Thứ Tư, 27 tháng 4, 2005

Lớp Lịch Sử Phật Giáo

Vài điểm cần lưu ý về lịch sử Phật Giáo


Đối với tất cả người học Phật khi nghiên cứu vào lịch sử Phật giáo luôn luôn gặp một số trở ngại nếu lấy sử quan của ngành sử học hôm nay để thẩm định. Ngay cả dù một người được đào tạo trong môi trường Tây học cũng không thể lấy thần học của Ki Tô Giáo làm chuẩn mực đánh giá lịch sử Đạo Phật. Có thể nói rằng để học hiểu dòng lịch sử của một tôn giáo lâu đời như Đạo Phật người ta cần ghi nhận tất cả những gì được ghi lại về Phật giáo để có thể lượng định một cách toàn diện thì mới có thể có được nhận xét trung thực.


1. Không thể chỉ lấy "sử kiện" thuần tuý để viết lịch sử Phật giáo
Đối với quan điểm viết sử những hiện tượng như chư thiên, phi nhơn, thần thông vốn không thể xem là là dữ liệu lịch sử. Nhưng người ta không nên quên rằng những lời dạy minh triết nhất tự nó đã có giá trị không cần phải sơn phết bởi câu chuyện mang "vẻ huyền thoại". Kinh Điềm Lành (Mangalasutta) là một thí dụ. Những Phật ngôn trong kinh nầy là lời dạy hoàn toàn là diệu ngôn, chánh lý. Không cần thiết gì để tạo thêm duyên sự là một vị thiên đã đến Kỳ Viên đãnh lễ Phật vào ban đêm để xin hỏi về điềm lành tối thượng và đã được Đức Phật giải đáp. Với người Phật tử hiểu Phật Pháp thì không có gì cần thiết để vẽ vời thêm về đọan đầu cuả bài kinh nếu đó không phải là sự thật.


2. Kết tập không giống với trước tác.
Tam Tạng Kinh Điển Pali, ngoại trừ bộ Kathavatthu (Ngữ Tông), chỉ có thể được gọi là kết tập chứ không phải là tác phẩm với một bố cục được sắp xếp mạch lạc. Lý do đơn giản là trong cuộc Kết Tập Thứ Nhất, đại tăng chỉ trùng tụng và phân loại chứ không mang hình thức sáng tác như một đại tác phẩm được tìm thấy trong nền văn học Phật Giáo Bắc Truyền. Do vậy có rất nhiều đọan trùng lập, hình thức không đồng nhất trong Tam Tạng kinh điển nhưng chính đây là ưu điểm của một tinh thần bảo lưu được đặc biệt chú trọng trong Phật giáo Nam Truyền. Những học giả tên tuổi của Trung Hoa như Lương Khải Siêu, Pháp Sư Thánh Nghiêm cũng y cứ điểm nầy mà nhấn mạnh giá trị của các bộ A Hàm là nguyên thuỷ của Phật giáo.


3. Không phải bộ phái nào cũng đồng xuất hiện vào hậu thời
Thế kỷ thứ ba sau khi Phật viên tịch, lịch sử Phật giáo chuyển sang khúc rẽ của thời kỳ bộ phái. Có 1 8 bộ phái chính được ghi nhận trong thời nầy. Một vài quan niệm cho rằng tất cả sự tồn tại của Đạo Phật từ đó trở đi đều là Phật giáo bộ phái. Nói cách khác không tông phái nào là nguyên thuỷ cả vì thời đó đã qua. Đây là một lầm lẫn nguy hiểm. Vì nhiều bộ phái hình thành nhưng không phải vì vậy mà Phật Giáo nguyên thủy không còn, Người ta làm một lầm lỗi nghiêm trọng là cho rằng tất cả đều: "cá mè một lứa". Mãi đến thế kỷ 20 nhiều học giả đã đặt lại cái nhìn nầy khi ghi nhận rằng có hai đại bộ phận của Phật giáo là Phật giáo căn bản và Phật giáo phát triển.


4. Không thể lấy sinh phong của Phật Pháp để gạt một bên những sự thật lịch sử
Một người tu Phật không cần thiết để truy nguyên giá trị lịch sử của các pháp môn tu tập mà có thể tích cực hành trì đạt thành quả chứng. Đây là sinh phong rất đẹp của Phật giáo. Không may là nhiều người dựa vào quan điểm nầy gạt một bên giá trị của lịch sử. Đạo Phật có một lịch sử cao đẹp. Biết về giòng lịch sử nầy có lợi ích nhiều cho những ai muốn tìm về nguồn cội. Không thể chỉ chú trọng về các pháp môn tu tập mà phủ nhận yếu tính của sử ký.


5. Không nên nhầm lẫn giữa giáo thuyết và lịch sử.
Điều va chạm lớn nhất trong việc nghiên cứu lịch sử đạo Phật là sự trái chống giữa giáo thuyết và Lịch sử. Một đại bộ phận của kinh điển Phật giáo y cứ trên quan điểm Đại thừa (Mahayana) và Tiểu thừa (Hinayana). Tuy vậy khó ai có thể phủ nhật được rằng 2 từ ngữ này vốn không thể có trong thời kỳ 500 năm đầu sau Phật viên tịch. Hay lịch sử Thiền tông ghi rằng vị tổ đầu tiên của thiền tông là Ngài Ca Diếp và nhị tổ là Ngài A Nan. Cả hai vị đều truyền thừa phương pháp "dĩ tâm truyền tâm, bất lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền". Nhưng cũng chính các tông phái đề nhận rằng cả hai ngài Ca Diếp và Ananda đều đóng vai trò quan trọng trong cuộc kết tập Tam tang đầu tiên. Đó là sự khác biệt không nên nhầm lẫn giữa giáo thuyết và lịch sử.

Thảo Luận
1. Người tu Phật có cần hiểu biết về lịch sử Phật giáo không?
2. Tại sao Đức Phật giảng về Chư Phật trong quá khứ?
3. Làm sao để phân biệt điều nào là nguyên thuỷ điền nào là hậu tác?
Tin Tức
No. 0261 New (Khanh Van dich/ Tinh Tan đọc/ Chanh hanh điền khuyết )
Hãy tìm Đức Phật trong gia đình ta.

18 tháng 4, năm 2005. KST
Chùa chiền không phải là nơi duy nhất mà chúng ta tìm thấy Đức Phật, mà là ở nhà, trong gia đình. Vị sư đức hạnh người Đại hàn Pubjeong đã nói “ Bởi vì đối những gia đình tan nát, ngôi nhà chỉ là cái vỏ lạnh giá, ông nói hôm chủ nhật vừa qua. "Đừng tìm Đức Phật hay Bồ Tát nơi chùa chiền, chúng ta phải suy nghĩ thông suốt, phải chất vấn thật kỹ trái tim nình, và đem tình thương đó sưởi ấm mái nhà mình".Nhà sư đã nhấn mạnh điểm này trong buổi thuyết giảng Phật pháp thường lệ vào mùa xuân tại chùa Gilsang ở Seoul’s Seongbuk-dong, đã thu hút hơn 1500 tu sĩ và Phật tử.Nhà sư kể một câu chuyện, “ Một người đàn ông dọn đến ở với con trai mình sau khi vợ ông chết. Một ngày nọ, tình cờ ông nhặt được quyển sổ ghi chép chi phí trong gia đình, trong đó có đoạn ghi rằng tiêu phí 20 đô cho người đần độn.” Người đàn ông hiểu người đần độn là ám chỉ mình và lập tức rời nhà. Nhà sư nói “ Một gia đình không có tình thương chẳng khác nào con người chúng ta chỉ có thân mà không có tâm”. Ông cho rằng sự đổ vỡ của gia đình là do lòng ích kỷ và chủ nghĩa cá nhân được xem quá trọng.Ngày nay chúng ta không ra sinh ra ở trong nhà, chúng ta đón mừng sinh nhật lần thứ nhất, thứ mười, thứ 60, 70, và luôn cả cái chết cũng chưa hẳn là xảy ra trong nhà. Những trường hợp như vậy, chúng ta hãy nhìn lại một cách nghiêm túc, ý nghĩa của mái ấm gia đình là gì. Nhà sư nhấn mạnh, nhìn lại trái tim mình một cách kỹ lưỡng là điều vô cùng cần thiết khi chúng ta muốn hiểu tại sao có sự đổ vỡ trong gia đình. “ Ngày nay, vợ chồng rất dễ ly dị, nhưng nếu chúng ta không chuyển được nghiệp thì dù có ly dị, chúng ta vẫn không tháo gỡ được những gút mắc xáo trộn.“ Bởi thế gian đen tối, dơ bẩn, tham muốn, và đầy đau khổ.” ông nói thêm cho dù mục đích có khác nhau đi nữa, những gì ta có trong tim rất quan trọng, cuộc sống chúng ta tùy thuộc vào sự lựa chọn phương cách để giải quyết những trỏ ngại. Nếu chúng ta xem gia đình và láng giềng như một phần của chính mình, và sống với trái tim mình nhiều hơn trong từng giây phút, thì thay vì ta nói “ Ông chồng đáng ghét của tôi đang đến,” ta có thể nói, “ Đức Phật đang đến.” Ta có thể sưởi ấm mái nhà bằng tình thương nơi trái tim ta, và ta sẽ cảm nhận đây mới là hạnh phúc.Nhà sư kết thúc buổi diễn thuyết : "Tìm hiểu con tim mình là điều vô cùng cần thiết. Thay vì ta có thể nói tiêu phí 20 đô cho người đần độn, ta nói 20 đô tiêu phí cho đức Phật".
Khánh văn lược dịch
http://feeds.bignewsnetwork.com/redir.php?jid=ea55a3cdaccf683b&cat=f97ff7b11934dbb6


No. 0290 (NEW) DươngTiêu dịch/ Khanh Van đọc /Hạt Cát điền khuyết
Chư Tăng Tích Lan cực lực phản đối cứu trợ cho quân phiến loạn bạo động Tamil trong thảm họa sóng thần Tsunami.
Tin từ Colombo, Tích Lan , thứ ba, tháng tư ngày 26,
một đảng chính trị cầm đầu bởi nhiều nhà sư có thế lực mạnh của Tích Lan cực lực lên án và phản đối chính phủ Tích Lan đã sử dụng những nguồn viện trợ cho nước này từ ngoại quốc trong tai họa sóng thần Tsunami vừa qua để viện trợ phần nào cho bọn phiến loạn cực đoan Tamil (còn gọi là đảng con cọp ). Các tu sĩ Phật Giáo Tích Lan thuộc đảng bảo thủ dân tộc tại Tích Lan khẳng định rằng bọn phiến loạn Tamil đã và đang dùng tiền cứu trợ để phá hoại Phật Giáo Tích Lan và các quốc gia đạo Phật khác theo lời phóng viên Athuralive Ratana Thero của tờ báo “Island”.Sự phản đối này có thể dẫn tới chính phủ Tích Lan phải cắt bớt Viện trợ Tsunami của đảng phiến loạn cực đoan Tamil, hiện đang kiểm soát những phần đất thuộc phía Đông Bắc của Tích Lan, nơi thảm họa sóng thần Tsunami vừa qua đã làm thiệt mạng khoảng 31,000 người tại đất nước này.Bọn phiến loạn Talmil đã nhiều lần đòi hỏi một phần viện trợ nước ngoài trong thảm hoạ sóng thần tại Tích Lan từ phía chính phủ. Tuy nhiên những tổ chức cứu trợ và từ thiện quốc tế rất dè dặt trong sự cung cấp viện trợ cho bọn phiến loạn Hồi Giáo Cực đoan Tamil, đặc biệt trong những vùng đất hiện nay chúng cai quản, vốn đã được đưa lên danh sách đen của bọn khủng bố quốc tế tại Ấn Độ và Hoa Kỳ.Đầu tháng tư vừa qua, Đảng Mác Xít tự do cấp tiến đe doạ họ sẽ tách rời khỏi chính phủ Tích Lan, nếu chính phủ vẫn còn hợp tác và viện trợ cho những vùng bọn phiến loạn đang kiểm sóat trong nạn hồng thủy Tsunami vừa qua.
DươngTiêu Dịch.
http://www.hindustantimes.com/news/7598_1337064,000500020002.htm

Dự Bị:

No. 0283( Hạt Cát dịch/ Chanh hanh đọc/ Tinh Tan điền khuyết)
Hội chợ hoa mừng Phật Ðản

By ROB O'DELL, North County Times Staff Writer, April 23, 2005
Vista, CA (USA) -- Ngày Thứ bảy 23 tháng tư vừa qua, Trung tâm Văn Hóa Nhật Bản đã tổ chức hội chợ hoa hằng năm Hanamatsuri Baazar tại chùa Vista ở thị trấn Vista California để đón mừng Phật Ðản.Buổi lễ hội triển lãm nhiều bộ môn nghệ thuật, thủ công, ẩm thực và hầu hết các giống hoa, buổi lễ hội còn trình diễn một màn múa trống Taiko (Ðại Cổ) tuyệt vời mà mọi người đều cho rằng đây là màn nổi bật nhất trong lễ hội.Atsuku Taylor, một vũ công trong màn biểu diễn nói rằng múa trống là một kinh nghiệm rất linh thiêng giúp ích cho việc hành thiền của cô.“Ðối với tôi, vũ trống là một môn thể dục, một sở thích và cũng là hành thiền, là một năng lực thực sự”.Hanamatsuri là một hội chợ hoa, năm nay được tổ chức để mừng kỷ niệm lần thứ 2,568 ngày Ðức Phật đản sinh. Căn cứ theo trang nhà của ngôi chùa, Ðức Phật đản sinh vào ngày 8 tháng tư, năm 563 trước Tây Lịch gần biên giới phía nam của Nepal ngày nay.Kayo Beach, một họa sĩ tham dự lễ hội này từ 20 năm nay, người đã cúng dường cho chùa và trung tâm văn hóa một phần tịnh tài trong thu nhập từ họa phẩm của cô, nói rằng hội chợ hoa rất đặc biệt đối với người Phật tử Nhật bản. Cô là một giảng viên trong lớp hội họa hằng tuần tại trung tâm văn hóa và đã bán một số họa phẩm của học viên tại hội chợ.Felice Simmonds nói Cô đến hội chợ vì cậu con trai 10 tuổi của Cô hứng thú với văn hóa Nhật Bản. Tanner Simmonds nói “Trong tất cả các nền văn hóa mà tôi đã được biết qua sách vở, tôi thích Nhật Bản nhất.” Anh ta nói hội chợ làm sống động những gì tôi đã đọc qua.Sally Yasukochi, một vũ công khác nói một trong những điều Cô ưa chuộng nhất là khí vị của cộng đồng cùng sự quây quần với bạn bè thân nhân. Taylor đồng ý và nói rằng tuy cô không có thân nhân ở đấy nhưng buổi hội chợ khiến Cô có cảm giác như đang sinh hoạt cùng với gia đình.
Hạt Cát dịch
Đố Vui Trong Ngày

1. Những sử liệu về Đức Phật đã sinh hoạt hằng ngày và sống thế nào có cần thiết để người Phật tử tìm hiểu chăng?
a. Không cần thiết. Chỉ cần hiểu pháp là được rồi. Y pháp bất y nhân.
b. Bắt buộc. Không hiểu Phật thì làm sao hiểu pháp
c. Nên biết. Đức Phật là bậc đạo sư thù thắng cả hai phương diện thân giáo và khẩu giáo. Hiểu ngài sẽ hiểu thêm về lời dạy của Ngài.
d. Không thể biết. Có quá nhiều sai biệt về lịch sử Phật. Càng tìm hiểu càng nghi nan.

2. Một số tông phái chủ trương rằng vì chúng sanh có nhiều căn cơ khác nhau nên Đức Phật Thích Ca Mâu Ni thay vì dạy pháp cho họ thì giới thiệu sang những vị Phật khác. Điều nào dưới đây cho thấy là quan điểm trên thiếu cơ sở tín lý:
a. Chư Phật toàn giác vốn là bậc vô thượng năng nhân. Không thể nói vị nầy hơn vị kia
b. Nhiều căn cơ thì giảng nhiều pháp môn chứ sao lại giới thiệu nhiều vị Phật
c. Giới vức của một vị Phật toàn giác không nhỏ hẹp. Sống thế giới nầy mà tầm cầu sự giác ngộ ở thế giới khác dường như không hợp lý.
d. Cả ba câu trên đều đúng.
3. Câu hỏi của nick "Niem-Van": Thu+a su+: Con co' mo^.t ca^u ho?i ngoa`i ba`i ho.c, xin su+ vui lo`ng gia?i thi'ch cho con hie^?u. Con tha^'y nhie^`u ngu+o+`i khi qua ddo+`i, trong thie^.p ba'o tang, thu+o+`ng co^.ng the^m 1 hay 2 tuo^?i va`o tuo^?i tho.. Thi' du. ngu+o+`i che^'t sinh na(m 1920, che^'t na(m 2005, nhu+ng la.i ghi la` hu+o+?ng tho. 87 tuo^?i. Ta.i sao la.i pha?i co^.ng the^m tuo^?i va`o va^.y ?
a. Do phong tục của người Phương Đông trọng tuổi tác
b. Lịch ta nhiều tuổi hơn lịch Tây
c. Vài người làm trước khiến người sau bắt chước mà không rõ tại sao
d. Cả ba câu trên đều đúng

4. Câu hỏi "tam-hon-co -don" : ăn chay có phải là giới cấm thủ không?

a. Nếu nghĩ rằng chuyên ăn lê hoác sẽ được giác ngộ giải thoát
b. Nếu việc ăn chay thích hợp với sức khoẻ
c. Nếu việc ăn chay là lối sống truyền lại từ nhiều đời (như những gia đình Bà La Môn)
d. Nếu việc ăn chay hợp với điều kiện thực phẩm địa phương.

5. Một thiền sinh Tây Phương hỏ Suzuki Roshi tại sao người Nhật chế những tách trà quá mỏng manh. Roshi đáp là: Vấn đề không nằm ở đó mà chính là người dùng tách trà có cẩn trọng hay không.
Trong câu chuyện trên nếu không may tách trà bị bể thì lỗi nằm ở:

a. Tách trà
b. Người tạo ra tách trà
c. Người dùng tách trà
d. Vị thiền sư

Thứ Ba, 26 tháng 4, 2005

Nhật Hành

Ngày: 26 Tháng 04 năm 2005

Tri chúng: Anitya

Tri chúng: Duong Tieu

Môn học: Phật Học Cơ Bản


Bài học: A. Giới Hạnh và Trí Tuệ vốn bất khả phân


Giảng sư chính: Sư cô Liễu Pháp

Giảng sư điền khuyết: TT Giác Đẳng

Vị Tăng hoặc Ni nói lời cầu nguyện đầu lớp học:

Xướng ngôn viên cho bài học: Dharma 10, TLN


Xướng ngôn viên cho tin tức: Khanh Van, Nguon Duc Hanh va Duong Tieu

Xướng ngôn viên điền khuyết: Nhu Phuc

Người mở room: Diệu Quang

Người mở nhạc và kinh tụng: Diệu Quang và anitya

Người post bài cho Room: mindvox
và Nhu Phuc

Người post bài riêng cho chư Tăng: Nhu Phuc

Trực room (op): Hat Cat

Thông báo (nếu có): room BDH co' clock, có vai thiêu thay đỏi
==> Nhiệm Vụ và Quyền Hạn


Lớp Phật Học Cơ Bản
Chương III: Morality / Đạo Đức
3.4 Necessity of Precepts / Sự cần thiết của những Giới Luật

A. Wisdom and Virtue are Inseparable Twins. / Giới Hạnh và Trí Tuệ vốn bất khả phân


Dẫn Nhập:
Giới được hiểu là nguyên tắc, hay chi tiết hơn là chủ tâm phân định những gì nên làm và không nên làm trong cuộc sống. Trí tuệ là sự hiểu biết, nhận thức chân thực. Một người có trí hiểu rõ rằng trong cuộc sống có những thứ nên làm, có những thức không nên làm. Một người có giới đức là người có đủ sự sáng suốt để khiến giới được trang nghiêm lợi lạc. Hai pháp nầy kết hợp trở thành giá trị cao vợi trong cuộc sống vì cái nầy làm đẹp và rạng rỡ cho cái kia. Cũng nên ghi nhận một điều là sự kết hợp nầy được nhấn mạnh trong kinh điển pàlì trong lúc những truyền thống Phật giáo khác đặc biệt nói đến cao điểm nhất thể của bi và trí. Một vài quan niệm thiền tông Trung Hoa và Nhật Bản cho rằng giới chỉ là phương tiện ban đầu, khi đạt tới cảnh giới tối thượng của sự giác ngộ thì giới trở thành quan niệm câu thúc. Trong kinh điển Palì thì dạy rằng một bậc vô lậu giải thoát có một thứ "giới tự nhiên" hoàn toàn khế hợp với giới luật Phật dạy và đời sống của bậc thánh là một kết hợp tuyệt vời của tịnh đức, bi đức và trí đức.


Chánh Kinh:
"Wisdom is purified by virtue, and virtue is purified by wisdom. Where one is, so is the other. The virtuous person has wisdom, and the wise person has virtue. The combination of virtue and wisdom is called the highest thing in the world." -D.I: 84

Trí tuệ được thanh lọc bằng giới, giới được tịnh hoá bằng trí tuệ. Nơi nào có pháp nầy thì có pháp kia. Bậc giới đức là người có trí tuệ, Bậc trí tuệ là người có giới đức. Sự kết hợp của giới và trí tuệ là pháp cao quí nhất trong đời.Kinh Trường Bộ I: 84

Thảo Luận:
1. Thế nào là sự khác biệt giữa thiện giới và giới cấm thủ?
2. Thế nào sự khác biệt của tuệ giác và thế trí biện thông?
3. Thế là sự thể nhập và siêu xuất trên phương diện tâm giải thoát và tuệ giải thoát?
Tin Tức

No. 0261 New (Khanh Van dich)

Hãy tìm Đức Phật trong gia đình ta.

18 tháng 4, năm 2005. KST
Chùa chiền không phải là nơi duy nhất mà chúng ta tìm thấy Đức Phật, mà là ở nhà, trong gia đình. Vị sư đức hạnh người Đại hàn Pubjeong đã nói “ Bởi vì đối những gia đình tan nát, ngôi nhà chỉ là cái vỏ lạnh giá, ông nói hôm chủ nhật vừa qua. "Đừng tìm Đức Phật hay Bồ Tát nơi chùa chiền, chúng ta phải suy nghĩ thông suốt, phải chất vấn thật kỹ trái tim nình, và đem tình thương đó sưởi ấm mái nhà mình".Nhà sư đã nhấn mạnh điểm này trong buổi thuyết giảng Phật pháp thường lệ vào mùa xuân tại chùa Gilsang ở Seoul’s Seongbuk-dong, đã thu hút hơn 1500 tu sĩ và Phật tử.Nhà sư kể một câu chuyện, “ Một người đàn ông dọn đến ở với con trai mình sau khi vợ ông chết. Một ngày nọ, tình cờ ông nhặt được quyển sổ ghi chép chi phí trong gia đình, trong đó có đoạn ghi rằng tiêu phí 20 đô cho người đần độn.” Người đàn ông hiểu người đần độn là ám chỉ mình và lập tức rời nhà. Nhà sư nói “ Một gia đình không có tình thương chẳng khác nào con người chúng ta chỉ có thân mà không có tâm”. Ông cho rằng sự đổ vỡ của gia đình là do lòng ích kỷ và chủ nghĩa cá nhân được xem quá trọng.Ngày nay chúng ta không ra sinh ra ở trong nhà, chúng ta đón mừng sinh nhật lần thứ nhất, thứ mười, thứ 60, 70, và luôn cả cái chết cũng chưa hẳn là xảy ra trong nhà. Những trường hợp như vậy, chúng ta hãy nhìn lại một cách nghiêm túc, ý nghĩa của mái ấm gia đình là gì. Nhà sư nhấn mạnh, nhìn lại trái tim mình một cách kỹ lưỡng là điều vô cùng cần thiết khi chúng ta muốn hiểu tại sao có sự đổ vỡ trong gia đình. “ Ngày nay, vợ chồng rất dễ ly dị, nhưng nếu chúng ta không chuyển được nghiệp thì dù có ly dị, chúng ta vẫn không tháo gỡ được những gút mắc xáo trộn.“ Bởi thế gian đen tối, dơ bẩn, tham muốn, và đầy đau khổ.” ông nói thêm cho dù mục đích có khác nhau đi nữa, những gì ta có trong tim rất quan trọng, cuộc sống chúng ta tùy thuộc vào sự lựa chọn phương cách để giải quyết những trỏ ngại. Nếu chúng ta xem gia đình và láng giềng như một phần của chính mình, và sống với trái tim mình nhiều hơn trong từng giây phút, thì thay vì ta nói “ Ông chồng đáng ghét của tôi đang đến,” ta có thể nói, “ Đức Phật đang đến.” Ta có thể sưởi ấm mái nhà bằng tình thương nơi trái tim ta, và ta sẽ cảm nhận đây mới là hạnh phúc.Nhà sư kết thúc buổi diễn thuyết : "Tìm hiểu con tim mình là điều vô cùng cần thiết. Thay vì ta có thể nói tiêu phí 20 đô cho người đần độn, ta nói 20 đô tiêu phí cho đức Phật".
Khánh văn lược dịch
http://feeds.bignewsnetwork.com/redir.php?jid=ea55a3cdaccf683b&cat=f97ff7b11934dbb6

No.0284 NEW( Hạt Cát dịch)
Không có việc tước bỏ danh vị Di Sản Thế Giới của Ðại Bồ Ðề Tự ở Bihar

The Times of India, [IANS], April 25, 2005
PATNA, Bihar (India)-Theo những nguồn tin đã được loan trước đây, Ðại Bồ Ðề Tự tại Bồ Ðề Ðạo Tràng ở Bihar, Ấn Ðộ, vốn đã được liệt kê vào danh sách di sản thế giới hồi năm 2002, gần đây đã bị cơ quan UNESCO cảnh cáo là vi phạm nguyên tắc bảo tồn và có thể sẽ bị tước bỏ danh vị này, hôm nay, theo tin mới nhất trên tờ báo The Times of India, số ra ngày 25 tháng tư năm 2005, Cơ quan UNESCO đã đính chánh rằng không có dự tính tước bỏ danh vị di sản thế giới của Ðại Bồ Ðề Tự như các hãng truyền thông đã loan. Cũng dựa trên vấn đề này, vào ngày thứ bảy 23 tháng 04 năm 2005 vừa qua, dân chúng chung quanh khu vực Bồ Ðề Ðạo Tràng đã kêu gọi và thực hiện một cuộc biểu tình nhằm phản đối dự tính tước bỏ danh vị Di Sản Thế Giới của Ðại Bồ Ðề Tự.Cho đến hôm nay thì UNESCO đã chính thức xác nhận rằng vấn đề này sẽ không xảy ra. Hai thành viên của UNESCO đã đến Bồ Ðề Ðạo Tràng để quan sát hiện trạng của khu vực chung quanh Ðại Bồ Ðề Tự, nơi được xem là cái nôi khai sinh Phật Giáo, họ cũng nói thêm rằng đã sẵn sàng để giúp đỡ chính phủ Ấn Ðộ bảo vệ kiến trúc lịch sử này.Một trong hai thành viên UNESCO nói “ Không có vấn đề tước bỏ danh vị Di Sản Thế Giới của ngôi chùa, sự kiện này chưa từng xảy ra trong quá trình hoạt động của tổ chức, UNESCO sẵn sàng bảo vệ và bảo tồn nó hơn, bởi vì đây là một khu vực di tích thế giới, chúng tôi đã gặp gỡ và thảo luận với viên chức Bộ Khảo Cổ chính phủ, hội đồng quản trị ngôi chùa và những nhân vật khác. Chúng tôi quyết định ngôi chùa phải được bảo vệ tránh ô nhiễm, tránh áp lực bởi mật độ dân cư và thiên tai, chúng tôi phải làm việc trong một khuôn khổ thời gian nhất định để kịp thời bảo toàn công trình này”.
Hạt Cát lược dịch tổng hợp từ hai nguồn tin dưới đây:
http://timesofindia.indiatimes.com/articleshow/1087516.cms
http://www.buddhistchannel.tv/index.php?id=4,1082,0,0,1,0

No 0288 New (DươngTiêu dịch)

Tin từ Trung Tâm Nghiên Cứu Tôn Giáo Tổng Quát Hoa Kỳ (American Institute of Holistic Theology)

Phật Giáo với sự tu tập rèn luyện bản thân và giúp đỡ mọi người sẽ đem lại một cơ thể khoẻ mạnh, một trí óc minh mẫn và một tinh thần an lạc thoải mái.

Phật Giáo đã ra đời và phát triển từ 2500 năm trước, nhưng mãi đến thế kỷ vừa qua, người Tây Phương mới thực sự nhận thức được tính chất khoa học, thực tế của tôn giáo này.
Giáo lý chính của Phật giáo là Tứ Diệu Đế, Đức Phật Thích Ca đã khai phá, đưa đường để nhân lọai có một đời sống an lạc và từ đó sẽ đạt được sự giải thoát, một trạng thái hoàn toàn thoát khỏi sự đau khổ vĩnh viễn.

Theo Nghiên cứu của học viện này, “Tình yêu” thật sự có nghiã bao la rộng lớn, là một hành động, một động từ, chứ không phải là một tình yêu hạn hẹp, lời nói suông hay là một danh từ mơ hồ.
Trung Tâm Nghiên Cứu Tôn Giáo Tổng Quát Hoa Kỳ có những chưong trình giảng dạy qua mạng lưới internet từ Cử Nhân tới Tiến Sĩ cho tất cả các tôn giáo mà bạn không cần phải rời nhà. Quý vị Tu sĩ, Cư Sĩ, Phật Tử cũng như tất cả mọi người có thể đăng ký lớp học online từ trang web:
http://www.aiht.edu/admissions/ , gọi số điện thoại miễn phí 1-800-650-4325,từ 8am đến 4:00 p.m giờ Houston hoặc email tới: admiss@aiht.edu .Địa Chỉ:2112 11th Avenue SouthSuite 520Birmingham, AL 35205-2841USA DươngTiêu Tóm Tắt ý chính. http://www.aiht.edu/doorways/buddhism_landing.aspx?adclfr=GGbuddhism
Đố Vui Trong Ngày

1. Có gì khác biệt trong "cái tốt tự nhiên" và "cái tốt do tu luyện"?
a. Cái tốt tự nhiên không bắt nguồn từ chủ tâm tu tập
b. Cái tốt của sự tu tập nói lên thái độ trưởng thành
c. Cái tốt tự nhiên lâu bền hơn cái tốt do tôi luyện
d. Câu a và b đúng

2. Phật Pháp thường nói đến hay giá trị một của bản thể (chơn đế), hai là thi thiết (tục đế). Vậy thì khi nấu canh chua cần cho vào ngò om, cách nấu đó là qui ước hay thiên nhiên?
a. Đó là qui ước. Cách chế biến thức ăn là tập quán chứ không là có giá trị thật sự
b. Đó là giá trị thiên nhiên. Có loại rau hợp với canh nầy không hợp với canh kia
c. Gồm cả hai. Văn hoá vốn là sự kết hợp giữa thiên nhiên và ước lệ
d. Tất cả đều sai. Chuyện nấu canh không liên quan gì tới Phật Pháp.

3. Vị tôn giả được Đức Phật gọi là đệ nhất trì luật thời Phật là:
a. Ngài Xá Lợi Phất
b. Ngài Ưu Ba Li
c. Ngài Ca Diếp
d. Ngài Ananda

4. Du Tử Lê viết bài thơ nầy:
TA ĐÃ CHUNG! - CÙNG MỘT CHỮ KHÔNG.

đừng tìm nhau nữa: trong kinh kệ
con chữ khôn cùng: những hóa thân.
đừng chờ nhau nữa: trong hơi thở
ta đã chung!
- cùng một chữ không.
Mẫu số nào được ghi trong kinh Phật về sự đồng nhất giữa bản thân và tha nhân:

a. Thân của mình rồi cũng sẽ hoại diệt như tử thi đã nhìn thấy
b. Ai cũng sợ đao trượng Xét mình thì không làm thương tổn tha nhân
c. Cảm nhận cái khổ của riêng mình mà sanh đại bi tâm với cuộc đời
d. Ba câu trên đều đúng

5. Lời dịch nào dưới đây lột được ý nghĩa của danh ngôn:
The result of joining two solitudes will always be a greater solitude - Redro Luis-Flores de Otuno

a. Kết quả hoà hợp của hai sự độc cư là sự độc cư có ý nghĩa lớn hơn
b. Sự gặp gỡ giữa ẩn sĩ không làm mất đi sự ẩn dật chân thật
c. Hội chúng với hằng ngàn tỳ khưu thanh tịnh không làm mất đi sự thanh tịnh
d. Sự độc cư cao quí sẽ không biến chất nếu đồng hành với một con người tương tự.

Thứ Hai, 25 tháng 4, 2005

Nhật Hành


Ngày: 25 Tháng 04 năm 2005

Tri chúng: Như Phuc

Môn học: Giảng Giải Kinh Văn Nghi Thức Tụng Niệm

Bài học: 1. Mục đích của tụng niệm theo truyền thống Phật giáo Nam Tôn


Giảng sư chính: ĐĐ Pháp Đăng

Giảng sư điền khuyết:

Vị Tăng hoặc Ni nói lời cầu nguyện đầu lớp học:

Xướng ngôn viên cho bài học: Dharma 10, Anitya,


Xướng ngôn viên cho tin tức: Anitya, Dương Tiêu, Tinh Tấn

Xướng ngôn viên điền khuyết:

Người mở room: Diệu Quang

Người mở nhạc và kinh tụng: Diệu Quang và anitya

Người post bài cho Room: mindvox


Người post bài riêng cho chư Tăng: Như Phuc

Trực room (op):

Thông báo (nếu có): Trang Ban Dieu hanh cua room DP : http://www.phapluan.com/dieuphap.html ==> BAN ĐIÊU HÀNH ==
> Trang Nhật Hành
==> Nhiệm Vụ và Quyền Hạn
Lớp Giảng Giải Kinh Văn Nghi Thức Tụng Niệm

1. Mục đích của tụng niệm theo truyền thống Phật giáo Nam Tôn

Tụng niệm là một hành trì quan trọng trong hầu hết các tôn giáo. Phật giáo không ngoại lệ. Ngay cả truyền thống Phật giáo nguyên thuỷ vẫn có những du nhập hình thức tín ngưỡng dân gian trong nghi thức tụng niệm. Tuy vậy sự hiểu biết rõ ràng yếu lý của tụng niệm chẳng những giúp người Phật tử thâm nhập lời Đức Phật dạy mà còn có được phương tiện diệu dụng mang lại ích lợi cho người khác. Rất nhiều người còn tìm thấy ở sự tụng niệm sự nhiệm mầu. Tất nhiên mỗi người có cảm nhận riêng. Dưới đây là một số mục đích của tụng niệm được ghi nhận trong các nghi lễ truyền thống của Phật giáo Nam Truyền.

a.Tụng niệm để lễ bái Tam Bảo
b.Tụng niệm để định tâm tĩnh trí
c. Tụng niệm cầu an lành
d. Tụng niệm để hồi hướng siêu độ
e. Tụng niệm để hộ niệm cho người sắp lâm chung
f. Tụng niệm để cầu phước
g. Tụng niệm cầu chư thiên gia hộ
h. Tụng niệm để đối trị sự quấy phá của phi nhơn
i. Tụng niệm để ghi nhớ kinh điển
j. Tụng niệm để thâm nhập Phật ngôn.
k. Tụng niệm để thí pháp
l. Tụng niệm để tạo năng lực nhiệm mầu
Phần lớn các khoá lễ đều là sự kết hợp nhiều khoá lễ nói trên.

Thảo luận
1. Thế nào là sự khác biệt giữa tụng, niệm và cầu nguyện?
2. Phải chăng tất cả điều dị đoan đều là mê tín?
3. Có thể nhờ tụng niệm mà giác ngộ giải thoát không?

No. 0262 (TinhTan dich)

Một thành viên của Thiền viện Dhammasala, anh John Marshall đã được thọ giới tỳ khưu ở Thai Lan

Tin tức từ mạng Dhammasala.org, ngày 18 tha’ng 4, 2005

Image hosted by Photobucket.comPerry, Michigan (USA) – Anh John Marshall, trước đây là một cư dân sống ở tiểu bang Michigan, vừa mới được thọ giới tỳ khưu ở Tu Viện Wat PhraRam 9 Kanjanapisek tại Bangkok, Thailan với Sư Trú trì Venerable Phra Thepyanawisit và được đặt pháp danh là Tỳ khưu Kusalo. Trong phạn ngữ Pali, chữ “Kusalo” có nghĩa “thông minh” hay “thiện xảo”. Tu viện Wat PhraRam 9 Kancanapisek, được thành lập năm 1991 dưới sự bảo trợ của Hoàng Gia Vương Quốc Thái Lan, Điện hạ Bhumipol Abduliadech và Công chúa Thepratanarachasuda. Một số thiện tín từ hai Tu Viện Wat PhraRam 9 Kancanapisek và Wat Dhammasala đã hộ độ cho Tỳ khưu Kusalo (Anh John Marshall). Thân mẫu của Sư, bà Ellen Marshall cùng hai vị tỳ khưu và một số thiện tín từ Perry, Trung Tâm Thiền MI - Dhammasala Forest Monastery – sẽ từ Mỹ du hành tới Thái Lan để tham dự lễ thọ giới tỳ khưu. Sau buổi lễ này, Ngài Venerable Ajahn Khemasanto là Sư Trú trì Tu Viện Dhammasala và Tu viện Ajahn Nanthagul đã đưa Tỳ khưu Kusalo đến Tu Viện Wat Phu Sangko Forest Monastery ở đông bắc Thái Lan thuộc quận Udon Thani. Tỳ khưu Kusalo sẽ tu học một thời gian tại tu viện này dưới sự giám hộ của Ngài Venerable Ajahn Wanchai là vị thầy cũ của Sư Trú trì Ajahn Khemasanto, và sẽ tiếp tục học Phật Pháp và ngôn ngữ Thái.
Tỳ Khưu Kusalo (Anh John Marshall) đã là một “sa di” tại Thiền viện Dhammasala Forest Monastery ở Perry, Michigan trước khi đến Thái Lan để thọ giới tỳ khưu.
http://www.buddhistchannel.tv/index.php?id=2,1056,0,0,1,0


No.0280 New ( SC Liễu Pháp dịch)
Quân đội Miến Điện sử dụng thành phố cổ Bagan cho những mục đích riêng


Tin từ Bagan Miến điện, ngày 24/4/05, bài của Thomas Crampton, đăng trên tờ International Herald Tribune

Gần chỗ uốn khúc của dòng sông Irrawaddy, những toà tháp gạch cổ kính có từ thế kỷ 13 vươn lên sừng sững giữa trời. Đó là những di tích lịch sử quan trọng nhất của đất nước Miến điện theo truyền thống Phật giáo.
Nhưng những ngôi tháp hình chóp này không còn là những cấu trúc duy nhất ngự trị giữa bầu trời khi hoàng hôn buông xuống nữa, bởi vì chỉ cách đó vài trăm mét, một cái đài quan sát bằng bê-tông cao 200 feet vừa mới được dựng lên giữa một vùng đất với hàng ngàn ngôi tháp cổ.
Những toà tháp vĩ đại này là chứng tích cho một nơi từng là kinh đô và là trung tâm của đơì sống Phật giáo Nguyên thuỷ. Những vị vua thời xưa đã tôn vinh cho niềm tin và uy quyền của họ bằng cách xây dựng những ngôi bảo tháp bằng gạch rất nguy nga, với nhiều tranh vẽ và tượng điêu khắc.
Bây giờ các nhà độc tài quân sự lãnh đạo đất nước này đang xây dựng thêm những toà nhà đúc bằng bê tông. Đài quan sát này nằm trong khu vực mà Liên Hợp quốc đã cố gắng trong nhiều thập kỷ qua để bảo vệ như là một di sản văn hoá thế giới.
Việc xây dựng này đã gạp phải những phản ứng kịch liệt. Những người bảo vệ di tích lịch sử và các nhà quản trị du lịch lên án dự án này, nhưng không ai dám chỉ trich chính phủ vì sợ bị trừng phạt.
Một nhân viên bảo vệ môi trường ở Miến điện nói: “Chúng tôi không thể chống lại chính phủ này bằng bất cứ cách nào vì họ nắm quyền kiểm soát hoàn toàn.”
Cùng với đài quan sát, một toà lâu đài bằng bê tông cũng đang được xây dựng, mà nếu tưởng tượng chính xác, sẽ là sự tái tạo cơ ngơi của một vương quốc đã từng cai trị một phần của Đông Nam Á.
Một người ủng hộ công cuộc bảo vệ môi trường thiên nhiên muốn giấu tên ở Thái lan nói: “Họ đang đào bới khu khảo cổ quý giá này để xây dựng những cái hồ nhân tạo, sân golf, và bây giờ là một toà nhà dựa trên sự tưởng tượng của họ về một lâu đài. Điều đó thật đáng buồn.”
Đã từng được Marco Polo miêu tả vào cuối thế kỷ 13 như là một quần thể nguy nga của những ngôi tháp dát vàng và những tháp chuông, thành phố cổ này cũng đã chịu nhiêu thăng trầm. Quân xâm lược Mông cổ đã từng tàn phá vương quốc này. Tiếp theo là những đám người Shan của các bộ lạc du cư đến đây đập tan những tượng Phật để kiếm vàng bạc. Rồi một trận động đất khá nặng năm 1975 đã làm cho nhiều toà tháp bằng gạch đã sụp đổ.
Christian Manhart, một chuyên gia quy hoạch của UNESCO nói rằng “họ dùng những vật liệu không đúng quy cách để xây những công trình sai quy cách trên những toà tháp cổ nguy nga tráng lệ.”
Một nhân viên chính phủ về hưu nói: “Đài quan sát này là một chuyện gây xôn xao dư luận và khiên cho công chúng nổi giận nếu người ta biết cái gì đang xảy ra cho một trong những di tích lịc sử vĩ đại nhất thế giới. Và dĩ nhiên người ta cũng biết rằng từ lâu nay việc trùng tu Bagan chỉ là một công cụ của các chính khách Miến điện.”
(Liễu Pháp lược dịch)


http://feeds.bignewsnetwork.com/redir.php?jid=
5301f833bf3f45a0&cat=f97ff7b11934dbb6

No. 0281 (Hạt Cát dịch)

Bạch Mã Tự, ngôi chùa Phật Giáo cổ xưa nhất Trung Quốc

Image hosted by Photobucket.com

Từ Ðời Tần và Tây Hán, đã có tăng sĩ từ Thiên Trúc (cổ Ấn Ðộ ) lui tới Trung Quốc du thuyết và cũng đã có nhiều thiện tín, tuy nhiên thời bấy giờ không có một trú xứ nào cho tăng sĩ lưu ngụ, mãi đến đời Ðông Hán, Hán Minh Ðế năm thứ 11 niên đại Vĩnh Bình mới kiến tạo Bạch Mã Tự ở Lạc Dương, Hà Nam, vì vậy, Bạch Mã Tự là ngôi Phật Tự đầu tiên tại Trung Quốc, đến nay đã hơn 1900 năm, được tôn xưng là “Tổ Ðình”, “Thích Nguyên” của Phật Giáo Trung Quốc. Chính vì vậy Bạch Mã Tự có một địa vị hết sức đặc biệt đối với Phật Giáo Trung Quốc.
Truyền thuyết nói rằng một đêm trong năm 64 sau Tây Lịch, Hán Minh Ðế Lưu Trang (25-220) nằm mộng thấy một “kim nhân -người vàng” cao 12 feet, và hào quang của kim nhân tỏa ra chiếu sáng cả gian phòng. Buổi sáng lâm triều, nhà vua thuật lại cho quần thần và được biết rằng người mà nhà vua nằm mộng thấy chính là Ðức Phật. Hán Minh Ðế sai hai sứ thần Thái Linh và Tần Cảnh cùng sứ đoàn 18 người sang Thiên Trúc để thỉnh kinh. Vào năm 67 sau Tây Lịch, nhóm sứ thần của Hán Minh Ðế trở về Lạc Dương, thỉnh hai Ngài Ca Diếp Ma Ðằng Kasyapamatanga và Trúc Pháp Lan Dharmaranya, hai vị Phạm Tăng từ Ấn Ðộ sang Trung Quốc truyền giáo, chở theo kinh điển Sankrist và cả tượng Phật Thích Ca Mâu Ni bằng ngựa trắng. Minh Ðế nhân đó cho kiến tạo một ngôi tự viện để thờ phụng tượng Phật Thích Ca và cất giữ kinh sách đặt tên là Bạch Mã Tự.
Image hosted by Photobucket.comHai Ngài Ca Diếp Ma Ðằng và Trúc Pháp Lan ở tại Bạch Mã Tự dịch “ Tứ Thập Nhị Chương Kinh” cũng là bộ kinh được dịch ra Hán Ngữ đầu tiên. Năm Gia Bình nhị niên ( năm 250 sau Tây Lịch), Tỳ Khưu Kha Ðàm Già La du hóa đến đấy, chủ trương mọi hành vi nhất thiết tuân theo lời Phật tổ dạy, tăng chúng Lạc Dương thỉnh Ngài dịch kinh giới luật, nhân đó bộ kinh “ Tăng Chỉ Giới Tâm” được Ngài Kha Ðàm Già La dịch ra là bộ Kinh Giới Luật đầu tiên tại Trung Quốc.
Image hosted by Photobucket.com

Bạch Mã Tự đến nay đã có nhiều thay đổi, nó được xây dựng lại vào thời nhà Minh (1368-1644), với chu vi 40 ngàn mét vuông, cổng tam quan bằng đá xanh có vài mẫu đá còn lại từ thời Ðông Hán.
Ðược phân bố dài theo trục chính hướng Bắc là Thiên Vương Ðiện, Ðại Phật Ðiện, Ðại Hùng Ðiện, Bì Lô Ðiện, Tiếp Dẫn Ðiện,Vân Thủy Ðường , Tổ Ðường , Thiền đường, Thanh lương đài, Tế Vân Tháp 13 tầng cao 25 mét cũng được xem như là ngôi tháp đầu tiên tại Trung Quốc. Trong điện bài trí tượng Phật Thích Ca, Phật A Di Ðà, Phật Di Lặc, Phật Dược Sư và nhiều hình tượng Bồ Tát khác, trên tường trang trí bằng nhiều bức bích họa (tranh vẽ thẳng lên tường).


Bạch mã tự còn có một hiện tượng thần kì, gọi là " Mã tự chung thanh - Tiếng chuông Bạch Mã Tự ", là đệ nhất trong tám cảnh đẹp Lạc Dương. Truyền thuyết rằng mỗi khi đêm trăng thanh gió mát, trong canh khuya tĩnh mịch, tiếng chuông chùa Bạch Mã có thể vang xa tới mười dặm liên tục không dứt .
Hạt Cát lược dịch tổng hợp từ các web site:
http://chinatravelz.com/china/Henan/Luoyang/baimasi/index.asp
http://www.people.com.cn/GB/14838/22117/28532/28536/1943411.html Hoa Văn
http://www.epochtimes.com/gb/3/5/19/n314949.htm Hoa Văn

http://chinatravelz.com/china/Henan/Luoyang/baimasi/index.asp