore để giải mã văn tự khắc trên vài hình tượng và tảng đá đã được tìm thấy ở một vài nơi.
--------------------------------------------------

No. 0336 NEW ( Hạt Cát )

Thông điệp Khánh Ðản từ Tổng Thống Tích Lan

Sri Lanka - “Thánh lý Phật Giáo có thể giải tỏa những mối xung đột do con người hiện đại gây nên”. Tổng thống Tích Lan đã nói như trên trong thông điệp Khánh Ðản, bà nói thêm rằng “Chúng ta đang phấn đấu tiến tới một nền hòa bình tốt đẹp mà tất cả tín đồ có thể chấp nhận với bài học bình đẳng được Ðức Phật truyền trao lại cho chúng ta”. Dưới đây là thông điệp của Bà.

“Tôi cầu chúc Phật tử Tích Lan cùng tất cả Phật tử trên thế giới một mùa lễ hội Vesak hạnh phúc an lạc. Nền tảng Phật pháp bình đẳng, từ bi, khoan hòa, cảm thông là một triết lý sống có thể vượt qua biên giới của các tôn giáo. Các cuộc nghiên cứu của khoa học hiện đại cũng đã xác nhận tính chất hợp lý, thánh thiện tối thượng của Phật Giáo, đó cũng là triết lý sống đã dìu dắt Phật tử Tích Lan trong biết bao thời đại.

Thánh lý Phật Giáo có thể giải tỏa xung đột hiện đại do con người gây nên. Sự cao cả của một con người không tùy thuộc vào xuất thân, chủng tộc hoặc tôn giáo hay đẳng cấp xã hội. Rất nhiều quốc gia hiện nay phải đương đầu với sự kỳ thị mà có lẽ nếu chúng ta hành xử theo Phật pháp thì nó đã không có cơ hội gia tăng. Ðức Thế Tôn chính là người đã dạy dỗ chúng ta bài học bình đẳng đầu tiên này.

Thực hành các thánh đế này là chúng ta đang phấn đấu hướng tới một nền hòa bình cao thượng có thể chấp nhận đối với tất cả mọi người trong bình đẳng và hài hòa.

Tôi cũng nhân cơ hội này bày tỏ lòng tiếc thương, tưởng niệm đến hàng ngàn thân nhân của chúng ta đã bỏ mình trong thiên tai Tsunami năm tháng trước. Tôi kêu gọi tất cả Phật tử hãy bố thí, trì giới, hành thiền thanh tịnh tâm ý trước khi nguyện cầu hồi hướng phước lành đến cho hàng ngàn người là nạn nhân của những cuộc bạo động xung đột tôn giáo, đẳng cấp, chủng tộc v.v…

Chúng ta hãy giải quyết những vấn đề này để phục hồi giá trị Phật Giáo và từ đó thiết lập một Tích Lan hòa bình tốt đẹp, chận đứng những hành động phi lý đã bôi nhọ giáo pháp tối thượng Phật giáo và hướng đến đời sống làm một Phật tử chân chính.”
-------------------------------------------------
No. 0342 NEW( Minh Hạnh dịch)

Nhà thờ trở thành ngôi chùa Phật Giáo

Woking News and Mail, UK 26/05/2005
By Philip Skelton, Minh Hạnh dịch

Làng Knaphill trở thành một nơi có ngôi chùa Phật Giáo quốc tế.
Đất đai được dọn sạch sẽ và công trình sửa chữa đang được xúc tiến để biến đổi một ngôi nhà thờ và một nhà quàn của bịnh viện Brookwood trở thành ngôi chùa có văn phòng quản trị. Khi mọi việc xong xuôi, ngôi chùa này sẽ là nơi để học Phật Pháp và thiền định cho người dân Anh và Âu Châu. Có bãi đậu xe mới đi vào từ đường Brushfield Way và cây cảnh quanh chùa sẽ được chỉnh trang lại.
Đây là một trong 16 ngôi chùa Thái tại Anh Quốc để truyền giảng giáo pháp cho trên 30,000 dân Thái và hàng ngàn người Anh ở địa phương, những người ham thích học hỏi về Phật Pháp và thiền định.
Nhóm chuyên viên tu sửa ngôi nhà thờ bỏ phế này là Dhammakaya International Society của Anh quốc. Các hoạt động của hội Phật giáo này là thuyết pháp về giáo ly' của Đức Phật và hướng dẫn các Phật tử hành thiền.
Nhóm người tự nguyện đã bận rộn trong công việc quét dọn ngôi nhà thờ cũ để sẵn sàng cho việc sửa chữa bên trong.
Những hàng ghế dài bên trong nhà thờ thì được gỡ ra và để sàn nhà trống cho thích nghi với con số khách tới viếng thăm và cũng là để dùng làm chỗ để tọa thiền.
Pho`ng trưng bày tranh tượng sắp được xây và một khán đài với tượng Phật Thích Ca được xây tại đằng trước.
Hầu hết những toà nhà và những kiến trúc sẽ được giữ lại trong đó bao gồm những tảng đá to` vo`, những trụ đá và những mái ngói bằng đá to` vo`. Khi công trình tại Knaphill hoàn tất , những buổi lễ Phật và các buổi học thiền sẽ được sinh hoạt bên trong ngôi chùa này.
Ban tổ chức dự trù những sinh hoạt trong các ngày lễ bao gồm tụng kinh cầu nguyện và giảng dậy giáo ly', cúng dường thực phẩm và dâng y. Những vị tăng sĩ, dễ dàng phân biệt trong bộ áo cà sa, sẽ trú ngụ tại trung tâm này. Ngôi nhà thờ này đã ở trong ti`nh trạng hoang phế, bị phá phách, đập đổ từ nhiều năm qua. Khi công trình tu sửa hoàn tất, DISUK hy vọng nó sẽ trở nên một phần của cộng đồng.
Cửa chùa sẽ được mở rộng cho tất cả bá tánh thập phương, ngôi chùa sẽ tổ chức những lớp giảng dậy về thiền, giảng dậy giáo lý cho cộng đồng Phật tử Thái và cho những nhóm người khác ở trong nước Anh và Âu Châu.
Nhật Hành

Ngày: 2 Tháng 06 năm 2005

Tri chúng: Nhu Khanh

Tri chúng điền khuyết: anitya

Môn học: Phật Học Phổ Thông

Bài học: Chúng Sanh Và Các Cảnh Giới


Giảng sư chính: TT Trí Siêu

Giảng sư điền khuyết: Sư Giác Đẳng

Vị Tăng hoặc Ni nói lời cầu nguyện đầu lớp học: DD minh hanh

Xướng ngôn viên cho bài học: Phan1: ....đk: ...// Hoi Huong: Nhu Khanh http://baidocmc.blogspot.com/

Xướng ngôn viên cho phần Đố Vui: Sangkhaly

Xướng ngôn viên điền khuyết:

Người mở room: Diệu Quang va mindvox

Người mở nhạc và kinh tụng: Diệu Quang, mindvox và anitya

Người post bài cho Room: mindvox , anitya, Nhu Phuc

Người post và gửi bài riêng cho chư Tăng: Nhu Phuc

Trực room (op): Nhu Phuc

Thông báo (nếu có):
Chu Tang tra loi cau do vui truoc roi sau do phan thao luan
Phật Pháp Phổ Thông
Giảng sư: TT Trí Siêu

Chúng Sanh Và Các Cảnh Giới


1. Chúng sanh hay loài hữu tình (satta hay pana) trong kinh Phật được hiểu là những sinh vật kết cấu bởi tiến trình luân chuyển của nghiệp, quả và phiền não. Trong một thời điểm nào đó loài hữu tình có thể sanh làm chúng sanh trong cõi vô tưởng (có sắc thân mà không có tâm thức) hoặc sanh vào cõi vô sắc (có tâm thức mà không có xác thân) cả hai đều là kết quả của thiền định ở trình độ cao. Những trạng thái nầy chỉ kéo dài trong một thời gian của kiếp sống đó. Thực vật không được xem là chúng sanh. Chúng sanh do ngã chấp chỉ có thể sanh một thân khác sau thân nầy, cây cỏ trái lại, từ một cây có thể sanh nhiều cây.

2. Do hành động tạo tác hay nghiệp lực loài hữu tình sanh vào cảnh giới tương xứng. Không có một thiên đàng vĩnh cữu cũng chẳng thể một địa ngục đời đời. Sự hiện hữu trong một cảnh giới do quả của nghiệp, khi quả của sanh nghiệp không còn thì đời sống chấm tại cảnh giới đó nhường chỗ cho mãnh lực của một thứ nghiệp khác. Tiến trình sanh tử là một sự quẩn quanh lập đi lập lại nên gọi là samsara hay luân hồi.

3. Nghiệp và quả của nghiệp là một guồng máy cực kỳ phức tạp. Trong một kiếp sống có thể tạo nhiều nghiệp cả thiện lẫn ác. Sự trổ quả của một hạnh nghiệp tùy thuộc vào vào nhiều lý do và có những thứ nhất định có thứ bất định. Một số rất ít chúng sanh có phước hạnh lớn lao có thể hướng cầu tái sanh vào cảnh giới mong muốn nhưng phần đông còn lại thì những bước luân hồi sanh tử là bước chân vô định.

(còn tiếp)


Câu Đố Trắc Nghiệm

Nghe và suy nghiệm một bài thơ nói về Mẹ. Dựa trên tinh thần Phật Pháp trả lời ba câu hỏi: Chúng ta sanh ra để làm gì? Có chăng những "đấng cứu thế"? Mỗi chúng sanh có thể làm được gì đối với số mệnh của mình?


1. Theo tinh thần Phật học thì sự hiện hữu của đời sống có một mục đích cao cả rõ ràng không?

a. Có. Bởi vậy mới có câu sanh được làm người là khó

b. Không. Đời sống do vô minh ái dục tạo thành nên không có gì đáng quí

c. Tùy theo số mạng. Người hữu phước thì đáng sống.

d. Với thiểu số thì có, với đa số thì không



2. Theo Phật học, có chăng những "đấng cứu thế" trên thế gian nầy?

a. Có. Nếu không thì có gì để gọi là niềm hy vọng cho trần gian đau khổ nầy

b. Không. Nếu có thì tại sao ngày nay vẫn còn trần gian thống khổ

c. Lúc nào đấng cứu thế ra đời thì trần gian hết khổ, khi đấng cứu thế

d. Cả ba câu trên đều sai



3. Theo Phật học, chúng ta có thể làm gì với thân phận của mình

a. Phải hoán chuyển tất cả

b. Phải chấp nhận tất cả

c. Có thể đọan tận phiền não

d. Có thể biến trần gian thành tịnh độ

Thứ Tư, 1 tháng 6, 2005

Thảo luận

1. Sự sống nào được gọi là chúng sanh? sự sống nào không phải là một chúng sanh?

2. Tại sao gọi là luân hồi? Tại sao không có thiên đàng và địa ngục đời đời trong đạo Phật?

3. Trong hiện tượng tự nhiên của nghiệp quả có chăng một thức luật gọi là "công bình"? chúng ta nên có thái độ thế nào trước sự chênh lệch trong thế giới nầy?
Nhật Hành

Ngày: 01 Tháng 06 năm 2005

Tri chúng: Gioi Huong

Tri chúngđiền khuyết: Hat Cat

Môn học: Phật Giáo Sử


Bài học: Sự Chào Đời Của Vị Phật Tương Lai


Giảng sư chính:
Sư Giác Đẳng

Giảng sư điền khuyết: Sư Trí Siêu

Vị Tăng hoặc Ni nói lời cầu nguyện đầu lớp học: DD minh hanh

Xướng ngôn viên cho bài học: Phan1:Khanh Van, đk: Nhu Khanh// Hoi Huong: Gioi Huong http://baidocmc.blogspot.com/

Xướng ngôn viên cho tin tức: Sangkhaly,đk: // Chanh Hanh, đk:// Khanh Van, đk:

Người mở room: Diệu Quang va mindvox

Người mở nhạc và kinh tụng: Diệu Quang và anitya

Người post bài cho Room: mindvox
, anitya và Nhu Phuc

Người post và gửi bài riêng cho chư Tăng: Nhu Phuc

Trực room (op): Nhu Phuc

Thông báo (nếu có):
Lịch sử Phật Giáo
Giảng sư: TT Giác Đẳng


Sự Chào Đời Của Vị Phật Tương Lai

Nguyên tác: The Life Of The Buddha - tác giả: Nanamoli - TK Giác Đẳng dịch


Kinh Hy hữu vị tằng hữu pháp
(Acchariya-abbhùtadhamma sutta)


[Phân đoạn kinh văn]


Phân 2a MC đọc

[Duyên sự]

Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn trú ở Savatthi (Xá-vệ), Jetavana (Kỳ-đà-lâm), tại tịnh xá ông Anathapindika (Cấp Cô Ðộc).

Rồi một số rất đông Tỷ-kheo, sau buổi ăn, sau khi đi khất thực về, đang ngồi tụ họp trong thị giả đường (upatthanasala), câu chuyện này được khởi lên giữa chúng Tăng:

"Thật hy hữu thay chư Hiền! Thật vị tằng hữu thay chư Hiền, là đại thần thông lực, đại uy lực của Như Lai! Vì Ngài biết được chư Phật quá khứ, đã nhập Niết-bàn, đã đoạn các hý luận, đã đoạn các chướng đạo, đã chấm dứt luân hồi, đã thoát ly mọi khổ: "Chư Thế Tôn ấy sanh tánh như vậy, danh tánh như vậy, tộc tánh như vậy, giới hạnh như vậy, pháp hạnh như vậy, tuệ hạnh như vậy, trú hạnh như vậy, chư Thế Tôn ấy giải thoát như vậy".


Khi được nghe nói như vậy, Tôn giả Ananda nói với các Tỷ-kheo ấy: "Thật hy hữu thay chư Hiền, Như Lai được đầy đủ các pháp hy hữu! Thật vị tằng hữu thay chư Hiền, Như Lai được đầy đủ các pháp vị tằng hữu!"

Và câu chuyện giữa các Tỷ-kheo ấy bị gián đoạn. Rồi Thế Tôn vào buổi chiều, từ Thiền tịnh độc cư đứng dậy, đi đến thị giả đường, sau khi đến, ngồi trên chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:

-- Này các Tỷ-kheo, nay các Ông ngồi nói chuyện gì? Câu chuyện gì giữa các Ông bị gián đoạn?

-- Ở đây, bạch Thế Tôn, chúng con sau buổi ăn, sau khi đi khất thực trở về, chúng con ngồi tụ họp tại thị giả đường, câu chuyện sau đây được khởi lên: "Hy hữu thay, chư Hiền! ... chư Thế Tôn ấy được giải thoát như vậy". Khi được nghe nói vậy, bạch Thế Tôn, Tôn giả Ananda nói với chúng con như sau: "Thật hy hữu thay... Như Lai được đầy đủ các pháp hy hữu! Thật vị tằng hữu thay... Như Lai được đầy đủ các pháp vị tằng hữu!" Câu chuyện này giữa chúng con, bạch Thế Tôn, bị gián đoạn. Rồi Thế Tôn đến.

Thế Tôn bảo Tôn giả Ananda:

-- Do vậy, này Ananda, hãy nói lên nhiều nữa, những đặc tánh hy hữu, vị tằng hữu của Như Lai.

Giảng sư quảng diễn

Phân 2 bMC đọc

[An trú chánh niệm trong kiếp áp chót tại Đâu Suất]

-- Bạch Thế Tôn, con tận mặt nghe, con tận mặt ghi nhớ từ Thế Tôn: "Chánh niệm tỉnh giác, này Ananda, Bồ-tát sanh trong Thiên chúng (Kaya) Tusita". Vì rằng, bạch Thế Tôn, chánh niệm tỉnh giác, Bồ-tát sanh trong Thiên chúng Tusita, con thọ trì sự việc này, bạch Thế Tôn, là một hy hữu, một vị tằng hữu của Thế Tôn.

Bạch Thế Tôn, con tận mặt nghe, con tận mặt ghi nhớ từ Thế Tôn: "Chánh niệm tỉnh giác, này Ananda, Bồ-tát an trú trong Thiên chúng Tusita". Vì rằng, bạch Thế Tôn, chánh niệm tỉnh giác, Bồ-tát an trú trong Thiên chúng Tusita, con thọ trì sự việc này, bạch Thế Tôn, là một hy hữu, một vị tằng hữu của Thế Tôn.

Bạch Thế Tôn, con tận mặt nghe, con tận mặt ghi nhớ từ Thế Tôn: "Chánh niệm tỉnh giác, này Ananda, Bồ-tát an trú tại Thiên chúng Tusita cho đến trọn thọ mạng". Vì rằng, bạch Thế Tôn, chánh niệm tỉnh giác, Bồ-tát an trú tại Thiên chúng Tusita cho đến trọn thọ mạng, con thọ trì sự việc này, bạch Thế Tôn, là một hy hữu, một vị tằng hữu của Thế Tôn.

Bạch Thế Tôn, con tận mặt nghe, con tận mặt ghi nhớ từ Thế Tôn: "Chánh niệm tỉnh giác này Ananda, Bồ-tát sau khi từ Thiên chúng Tusita mạng chung, nhập vào mẫu thai". Vì rằng, bạch Thế Tôn, chánh niệm tỉnh giác, Bồ-tát sau khi từ Thiên chúng Tusita mạng chung, nhập vào mẫu thai, con thọ trì sự việc này, bạch Thế Tôn, là một hy hữu, một vị tằng hữu của Thế Tôn.

Giảng sư quảng diễn

Phân 2c MC đọc


Bạch Thế Tôn, con tận mặt nghe, con tận mặt ghi nhớ từ Thế Tôn: "Khi Bồ-tát nhập vào mẫu thai, này Ananda, khi ấy một hào quang vô lượng, thần diệu, thắng xa oai lực của chư Thiên hiện ra cùng khắp thế giới, gồm có các thế giới ở trên chư Thiên, thế giới của các Ma vương và Phạm thiên và thế giới ở dưới gồm các vị Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người. Cho đến các thế giới ở giữa các thế giới, tối tăm, u ám không có nền tảng, những cảnh giới mà mặt trăng mặt trời với đại thần lực, với đại oai lực như vậy cũng không thể chiếu thấu, trong những cảnh giới ấy, một hào quang vô lượng, thắng xa oai lực của chư Thiên hiện ra. Và các chúng sanh sống tại những chỗ ấy nhờ hào quang ấy mới thấy nhau và nói: "Cũng có những chúng sanh khác sống ở đây". Và mười ngàn thế giới này chuyển động, rung động, chuyển động mạnh. Và hào quang vô lượng, thần diệu, thắng xa oai lực của chư Thiên hiện ra ở thế giới. Vì rằng, bạch Thế Tôn, con thọ trì sự việc này, bạch Thế Tôn, là một hy hữu, một vị tằng hữu của Thế Tôn".

Bạch Thế Tôn, con tận mặt nghe, con tận mặt ghi nhớ từ Thế Tôn: "Khi Bồ-tát nhập mẫu thai, này Ananda, bốn vị Thiên tử đến canh gác bốn phương trời và nói: "Không cho một ai, người hay không phải loài người được phiền nhiễu Bồ-tát, hay mẹ vị Bồ-tát". Vì rằng, bạch Thế Tôn, con thọ trì sự việc này, bạch Thế Tôn, là một hy hữu, một vị tằng hữu của Thế Tôn".

Giảng sư quảng diễn

Phân 2d MC đọc

Bạch Thế Tôn, con tận mặt nghe, con tận mặt ghi nhớ từ Thế Tôn: "Khi Bồ-tát nhập mẫu thai, này Ananda, mẹ Bồ-tát giữ giới một cách hồn nhiên, không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói láo, không uống các thứ rượu nấu, rượu lên chất men". Vì rằng, bạch Thế Tôn, con thọ trì sự việc này, bạch Thế Tôn, là một hy hữu, một vị tằng hữu của Thế Tôn.

Bạch Thế Tôn, con tận mặt nghe, con tận mặt ghi nhớ từ Thế Tôn: "Khi Bồ-tát nhập mẫu thai, này Ananda, mẹ Bồ-tát không khởi dục tâm đối với một nam nhân nào, và mẹ Bồ-tát không bị xâm phạm bởi bất kỳ người đàn ông nào có nhiễm tâm". Vì rằng, bạch Thế Tôn, con thọ trì sự việc này, bạch Thế Tôn, là một hy hữu, một vị tằng hữu của Thế Tôn.

Bạch Thế Tôn, con tận mặt nghe, con tận mặt ghi nhớ từ Thế Tôn: "Khi Bồ-tát nhập mẫu thai, này Ananda, mẹ vị Bồ-tát tận hưởng năm dục công đức đầy đủ, tận hưởng trọn năm dục công đức". Vì rằng, bạch Thế Tôn, con thọ trì sự việc này, bạch Thế Tôn, là một hy hữu, một vị tằng hữu của Thế Tôn.

Bạch Thế Tôn, con tận mặt nghe, con tận mặt ghi nhớ từ Thế Tôn: "Khi Bồ-tát nhập mẫu thai, này Ananda, mẹ Bồ-tát không bị một bệnh tật gì. Bà sống với tâm hoan hỷ, với tâm khoan khoái. Bà thấy trong bào thai của mình vị Bồ-tát đầy đủ mọi bộ phận và chân tay. Này Ananda, ví như viên ngọc lưu ly, thanh tịnh, thuần nhất, có tám cạnh, khéo cắt, khéo dũa, trong sáng, không tỳ vết, hoàn hảo trong mọi phương diện. Rồi một sợi dây được xâu qua viên ngọc ấy, dây màu xanh, màu vàng, màu đỏ, màu trắng hay màu vàng lợt. Nếu có người có mắt để viên ngọc trên bàn tay của mình, người ấy sẽ thấy rõ ràng: "Ðây là viên ngọc lưu ly, thanh tịnh, thuần nhất, có tám cạnh, khéo cắt, khéo dũa, trong sáng, không tỳ vết, hoàn hảo trong mọi phương diện. Ðây là sợi dây xâu qua, sợi dây màu xanh, màu vàng, màu đỏ, màu trắng hay màu vàng lợt". Cũng vậy, này Ananda, khi Bồ-tát nhập mẫu thai, mẹ Bồ-tát không bị một bệnh tật gì. Bà sống với tâm hoan hỷ, với tâm khoan khoái. Bà thấy trong bào thai của mình vị Bồ-tát đầy đủ bộ phận và chân tay". Vì rằng, bạch Thế Tôn, con thọ trì sự việc này, bạch Thế Tôn, là một hy hữu, một vị tằng hữu của Thế Tôn.

Giảng sư quảng diễn

Phân 2e MC đọc

Bạch Thế Tôn con tận mặt nghe, con tận mặt ghi nhớ từ Thế Tôn: "Sau khi sanh Bồ-tát bảy ngày, này Ananda, mẹ Bồ-tát mệnh chung và sanh lên cõi trời Ðâu suất". Vì rằng, bạch Thế Tôn, con thọ trì sự việc này, bạch Thế Tôn, là một hy hữu, một vị tằng hữu của Thế Tôn.

Bạch Thế Tôn, con tận mặt nghe, con tận mặt ghi nhớ từ Thế Tôn: "Trong khi các người đàn bà khác, này Ananda, mang bầu thai trong bụng chín tháng hay mười tháng rồi mới sanh, mẹ Bồ-tát sanh Bồ-tát không phải như vậy. Mẹ Bồ-tát mang Bồ-tát trong bụng mười tháng rồi mới sanh". Vì rằng, bạch Thế Tôn, con thọ trì sự việc này, bạch Thế Tôn, là một hy hữu, một vị tằng hữu của Thế Tôn.

Bạch Thế Tôn, con tận mặt nghe, con tận mặt ghi nhớ từ Thế Tôn: "Trong khi các người đàn bà khác, này Ananda, hoặc ngồi hoặc nằm mà sanh con, mẹ vị Bồ-tát sanh Bồ- tát không phải như vậy. Mẹ Bồ-tát đứng mà sanh Bồ-tát". Vì rằng, bạch Thế Tôn, con thọ trì sự việc này, bạch Thế Tôn, là một hy hữu, một vị tằng hữu của Thế Tôn.

Giảng sư quảng diễn

Phân 2f MC đọc

Bạch Thế Tôn, con tận mặt nghe, con tận mặt ghi nhớ từ Thế Tôn: "Khi Bồ-tát từ bụng mẹ sanh ra, này Ananda, chư Thiên đỡ lấy Ngài trước, sau mới đến loài người". Vì rằng, bạch Thế Tôn, con thọ trì sự việc này, bạch Thế Tôn, là một hy hữu, một vị tằng hữu của Thế Tôn.

Bạch Thế Tôn, con tận mặt nghe, con tận mặt ghi nhớ từ Thế Tôn: "Khi Bồ-tát từ bụng mẹ sanh ra, này Ananda, Bồ-tát không đụng đến đất. Có bốn Thiên tử đỡ lấy Ngài, đặt Ngài trước bà mẹ và thưa: "Hoàng hậu hãy hoan hỷ! Hoàng Hậu sanh một bậc vĩ nhân". Vì rằng, bạch Thế Tôn, con thọ trì sự việc này, bạch Thế Tôn, là một hy hữu, một vị tằng hữu của Thế Tôn.

Bạch Thế Tôn, con tận mặt nghe, con tận mặt ghi nhớ từ Thế Tôn: "Khi Bồ-tát từ bụng mẹ sanh ra, này Ananda, Ngài sanh ra thanh tịnh, không bị nhiễm ô bởi nước nhớt nào, không bị nhiễm ô bởi loại mủ nào, không bị nhiễm ô bởi loại máu nào, không bị nhiễm ô bởi bất cứ vật bất tịnh nào, thanh tịnh, trong sạch. Này Ananda, ví như một viên ngọc ma-ni bảo châu đặt trên một tấm vải Ba-la-nại. Viên ngọc không làm nhiễm ô tấm vải Ba-la-nại, tấm vải Ba-la-nai cũng không làm nhiễm ô hòn ngọc. Vì sao vậy? Vì cả hai đều thanh tịnh. Cũng vậy, này Ananda, khi Bồ-tát từ bụng mẹ sanh ra, Ngài sanh ra thanh tịnh, không bị nhiễm ô bởi nước nhớt nào, không bị nhiễm ô bởi loại mủ nào, không bị nhiễm ô bởi loại máu nào, không bị nhiễm ô bởi bất cứ vật bất tịnh nào, thanh tịnh, trong sạch". Vì rằng, bạch Thế Tôn, con thọ trì sự việc này, bạch Thế Tôn, là một hy hữu, một vị tằng hữu của Thế Tôn.

Giảng sư quảng diễn

Phân 2g MC đọc

Bạch Thế Tôn, con tận mặt nghe, con tận mặt ghi nhớ từ Thế Tôn: "Khi Bồ-tát từ bụng mẹ sanh ra, này Ananda, hai dòng nước từ hư không hiện ra, một dòng lạnh, một dòng nóng. Hai dòng nước ấy tắm rửa sạch sẽ cho Bồ-tát và cho bà mẹ". Vì rằng, bạch Thế Tôn, con thọ trì sự việc này, bạch Thế Tôn, là một hy hữu, một vị tằng hữu của Thế Tôn.

Bạch Thế Tôn, con tận mặt nghe, con tận mặt ghi nhớ từ Thế Tôn: "Bồ-tát khi sanh ra, này Ananda, Ngài đứng vững, thăng bằng trên hai chân, mặt hướng phía Bắc, bước đi bảy bước, một lọng trắng được che lên. Ngài nhìn khắp cả mọi phương, lên tiếng như con ngưu vương, thốt ra lời như sau: "Ta là bậc tối thượng ở trên đời! Ta là bậc tối tôn ở trên đời! Ta là bậc cao nhất ở trên đời! Nay là đời sống cuối cùng, không còn phải tái sanh ở đời này nữa". Vì rằng, bạch Thế Tôn, con thọ trì sự việc này, bạch Thế Tôn, là một hy hữu, một vị tằng hữu của Thế Tôn.

Giảng sư quảng diễn

Phân 2h MC đọc

Bạch Thế Tôn, con tận mặt nghe, con tận mặt ghi nhớ từ Thế Tôn: "Khi Bồ-tát từ bụng mẹ sanh ra, này Ananda, khi ấy một hào quang vô lượng thần diệu, thắng xa oai lực của chư Thiên, hiện ra cùng khắp thế giới, gồm có các thế giới trên chư Thiên, thế giới của các Ma vương và Phạm thiên, và thế giới ở dưới gồm các Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người. Cho đến các cảnh giới giữa các thế giới, tối tăm, u ám, không có nền tảng, những cảnh giới mà mặt trăng mặt trời với đại thần lực, đại oai lực như vậy cũng không thể chiếu thấu, trong những cảnh giới ấy một hào quang vô lượng, thắng xa oai lực chư Thiên hiện ra. Và các chúng sanh sống tại các chỗ ấy, nhờ hào quang ấy mới thấy nhau mà nói: "Cũng có những chúng sanh khác sống ở đây". Và mười ngàn thế giới này chuyển động, rung động, chuyển động mạnh. Và hào quang vô lượng thần diệu, thắng xa oai lực của chư Thiên hiện ra ở thế giới. Vì rằng, bạch Thế Tôn, con thọ trì sự việc này, bạch Thế Tôn là một hy hữu, một vị tằng hữu của Thế Tôn.

-- Do vậy, này Ananda, hãy thọ trì sự việc này là một hy hữu, một vị tằng hữu của Như Lai. Ở đây, này Ananda, các cảm thọ khởi lên nơi Thế Tôn được biết đến; được biết đến, chúng an trú; được biết đến, chúng đi đến biến hoại; các tưởng được biết đến; các tầm khởi lên được biết đến; được biết đến, chúng an trú; được biết đến, chúng đi đến biến hoại. Này Ananda, hãy thọ trì việc này là một hy hữu, một vị tằng hữu của Như Lai.

-- Vì rằng, bạch Thế Tôn, các cảm thọ khởi lên nơi Thế Tôn được biết đến; được biết đến, chúng an trú; được biết đến, chúng đi đến biến hoại; các tưởng được biết đến; các tầm khởi lên được biết đến; được biết đến, chúng an trú; được biết đến, chúng đi đến biến hoại. Bạch Thế Tôn, con thọ trì sự việc này là một hy hữu, một vị tằng hữu của Như Lai.

Tôn giả Ananda nói như vậy. Bậc Ðạo Sư chấp nhận. Các Tỷ-kheo hoan hỷ tín thọ lời Tôn giả Ananda nói.

Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt

Tin Tức

No. 0331 NEW ( Chánh Hạnh dịch)

Thái Lan hướng tới việc trở thành trung tâm Phật giáo thế giới.

BANGKOK (Thailand) -Bắt đầu từ con số khiêm nhường ở Nepal, Đạo Phật hiện nay đã lan rộng và trở thành một tôn giáo lớn mạnh ở Châu Á có khả năng lan rộng toàn cầu được Liên Hiệp Quốc thừa nhận và công bố Visakha Bucha, ngày mà Phật tử khắp nơi trên thế giới kính mừng Phật Đản, Thành Ðạo và Niết Bàn, là một ngày lễ quan trọng quốc tế.
Ngày nay, nếu chính phủ Thái thực hiện được đường lối họ chủ trương, chú trọng vào đạo Phật như là một sức mạnh toàn cầu, có thể khiến Thái Lan trở thành một trung tâm Phật giáo thế giới.

Ðược chọn lựa làm quốc gia chủ tọa lễ kỷ niệm Visakha Bucha trên toàn cầu năm nay, Thái lan hy vọng sẽ tăng số người ngoại quốc đến Thái Lan tầm cầu giáo pháp.

Với mục đích phát triển quốc tế hóa tín ngưỡng của chính phủ Thailan, một buổi họp tại Buddhamonthon, đã được tổ chức, để các vị lãnh đạo tín đồ Phật Giáo của cả hai tông phái truyền thống Mahayana và Theravada, từ 41 quốc gia, đến thảo luận các phương thức đạo Phật có thể thực hiện để mang lại lợi lạc cho xã hội và thế giới.

Những diễn giả trong buổi hội thảo bao gồm đại diện của Vua Sãi Thái Lan, viện trưởng Ðại Học Phật Giáo Thailan và các vị lãnh đạo Phật giáo từ Trung Quốc, Sri Lanka và Campuchia
Theo Tiến Sĩ Chakratham Thammasak, giám đốc văn phòng Phật giáo, Thailan bây giờ đã chuẩn bị đầy đủ để trở thành trung tâm Phật giáo toàn cầu.
Một đất nước hòa bình so sánh với vài quốc gia Phật giáo láng giềng, Thailan kiêu hãnh là một vương quốc Phật giáo với Phật Pháp được ủng hộ và xúc tiến đẩy mạnh như một phần của chính sách quốc gia.
Tiến Sĩ Chakratham, cùng với chính phủ hy vọng rằng Thailan cố gắng trở thành trung tâm tín ngưỡng thế giới không phải chỉ mong thấy được sự gia tăng con số người nước ngoài đến vương quốc cho các hoạt động tôn giáo, mà còn đẩy mạnh niềm hãnh diện của công dân Thailan và khuyến khích thế hệ trẻ hoan hỷ đến với đạo Phật.
_________________________________________

No. 0330 NEW(Hạt Cát dịch)

Ni giới Thái Lan nỗ lực phục hồi ni đòan

BANGKOK : Trong tuần lễ Phật Ðản vừa qua, một nhóm tu nữ Thái Lan đã thách thức giới hữu trách Phật giáo bởi nỗ lực phục hồi Ni đoàn.

Người lãnh đạo nhóm này là Ni Sư Dhammanada, người đã thọ giới hai năm trước với một tỳ kheo ni Tích Lan để trở thành một tỳ kheo ni trong truyền thống Nguyên Thủy.

Ni Ðoàn Tỳ Khưu được Ðức Phật cho phép thành lập nhân dịp bà Di Mẫu Kiều Ðàm Di xin xuất gia đã chấm dứt hoạt động tám thế kỷ về trước và gần đây được phục hồi tại Tích Lan.
Ðó là một vấn đề mà ni giới Thái đang nỗ lực vượt qua để làm gương và có thể trở thành một hành giả lãnh đạo tâm linh.

Sư Cô Dhammananda nói "Chúng tôi chưa bao giờ có được một ni sư nào đảm nhận vai trò hướng dẫn tâm linh nên chúng tôi phải luôn luôn nhờ cậy vào chư tăng tỳ kheo nhưng tỳ kheo không thể làm một khuôn mẫu cho tỳ kheo ni, ni giới chúng tôi cần phụ nữ trong vai trò gương mẫu. Nhưng đề xướng của ni sư Dhammananda không được giới hữu trách tôn giáo Thái Lan nhìn nhận, họ chỉ nhìn nhận chư tỳ kheo tăng .

Theo truyền thống, địa vị của nữ giới trong Phật Giáo Thái Lan thấp kém hơn nam giới.
Ni sư Dhammananda nói rằng điều này khiến ni giới tự ti mặc cảm. Ni sư nói “ Ni chúng luôn luôn cầu nguyện rằng kiếp sống tới được làm thân người nam” vì người ta cho rằng không bao có thể giác ngộ đạo quả với thân người nữ.

Giới hữu trách tôn giáo Thái Lan nói rằng Ni đoàn trong hệ phái Nguyên Thủy đã chấm dứt và không bao giờ có thể phục hồi.
Sư Sripariyattimoli, thuộc Văn phòng Bảo vệ Phật giáo nói rằng nếu có thay đổi, người ta phải chỉnh đốn rất nhiều thứ.
Sư nói nếu thay đổi, hệ phái Nguyên Thủy có thể sẽ trở thành giống như Phật Giáo phát triển và sẽ dẫn tới thay đổi nhiều thứ khác, kể cả việc chư tỳ kheo có thể lập gia đình có vợ con.

Các nhà phê bình cho rằng nữ giới muốn sống với cuộc đời một nhà tu thì chỉ đơn giản trở thành tu nữ. Tuy nhiên, những người ủng hộ Ni sư đã tranh luận về việc không cho phép ni đoàn phục hồi, giới hữu trách tôn giáo đã gửi thông điệp đến ni giới nói rằng Phật giáo không thích hợp với họ. Và họ hỏi rằng như thế giới hữu trách đã đặt phụ nữ Thái vào địa vị nào?
Ni sư Dhammananda nói “ Tại sao cánh cửa cho phụ nữ được tu học bị khóa kín mà cánh cửa cho phụ nữ đi vào thanh lâu rộng mở?”

Nếu chúng ta mở cửa cho phụ nữ được thọ giới tỳ khưu ni sẽ nâng cao danh vị của phụ nữ. Mục đích của ni sư là thành lập một Ni đoàn và tu viện không giống bất cứ tu viện hiện thời nào tại Thái Lan, một tu viện nơi mà ni chúng có thể vân tập một cách tự do.


No. 0335 NEW ( Tinh Tấn dịch)

Tu Viện Phật Giáo lớn nhất thế giới

Bài viết bởi cô Dianne M. Villafuerte, Phillipine Daily Inquirer News Service,
Ngày 20 tháng 5, năm 2005

Không, không phải Lara Croft cũng không phải Indiana Jones đã hiện diện trong câu chuyện này. Tường thuật trên là điều thật sự xảy ra khi Tu Viện Borobudur được phát hiện lại do Ông Thomas Standford Raffles.


Jogjakarta, Java (Indonesia) – Dư luận đã thấu đến Thống Đốc Anh Quốc ở Java về một tu viện cổ xưa đã bị chôn vùi sâu trong khoảng trung tâm hòn đảo. Vận động bí mật, ông ra lệnh cho một đội thám hiểm điều tra sự việc. Những tuần lễ sau, không đề cập đến sự huyền bí, một tu viện lịch sử linh thiêng và tráng lệ đã được tiết lộ.

Tu Viện Hùng Vĩ
Năm 1814, Thống Đốc Anh Quốc ở Java đã phái một đội nghiên cứu để thẩm tra các tường trình của một tu viện hùng vĩ tọa lạc tại trung tâm hòn đảo của Java. Suốt sáu tuần lễ, một đội gồm 200 nhân công thu dọn bùn đất, tro núi lửa, và cây cối đã chôn lấp nơi tôn nghiêm, sự khai quật đã tìm được một di tích danh tiếng nhất mà ngành khảo cổ khám phá ra ở kỷ nguyên hiện đại.

Tu viện Phật giáo lớn nhất thế giới, Tu Viện Borobudur có thể được tìm thấy gần Yogyakarta, Trung Tâm Java, Nam Dương.

Được xây dựng vào khoảng giữa năm 750 và năm 842 sau Tây Lịch bởi Sanmaratungga, tu viện có kích thước 60,000 mét khối với chiều cao 34.5 mét và nền đo được 123 mét chiều dài và 123 mét rộng. Ngôi Tu Viện này được xây dựng trong ba tầng lầu: một trụ hình chóp với năm dãy nhà hình vuông đồng tâm, thân trụ hình nón với ba diễn đàn tròn và một ngôi bảo tháp hay một phòng hình chuông.

Tổng số 1,460 tấm ngăn với mỗi tấm rộng 2 mét. Tu Viện này có nhiều chạm trổ nổi bật, với 1,212 tấm ngăn được chạm trổ những câu chuyện dân gian. Tổng số có 504 Kim Thân Phật còn nguyên vẹn hay hư hoại, theo sự khảo cứu.

Một thời là địa điểm chính

Tu Viện Borobudur đã một thời là địa điểm chính cho Phật tử hành hương và hơn một thế kỷ sau khi Tu Viện đã được hoàn thành, Borobudur là một Tu Viện Phật Giáo quan trọng nhất thế giới. Tuy nhiên, sự việc này đã thay đổi khi mà thế lực chính trị và tôn giáo không còn ở vùng này sau cuối triều đại Mataram. Ông Raffles đã đưa Borobudur nổi bật trở lại sau những thế kỷ bị sao lãng, khởi động một dự án lớn lao về thu dọn và tái thiết.

Người ta khó có thể tưởng tượng đến sự thử thách như thế nào để cứu vãn Tu Viện Borobudur. Bản tường trình mô tả một khu vực rộng lớn của Tu Viện đã bị phá hủy và được trùng tu lại. Các nhân công đã phải dời đi một triệu khối đá riêng biệt, liệt kê từng khối đá trên máy điện toán, lau chùi, rồi đặt các khối đá trở lại theo đúng thứ tự chính xác. Làm thế nào để công việc tái thiết này được thành tựu?

Tu Viện Borobudur là một trong bảy kỳ quan thế giới và là một công trình tái thiết cuối cùng được hoàn thành từ năm 1973 đến năm 1983 với sự giúp đỡ của Unesco.