Thứ Ba, 3 tháng 5, 2005

Nhật Hành

Ngày: 3 Tháng 05 năm 2005

Tri chúng: Duong Tieu

Tri chúngđiền khuyết: Hat Cat

Môn học: Phật Học Cơ Bản

Bài học: B. What is a Great Loss? / Sự Mất Mát Nào Mới Lớn Lao?

Giảng sư chính: SC Liễu Pháp

Giảng sư điền khuyết: Sư Giác Đẳng

Vị Tăng hoặc Ni nói lời cầu nguyện đầu lớp học: su Minh Hanh lam le tam Bao

Xướng ngôn viên cho bài học: TieuLongNu, Dharma 10, Khánh Văn http://baidocmc.blogspot.com/

Xướng ngôn viên cho tin tức: Nguon Duc Hanh (.....),Hạt Cát (....), NhưTrúc (.....)

Xướng ngôn viên điền khuyết: Dharma 10,Nguồn Đức Hạnh, DươngTiêu, Hạt Cát , Anyta

Người mở room: Diệu Quang, Mindvox

Người mở nhạc và kinh tụng: Diệu Quang, Anitya, DươngTiêu

Người post bài cho Room: Mindvox , Nhu Phuc , Anitya

Người pm và gửi bài cho chư Tăng: Nhu Phuc

Trực room (op): Nhu Phuc, Dharma 10

Thông báo (nếu có): su Minh Hanh lam le tam Bao, bai doc cua MC moi, room BDH moi
Lớp Phật Học Cơ Bản
Chương III: Morality / Đạo Đức
3.4 Necessity of Precepts / Sự cần thiết của những Giới Luật

B. What is a Great Loss? / Sự Mất Mát Nào Mới Lớn Lao?


Dẫn Nhập:
Trong sự liên tục đổi dời của kiếp nhân sinh, người ta thường cố gắng đầu tư, bám víu, xây dựng những cái mà mình tin là quan trọng nhất trong đời. Phật ngôn duói đây hướng tầm nhìn xa hơn về những mất mát có hệ quả lớn hơn những thức khác, Không May, sự nhận thức của chúng sanh thường là hoàn toàn trái lại.


Chánh Kinh:

Five kinds of loss -
Loss of relatives, wealth, health, morality and right view.

No beings fall into an evil state, a hell-state...after death because of loss of relatives, wealth or health; but beings do fall into such states by loss of morality and right view.
-D.III: 235
Năm thứ mất mát là:Mất mát quyến thuộc, tài sản, sức khoẻ, giới hạnh và chánh kiến.
Không một loài hữu tình nào sanh và ác thú, khổ cảnh sau khi mạng chu vì mất mát thân quyến, tài sảnh hay sức khoẻ. Nhưng chúng sanh sanh vào cảnh với đó do mất mát giới hạnh và chánh kiến.
Kinh Trường Bộ III: 235


Thảo Luận:
1. Để có được chánh kiến, có cần phải có kiến văn quảng bác không?
2. Phải chăng trong kiếp tử sanh, mỗi lần mạng chung là tất cả đều mất hết?
3. Có cách gì để sống đời hiền thiện với chánh kiến trong những kiếp sống không gặp Phật Pháp?
Đố Vui Trong Ngày

Sẽ được thông báo vào cuối lớp học (chương trình đặc biệt)

Thứ Hai, 2 tháng 5, 2005

Nhật Hành

Ngày: 2 Tháng 05 năm 2005

Tri chúng: Anitya

Tri chúngđiền khuyết: Hạt Cát

Môn học: Nghi Thức Tụng Niệm

Bài học: Bài 2. Lễ Phật

Giảng sư chính: Sư Pháp Đăng

Giảng sư điền khuyết: Sư Giác Đẳng

Vị Tăng hoặc Ni nói lời cầu nguyện đầu lớp học: su Minh Hanh lam le tam Bao

Xướng ngôn viên cho bài học: Duong Tieu ,Dharma10, SC Lieu Phap http://baidocmc.blogspot.com/

Xướng ngôn viên cho tin tức: Nhu Truc (287),Nguon Duc Hanh (298),Gioi Huong(300)

Xướng ngôn viên điền khuyết: Khanh Van ,Nhu Phuc ,Hat Cat,SC Lieu Phap

Người mở room: Diệu Quang, Mindvox

Người mở nhạc và kinh tụng: Diệu Quang, Anitya, Nhu Phuc

Người post bài cho Room: Hạt Cát, Mindvox , Nhu Phuc

Người pm và gửi bài cho chư Tăng: Nhu Phuc

Trực room (op): Hat Cat , Nhu Phuc

Thông báo (nếu có): su Minh Hanh lam le tam Bao, bai doc cua MC moi, room BDH moi
Lớp học Nghi Thức Tụng Niệm

Bài 2. Lễ Phật

Đức Phật là hình ảnh cao quí nhất mà người Phật tử lễ bái hằng ngày. Phật là bậc đạo sư, là bậc pháp vương, bậc đại bi, đại đức. Trong truyền thống Phật giáo Nguyên thủy thì về cả ba phương diện tuệ giác, uy đức và bi mẫn không có sự khác biệt giữa chư Phật toàn giác. Do vậy hình ảnh của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni biểu trưng cho toàn thể chư Phật. Từ đó lễ Phật, niệm Phật là sự quy hướng, xưng tán ân đức của chư Phật như ứng cúng, chánh biến tri, minh hạnh túc ... hơn là niệm chuyên biệt hồng danh của vi Phật nào. (Như Phật Di Đà, Dược Sư..)


2.1 Cung kính. Việc lễ bái thường được bắt đầu bằng sự thể hiện lòng cung kính với cử chỉ lễ lạy. Người Phật tử thuần thành lạy Phật với trọn vẹn tâm tư qua tư cách khoan thai, trầm tĩnh. Cung kính là môt trong mười phước hạnh (punnakiriyavatthu), nói lên sự quy ngưỡng giá trị cao quí đồng thời cũng là phương pháp tốt để giảm thiểu sự kiêu mạn tự tâm.

2.2 Cúng dường. Được kể là nằm trong hạnh bố thí cũng là một trong mười phước hạnh. Phần đông cúng dường những lễ phẩm tinh khiết như hương, đăng, hoa, quả. Một vài quốc gia Phật giáo, như Tích Lan, người Phật tử cũng cúng dường thực phẩm đến Đức Phật như lúc Đức Thế Tôn còn trụ thế. Sự cúng dường nói lên thái độ quan tâm nghiêm túc trong việc thờ phượng Đức Phật. Hình thức cúng dường đèn, hoa được tìm thấy trong các bài kinh trong Tam Tạng trong lúc trái cây được xem là thực phấm còn thắp hương thì mang nặng tính tôn giáo hơn. Ngày nay tại một số quốc gia, việc thắp hương có ít nhiều bất tiện. Lễ phẩm không nên là điều câu chấp.

2.3 Xưng tán. Đây là phần được khai triển rộng rãi nhất qua các bản kinh văn tụng niệm. Bài kinh xưng tán quen thuộc nhất trong tam tạng kinh điển là bài: "Namo tassa bhagavato arahato sammasambuddhassa" có nghĩa là "đãnh lễ Ngài, đức Thế tôn, bậc Ứng cúng, đấng
Chánh biến tri. Được dịch thoát với kệ tụng:

Cúi đầu đãnh lễ đấng Từ Tôn

Bậc Chánh biến tri, đáng cúng dường

Con nguyện thân tâm thường thanh tịnh

Làm lành lánh dữ lợi quần sanh


(Hai câu sau được thêm vào như lời nguyện hứa)

Có hai bản sớ giải quan trọng liên quan tới bài kệ xưng tán nầy. Bản thứ nhất ghi rằng bài xưng tán nầy là sự kết hợp năm lời kính lễ của năm chúng sanh đại uy lực: Đại Dạ Xoa, A Tu La Vương, Tứ Thiên Vương, Thiên Chủ Đế Thích và Phạm thiên. Lời kinh vì vậy mang nhiều uy lưc.

Bản thứ hai với lời dịch là;
Đảnh lễ Đức Thế Tôn, bậc tối tôn trời người quí kính, nguyện cho con thù thắng phúc đức

Đảnh lễ Bậc Ứng Cúng, bậc xứng đáng cúng dường, nguyện cho con sung mãn phước vật

Đảnh lễ Đấng Chánh Biến Tri, bậc toàn tri diệu giác, nguyện cho con thành tựu phước trí

Bản thứ nhất chú trọng về thần lực trong khi bản thứ hai chú trọng về nguyện lực.


Thảo luận:
1. Người Phật tử thờ Phật khác với tôn giáo khác thờ Chúa thế nào?
2. Tụng kinh lễ Phật và niệm Phật trong thiền tập khác nhau ra sao?
3. Một người Phật tử thờ Phật như thần linh có gì tốt và không tốt?


Tin Tức:
No. 0287 NEW ( Như Trúc dịch va` đọc/ Hat Cat điền khuyết) )
NHÓM THIỀN SINH TÌM ĐƯỢC SỰ AN TỊNH Ở THƯ VIỆN

By CHERYL BENTLEY The Suncoast NewsPublished: Apr 25, 2005

HUDSON -MD Một lớp học mới thành lập sẽ cống hiến cách làm lắng dịu cảm giác bất an ở thế kỷ 21 bằng phương pháp cổ xưa của Phật Giáo.Một nhóm người đang học tập pháp thiền Dzogchen đã bắt đầu hội họp nhau tuần trước tại thư viện vùng Hudson, Maryland.

Dzogchen là một pháp hành thiền định được giảng dạy ở nhiều trường của Phật Giáo Tây Tạng.Lớp học hình thành dưới sự chỉ đạo của Drupon Thinley Ningpo Rinpoche, một giảng viên hướng dẫn hành thiền tại Trung Tâm Thiền Tây Tạng ở Frederick, Md. Ông ấy đã yêu cầu Richard Weissman, là người chuyên môn về pháp hành Dzogchen, thành lập một nhóm ở hạt Pasco.Weissman giải thích rằng pháp thiền Dzogchen khác với các pháp thiền khác vì đôi mắt vẫn mở. Ông ta nói rằng mắt mở sẽ giúp bạn kiểm soát lý trí nhiều hơn.Ông ta nói tầm nhìn ở góc 45 độ “ khiến bạn có thể thấy chóp mũi ” sẽ giúp làm yên tịnh tâm đang loạn động những tư tưởng.Ngoài ra, phương pháp này còn đem lại những hữu ích như làm giảm huyết áp và chậm lại nhịp tim.Lớp học không chính quy, phần lớn thời gian là hành thiền . Mặc dù ông ta hướng dẫn lớp học, nhưng Weissman cũng tham gia hành thiền.Ông ấy nói rằng “Mọi người là thày, và cũng là trò”.“Mọi người đều có Phật tánh và, do đó, mỗi người trong chúng ta đều có thể tham gia thực hành”.
Như Trúc dịch


No. 0300 NEW (Minh Hạnh dịch/ Gioi Huong đọc/ Khanh Van điền khuyết)

Phật Giáo Phát triển tại Ðức Quốc

Càng ngày con số người dân Đức say mê Phật pháp càng gia tăng, việc này giúp họ quên đi những băn khoăn về các khỏan chi dụng trong nhà . Đó là một quang cảnh bình an được lập lại mỗi tối tại trung tâm Phật Giáo Hamburg's, là một trung tâm lớn nhất tại Đức. Vào khoảng 100 người Đức, trong đó có một số bác sĩ, kiến trúc sư và quản trị viên ngành quảng cáo, họ cởi giầy, tắt máy điện thoại cầm tay và ngồi lên những tọa cụ đã sẵn sàng trên sàn nhà trong một thiền phòng lớn.

Không khí rất thoải mái, thanh tịnh, một vài người cầm trên tay những đóa hoa hồng, vài người nhìn những bức tranh Đức Phật trên tường với sự kính ngưỡng. “Chúng ta là phản ảnh của nhân quả, là hiện thực mà chúng ta tự mình quyết định cho những gì xảy ra trong đời sống của chúng ta.” Juliane 43 tuổi, một trong những người hướng dẫn chương trình thiền tập , đã nói với ký giả như vậy. Juliane nói rằng nhiều người đã tới trung tâm bởi vì thất vọng trong đạo Tin Lành, nhưng họ vẫn đang cố gắng tìm kiếm cho mình một đời sống tâm linh. Juliane nói “Họ nhận thức được rằng, làm ra tiền và tiêu xài không phải là tất cả của đời sống”“Chúng ta muốn tìm hạnh phúc tương quan với những phương tiện ngoại vật. Phật pháp dậy chúng ta những thứ đó không đem lại hạnh phúc, chỉ có thái độ, quan điểm đúng đắn của chúng ta về ngoại vật mới làm chúng ta hạnh phúc."


Trung tâm Hamburg được hướng dẫn bởi một Phật tử 63 tuổi người Ðan Mạch, ông Ole Nydahl, ông ta là một võ sĩ quyền Anh trước kia. Trung tâm này là một trong số những trung tâm Phật Giáo đã thu hút được nhiều Phật Tử trong những năm vừa qua. Ở tại Ðức, kinh sách của Đức Dalai Lama, vị lãnh đạo Phật Giáo Tây Tạng, và của cả những nhà học giả Phật giáo khác chung quanh các đề tài từ phạm vi sức khỏe trong đời sống, đến làm ăn sinh sống là những quyển sách bán rất chạy. Ngay cả một tờ báo quá khích nhứt trong nước là tờ Tabloid Bild mới đây cũng đã chọn chủ đề về Ðức Ðạt Lai Lạt Ma. Tôn giáo đông phương hiện đang được thịnh hành chưa từng thấy tại nước Đức.Có nhiều nhân vật danh tiếng của nước Đức, có niềm tin về Phật giáo, như nữ ca sĩ Nina Hage, đạo diễn Ralf Bauer và cầu thủ đá banh Mehmet Scholl. Việc này đã làm nổi bật lên hình ảnh của một tôn giáo có lịch sử 2500 năm. Sự an lạc trong tâm hồn quả thật là quan trọng hơn những nhu cầu bên ngoài, như là nền kinh tế giao động, nạn thất nghiệp gia tăng, tiền hưu bổng mơ hồ và hệ thống an sinh xã hội không chắc chắn.

Vì chính phủ Đức không thống kê tình trạng tiến thóai của các tôn giáo, nên không ai biết đích xác số người theo Phật giáo tại Đức là bao nhiêu. Tổng Hội Phật Giáo Đức Quốc, một tổ chức bao gồm 52 hội đoàn Phật giáo trong nước, đã ước tính là có khoảng 100,000 Phật tử ng ười bản xứ, Thêm vào đó, có khoảng 120,000 Phật Tử người ngoại quốc trong nước Ðức, phần lớn là người Việt và người Thái.Tuy nhiên, thật là rõ ràng, con số các hội đoàn Phật tử tại nước Đức đã đang tăng lên đều đặn: Bắt đầu là 15 hội đoàn vào năm 1970 cho đến ngày hôm nay đã có trên 600 hội đoàn.Tuy nhiên Phật giáo hầu như là một hiện tượng mới tại Đức.Tôn Giáo Đông phương được biết đến lần đầu tiên khi ông Karl Seidenstucker sáng lập hội đoàn Phật Tử "dân da trắng" đầu tiên trên thế giới tại thành phố Leipzig vào năm 1903. Sau đó không lâu có một người Đức đầu tiên trở thành tăng sĩ Phật Giáo.Trong năm 1924, một bác sĩ người Đức là bác sĩ Paul Dahlke đã sáng lập trung tâm Phật Giáo đầu tiên tại phía bắc thủ đô Berlin. Thế nhưng, tôn giáo này chỉ được truyền bá giới hạn trong giới trí thức quí tộc Ðức mãi cho đến cuối năm 1960. Rồi sau đó những thành phần thanh niên sống đời sống lập dị (hippies) và những người tìm hiểu về các đời sống tinh thần khác, đã được lôi cuốn bởi tôn giáo Đông phương này. Đã có nhiều thay đổi từ đó, các hội đoàn đã mở rộng, đã tạo điều kiện cho mọi người có thể tham gia sinh hoạt Phật giáo tại những vùng ngoại ô của các thành phố Ðức. Ngày hôm nay những cộng đồng Phật giáo người Đức đã mua những tu viện cũ và đã xây các tòa thiền viện mới. Tại thành phố Hamburg, trong quận đèn đỏ nổi tiếng St. Pauli, một nhóm 40 người Phật tử trẻ đã biến một xưởng đóng tàu thành một niệm Phật đường.Trung tâm Phật giáo Tây Tạng tại Hamburg có chương trình 7 năm tu học về Phật pháp và hiện nay Phật pháp đã trở thành một môn học chính tại một vài trường học tại thủ đô Bá Linh của Đức quốc.
.


No. 0298 NEW ( Hạt Cát dịch/ Nguon Duc Hanh.đọc/ Su Co Lieu Phap điền khuyết)
Trung tâm hành tập Thiền Minh Sát dưới sự dìu dắt của đệ tử Thiền Sư Goenka tại Boston (Vipassana Meditation Center, viết tắt VMC)

Trung tâm VMC tại Shelburne Falls, Massachusetts, là một trong hơn 60 trung tâm quốc tế và vô số địa điểm khác hướng dẫn thực tập Thiền Minh SátKhóa tu học 10 ngày đầu tiên trên nước Mỹ được thực hiện tại một cơ sở thuê mướn vào năm 1980, được tổ chức đệ tử của Thiền Sư Goenka đến từ Học Viện Thiền Minh Sát Quốc Tế ở Igatpuri, India. Sau đó, vì mong muốn có được một cơ sở gần nhà nơi có thể thực tập thiền Minh Sát, một nhóm nhỏ học trò người Mỹ và Canada của Thiền Sư thành lập trung tâm thiền Minh Sát đầu tiên ở Hoa Kỳ năm 1982. Thiền Sư Goenka đặt tên cho trung tâm mới này là Dhamma Dhara, Pháp Ðộ. Trung tâm Pháp Ðộ là một Tổ Chức Tôn Giáo Bất Vụ Lợi, Miễn Thuế tại Tiểu Bang Massachusetts.Từ một khuôn viên nông trại 8 acres đất khiêm tốn buổi ban đầu, trung tâm thiền tập tiếp tục phát triển. 8 học viên hoàn tất khóa tu học 10 ngày đầu tiên. Ngày nay, hơn 1,500 học viên tham dự trên 30 khóa tu học mỗi năm. Cơ sở thiết bị khuếch trương rộng lớn kể cả thiền đường, trai đường, tinh xá v.v trên diện tích tổng cộng 100 acres. Một đặc điểm của Trung Tâm Pháp Ðịa là một thiền đường dành cho các học viên trở lại có cơ hội hành thiền ở một nơi yên tĩnh biệt lập. Trung tâm tọa lạc tại một địa điểm ở miền quê cách Boston hai giờ xe về hướng Tây, giữa những rừng cây phong đường, vườn táo và nông trại khai thác bò sữa.

Trung Tâm VMC cống hiến các khóa tu học hành thiền từ năm 1982. Kể từ đó đến nay, trung tâm không hề thu một lệ phí nào của học viên tham dự .Chi phí trang trải cho các khóa tu học chỉ duy nhất nhờ vào tài khoản được cúng dường bởi học viên.Tịnh tài cúng dường cũng chỉ được chấp nhận từ các học viên cũ, có nghĩa là những ai đã hoàn tất ít nhất một khóa tu học với Ngài Goenka hoặc một trong những phụ tá của Ngài. Ðiều này bởi vì học viên nhận thức được những lợi lạc mà bản thân họ đã gặt hái trong việc hành tập thiền quán nên hoan hỷ cúng dường để tạo cơ hội cho người khác.Ðược nhìn nhận là một học viên cũ chỉ khi nào một người chấm dứt một khóa tu học hoàn toàn. Khi mãn khóa, học viên được chấp thuận cho cúng dường nhưng không phải với ý nghĩa là trả thù lao cho những gì đã thu nhận, mà là bằng sự hiểu biết, rằng họ được tự do tiếp nhận thực tập hành thiền, bởi vì người khác đã đến trước đó hành tập có kết quả lợi lạc và phát tâm cúng dường. Mỗi trung tâm có một tài khỏan độc lập, ngân khoản cúng dường bởi học viên là nguồn tài trợ duy nhất để thực hiện các khóa tu học theo truyền thống này trên toàn thế giới. Không có một tổ chức hay một cơ sở giàu có nào bảo trợ cho chương trình này, cũng không có một giảng viên hay phục vụ viên nào tại các trung tâm nhận thù lao cho việc phụng sự của họ, vì thế, truyền bá phương pháp thực tập này mang một mục đích cao cả thanh tịnh, hoàn toàn không liên hệ gì đến thương mại.

Muốốn biết thêm chi tiết về Trung Tâm này, kính mời đại chúng vào website www.phapluan.com phần tin tức hoặc vào http://www.dhara.dhamma.org/
(HạtCát dịch)

Đố Vui Trong Ngày

1. Một người niệm Phật tâm tư được thanh thản. Theo tinh thần Phật Pháp thì do:
a. Thần lực của Phật
b. Ân đức của Phật
c. Quả phúc niệm Phật
d. Câu b và c

2. Năng lễ chỉ cho tâm cung kính, sở lễ chỉ cho đối tượng cung kính. Quả phúc của sự lễ bái nằm ở:
a. Năng lễ
b. Sở lễ
c. Nghi lễ
d. Cả ba điều trên

3. Khi đức Từ Phụ còn trụ thế, người Phật tử khi đề cập đến Ngài thường gọi là:
a. Đức Như Lai
b. Đức Phật
c. Đức Thế Tôn
d. Cả ba câu trên.

4. Một danh nhân nói rằng: Thành công không phải là kết thúc, thất bại không là tất cả. Lòng can đảm mới là đáng kể. (Success is never final and failure never total. It's courage that counts). Câu nào dưới đây có lời khuyên với ý nghĩa tương tự:
a. Với người hiểu đạo thì việc Đức Phật có linh hiển hay không không phải là điều quan trọng mà chính ở tâm thành của mình
b. Thờ đấng thiêng liêng nào cũng được miễn là có lòng thành
c. Giá trị của sự lễ Phật không nằm ở đức Phật mà ở trong lòng chúng ta
d. Cả ba câu trên điều sai

5. Sách Cổ Học Tinh Hoa ghi câu chuyện nầy: Vua nước Tề thích nghe sáo. Có kẻ muốn cầu chút công danh, đem đàn đến đứng trước cửa nhà vua mà đánh. Đánh luôn ba năm, nhà vua không hỏi tới. Anh giận lắm, gắt và nói rằng: "Ta đánh đàn đến cả quỉ thần cũng phải say mê, thế mà nhà vua không biết cho ta!" Có người nghe nói, cười mỉa, bảo rằng: "Vua thích nghe sáo mà bác đánh đàn, cho dù đàn bác hay đến đâu, nhưng vua không thích thì làm thế nào được? Thế là bác chỉ giỏi ngón đàn, chớ không khéo cầu danh ở nước Tề nầy vậy!"
Vấn đề nằm ở đâu:
a. Vua Tề không có trình độ thưởng thức đàn
b. Anh nhạc sĩ không biết thổi sáo
c. Tiếng đàn không đủ sức hấp dẫn
d. Thi thố tài năng không đúng chỗ

Chủ Nhật, 1 tháng 5, 2005

Nhật Hành

Ngày: 1 Tháng 05 năm 2005

Tri chúng: Dharma 10

Tri chúngđiền khuyết: Diệu Quang

Môn học: Kinh Pháp Cú

Bài học: Kệ Ngôn 94: Chư Thiên cũng ái kính bậc giải thoát

Giảng sư chính: Sư Tuệ Quyền

Giảng sư điền khuyết: Sư Giác Đẳng

Vị Tăng hoặc Ni nói lời cầu nguyện đầu lớp học: TN Diệu Tịnh

Xướng ngôn viên cho bài học: Hạt Cát, Diệu Quang, Gioi Huong http://baidocmc.blogspot.com/

Xướng ngôn viên cho tin tức: Giới Hương,Diệu Quang, Trí Đạt,

Xướng ngôn viên điền khuyết: Giới Hương, Trí Đạt, Hạt Cát

Người mở room: Diệu Quang

Người mở nhạc và kinh tụng: Hạt Cát ,Diệu Quang, Dharma 10, anitya

Người post bài cho Room: Hạt Cát

Người post bài riêng cho chư Tăng: Hạt Cát

Trực room (op): Diệu Quang

Thông báo (nếu có):
Lớp Kinh Pháp Cú
Phẩm 07: A-La-Hán - Phẩm A-La-Hán (Arahato Vagga)

Kệ ngôn 94 Chư Thiên cũng ái kính bậc giải thoát

Bản Việt Văn của Tỳ khưu Giác Đẳng
Các căn khéo nhiếp phục

Như xa phu điều ngự
Mạn trừ, lậu hoặc dứt
Chư thiên mến vị ấy

Bản Phạm Văn Palì
Yass-indriyaani samatha.m gataaniAssaa yathaa saarathinaa sudantaaPahii.namaanassa anaasavassaDevaa-pi tassa pihayanti taadino.

Bản Anh văn của Phra Khantipàlo
Whose faculties are pacifiedas steeds by charioteers well-tamed,with pride abandoned, unpolluted,to even devas this One’s dear.


Bản Hán Văn của PS Thường Bàn Ðại Ðịnh:

Chế căn tòng chính, Như mã điều ngự.Xả kiêu mạn tập,Vi thiên sở kính.

DUYÊN SỰ
Thiên Chủ Ðế Thích đến hầu Phật nhìn thấy chổ ngồi của Tôn Giả Ma Ha Ca Chiên Diên (Mahakaccayana) còn trống có ý trông đợi. Khi thấy Tôn giả hiện ra tại chổ ngồi, thiên chủ hết sức hoan hỷ quỳ xuống đảnh lễ. Nhân bàn về chuyện nầy một vài tỳ kheo nghĩ rằng Thiên Chủ đã hành xử không thích đáng vì còn có nhiều vị trưởng lão cũng có mặt tại đấy. Ðúc Thế Tôn trong dịp nầy đã dạy tại sao một vị thiên có lòng kính ái với một bậc giải thoát.

Ý CHÍNH
Chư thiên là hàng chúng sanh phúc nghiệp thù thắng. Những gì chư thiên quí kính là những giá trị chân thật vươt lên trên những giá trị của thiên giới. Ở đây, Đức Phật dạy rằng với một người mà kiêu mạn, lậu hoặc đã đoạn, tức một hình ảnh không còn chấp ngã, chư thiên cũng kính mộ.

THẢO LUẬN
1. Tại sao chúng sanh vốn kiêu mạn lại ghét người kiêu mạn?
2. Có gì liên hệ giữa trạng thái của lục căn và phiền não nội tại?
3. Sự thương mến của chư thiên có ý nghĩa gì ở đây?

1. Bản Phạn Ngữ, Anh Ngữ lấy từ website Budsas.org của Dr. Bình Anson
2. Bản chữ Hán và Kinh Thơ do Phật tử Như Khanh thực hiện



Suy nghiệm trong ngày
Nguyên tác: Beginning To See - by sujata - pen-art by julio lynch - TK Giác Đẳng dịch

there is nothingin this life that we canhave for very longthings and peoplecome ...
then leave us ...and we are leftsad and achingbecause ofourattachment
Không có gì bền vững trong đời nầy
người và muôn thứ khác
đến rồi đi
chúng ta buồn khổ
vì sự tưởng tiếc khôn cùng.
Đố Vui Trong Ngày

1. Điều nào dưới đây, theo Phật Pháp, khó có thể xẩy ra:
a. Một người có tánh xấu ghét một người có cùng tánh xấu
b. Một người có đức tánh tốt ghét một người có cùng đức tánh tốt
c. Một người tánh xấu thương mến một người có cùng tánh xấu
d. Một người có đức tánh tốt thương mến một người có cùng đức tánh tốt

2. Suy nghĩ nào dưới đây đối với hàng thiên chúng đúng theo tinh thần của một Phật tử hiểu đạo:
a. Chư thiên có quả phúc thù thắng chính nhờ ở thiện hạnh đó là điều đáng tâm niệm và hoan hỷ
b. Những ai được chư thiên thương mến được nhiều lợi lạc
c. Dù phúc lạc cõi trời có thù thắng đến đâu thì cũng sẽ hoại diệt
d. Cả ba câu trên đều đúng

3. Có một vị hoàng đế trong lịch sử Đạo Phật có tự gọi là Thiên Ái (chư thiên thương mến - Piyadasi ), vị đó là:
a. Bimbisara (Bình Sa Vương)
b. Suddhodana (Tịnh Phạn)
c. Asoka (A Dục)
d. Pasenadi (Ba Tư Nặc)

4. Phạm Thiên Thư viết bài thơ nầy để hoài niệm Lý Bạch
ngày xưa trên bến mấy trăm năm
có gã yêu trăng nhảy tự trầm
hồn vẫn còn theo dòng nước bạc
tìm hoài chưa thấy bóng trăng ngâm

Câu nào dưới dây có ý nghĩa gần với hình ảnh "bóng nguyệt ngâm" của bài thơ trên:


a. Một thứ hạnh phúc hoàn hảo trong dục lạc
b. Một bậc thiện trí hiếm hoi ở đời
c. Một người mang chí lớn sống cô đơn
d. Một tìm thấy kho báu nhưng không có chìa khoá để đi vào


5. Danh ngôn dưới đây có hàm ý là cho dù đi tới phương trời nào, làm bất cứ việc gì, suốt đời mỗi chúng ta gói trọn trong sự nhận thức của mình.
No matter where you go or what you do, you live your entire life within the confines of your head. ~Terry Josephson
Câu nào dưới đây không có ý nghĩa tương tự danh ngôn trên:

a. Một người ganh tị tật đố dù có lên thiên đàng thì chốn ấy cũng là địa ngục
b. Sự khám phá lớn nhất trong đời là những giây phút vượt khỏi chính mình
c. Thế giới không chật hẹp, chỉ có tâm hồn của bạn bé nhỏ đó thôi
d. "Trong đôi mắt em, anh là tất cả"