Thứ Tư, 20 tháng 4, 2005

Lớp Lịch Sử Phật Giáo

Những Phần Hành Của Tri Chúng

Tri Chúng là vị có trách nhiệm điều hợp sinh hoạt trong một đạo tràng. Vị nầy có thể hiểu là "on-site-manager" của chương trình sinh hoạt hằng ngày. Phần hành của vị tri chúng gồm có:


1. Chuẩn bị chương trình sinh hoạt cho mỗi ngày bằng cách liên lạc với chư Tăng và các vị chủ nhiệm về thời khoá biểu, giảng sư, giáo trình, MC, ops, nghi thức, các thông báo.
2. Giải quyết những vấn đề trong ngày, nếu nghiêm trọng có thể thỉnh ý chư tăng
3. Cung thỉnh một vị Tăng Ni nói lời cầu nguyện mở đầu lớp học. Vị tri chúng sẽ là người nói lời cảm tạ khi lớp hoàn tất.


Sinh Hoạt Trong Ngày:

Ngày

Môn học:

Bài học:

Giảng sư chính:

Giảng sư điền khuyết:

Vị Tăng hoặc Ni nói lời cầu nguyện đầu lớp học:

Xướng ngôn viên cho bài học: Võ Nga, Như Phúc

Xướng ngôn viên cho tin tức: Tinh Tấn, A_B, Dương Tiêu

Xướng ngôn viên điền khuyết: Anitya

Người mở room: Diệu Quang

Người mở nhạc và kinh tụng: Mindvox

Người post bài: Như Phúc, Mindvox

Trực room (op):

Thông báo (nếu có)


Bài Đọc của MC:

Phần I Lễ Tam Bảo
Phần này đọc sau khi dứt kinh tụng


Namo Buddhaya
Con là…..kính đảnh lễ chư Tôn Đức Tăng Ni và quý đạo hữu trong room Diệu Pháp.
Kính bạch chư Tôn Đức, Kính thưa quý đạo hữu .

Hôm nay ngày …..tháng 04 năm 2005, Phật lịch 2548. Đây là lớp Phật Học Diệu Pháp do Thượng Tọa Thích Hoằng Pháp, Thượng Tọa Trí Siêu, Thượng Tọa Giác Đẳng chủ trì, được truyền thanh qua mạng Paltalk mỗi ngày, giờ VN nhằm 7:30 đến 9:30 tối, giờ Houston 7:30 đến 9:30 sáng, giờ NY từ 8:30 đến 10:30 sáng , giờ Cali 5:30 sáng, giờ Paris 1:30 trưa, giờ Sydney 10:30 tối đến 1:00 sáng. Chương trình lớp học gồm có Kinh Tụng, Lễ Tam Bảo, Giảng Giải Bài Học, Thảo Luận, Tin Tức Phật Sự, Đố Vui Học Đạo và Hồi Hướng.

Kính thưa quý vị hôm nay là buổi khai giảng lớp Lịch Sử Phật Giáo với phần đầu Cuộc Đời Đức Phật Thích Ca Mâu Ni.
Chư Tăng sẽ thảo luận những điểm dưới đây:
Tích cách quan trọng của Đức Phật lịch sử trong Phật học
Cuộc đời Đức Phật và sự tu tập của người Phật tử
Vài điểm dị đồng giữa các tông phái Phật Giáo về Phật sử
Sau đây xin tất cả chúng ta trang nghiêm tam nghiệp Thân Khẩu Ý, đồng nhất tâm thành kính đảnh lễ Tam Bảo.

Nhất Tâm Đảnh Lễ Ðức Như Lai Bậc Ứng Cúng Chánh Biến Tri Minh Hạnh Túc,ThiệnThệ Thế Gian Giải, Thiên Nhơn Sư, Phật Thế Tôn.

Nhất tâm đảnh lễ Chánh Pháp do Phật thiện thuyết, thiết thực hiện tiền, vượt ngoài thời gian, đến để chứng nghiệm, hiệu năng hướng thượng, trí giả thân chứng.


Nhất tâm đảnh lễ Chư Tăng đệ tử Thế Tôn bậc diệu hạnh, trực hạnh, như lý hạnh, chân chánh hạnh, gồm bốn đôi tám vị, đáng nhận lễ phẩm, tặng phẩm, tế phẩm, kính lễ, là phước điền vô thượng trong đời.


Chúng con xin thành tâm cung thỉnh TT Giác Đẳng lên khai giảng lớp Lịch Sử Phật Giáo. Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Phần III này đọc khi kết thúc phần đố vui và giảng sư mời Pt MC lên hoàn mãn buổi học

Phần III : Giới thiệu bài học hôm sau/ Hồi Hướng

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật,
Sadhu! Sadhu ! Lành Thay!
Con là Phật Tử …thay mặt đại chúng trong room, chúng con thành kính tri ân TT Hoằng Pháp, TT Trí Siêu, TT Giác Đẳng, SC..., ÐÐ .... đã mở lòng bi mẫn giảng dạy những lời pháp nhũ hữu ích cho chúng con , đã hướng dẫn, dìu dắt chúng con tiến bước trên hành trình tu tập hầu mong đem lại an lạc trong đời sống và hướng đến đạo quả giải thoát luân hồi ngay trong kiếp hiện tại này. Kính cám ơn đại chúng đã lắng tâm thanh tịnh thính pháp. Chúng con kính chúc chư Tôn Đức thân tâm thường lạc, đạo hạnh trang nghiêm, tâm bồ đề viên đắc, Phật Đạo chóng viên thành, kính chúc quý đạo hữu luôn an lạc cát tường trong chánh pháp nhiệm màu của Đức từ phụ Thích Ca Mâu Ni Phật.

Kính Bạch chư Tôn Đức, kính thưa quý đạo hữu, ngày mai chúng ta sẽ có lớp học Phật Pháp Phổ Thông
, do TT Hoằng Pháp, TT Trí Siêu và TT Giác Đẳng, ÐÐ ..., SC....chủ trì, với sự điều hợp chương trình của .… Sau đây xin chúng ta đồng nhất tâm hồi hướng.

Nguyện công đức đã làm
Kết duyên lành giải thoát
Nguyện hồi hướng chư thiên
Hàng thiện thần hộ pháp
Nguyện các bậc hữu ân
Ðồng ân triêm lợi lạc
Nguyện chánh pháp trường tồn
Chúng sanh cầu giải thoát
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Phần IV Lời cảm tạ

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca MâuNi Phật

Con là …
Một lần nữa, thay mặt đại chúng trong room, chúng con thành kính tri ân chư Tôn Đức đã bỏ thời giờ quý báu vào room giảng dạy cho chúng con. Kính cám ơn quý đạo hữu …., ….. đã yểm trợ cho các phần hành trong lớp …được hoàn tất mỹ mãn. Kính chào tạm biệt tất cả, xin hẹn gặp lại ngày mai cũng vào giờ này. Room sẽ được đóng trong vài giây tới.Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật


Bài Học:

Hôm nay là ngày Thứ Tư 20 - 4 - 2005 nằm trong tuần lễ khai giảng các lớp học Room Diệu Pháp. Đây là buổi khai giảng lớp Lịch Sử Phật Giáo với phần đầu Cuộc Đời Đức Phật Thích Ca Mâu Ni.
Chư Tăng sẽ thảo luận những điểm dưới đây:
1. Tích cách quan trọng của Đức Phật lịch sử trong Phật học
2. Cuộc đời Đức Phật và sự tu tập của người Phật tử
3. Vài điểm dị đồng giữa các tông phái Phật Giáo về Phật sử


Tin Tức:

No. 0244 NEW
Liên Đoàn Phúc Âm Thế Giới thảo luận về dự luật "Chống cải đạo" của Tích Lan tại Liên Hiệp Quốc


Posted: Monday, April 11 , 2005, 19:57 (GMT)

Liên Đòan Phúc Âm Thế Giới đã chủ tọa một hội nghị đặc biệt tại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc về Nhân Quyền tại Geneve trong tuần qua nhấn mạnh đến sự ngược đãi tín ngưỡng tại Tích Lan. Mục đích chính của hội nghị nhắm vào dự luật chống cải đạo đang được đệ trình lên Quốc Hội Tích Lan.

Ông Tổng Thư Ký Liên Đòan Phúc Âm Tích Lan, Godfrey Yogarajah, và một phát ngôn nhân trong buổi hội thảo ngày 5 tháng 04, 2005 đã nói “Luật pháp áp dụng vào tự do tôn giáo có nghĩa là bảo vệ các nhóm tôn giáo thiểu số, nhưng dự luật này đang cố gắng bảo vệ Phật Giáo không phải nhóm thiểu số”.

Trong một văn thư về tự do tôn giáo quốc tế đệ đạt lên Hội Đồng Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc, Liên Đoàn Phúc Âm nói rằng Đạo luật Chống Cải Đạo đệ trình bởi Đảng JHU lên Quốc Hội Tích Lan vào hồi tháng 7, năm 2004 đã có mục đích xác định ủng hộ Phật Giáo quốc nội Tích Lan. Hiến tính trong đạo luật này đã gây tranh luận năm ngoái tại Tối Cao Pháp Viện Tích Lan vì hai tiết đoạn trong dự luật đề xuất bất hợp hiến.
Nếu được ban hành, dự luật này sẽ đi trái ngược với tự do tôn giáo bảo đảm trong Điều Khỏan 10 của Hiếp Pháp.

Căn cứ theo Liên Đoàn PhúcÂm, Đảng JHU hiện thời đang tái sọan thảo dư luật với hy vọng được ban hành trong ngày gần đây. Song song với vấn đề này là việc tu chỉnh hiến pháp sẽ thượng tôn Phật Giáo như là tôn giáo chính, một lần nữa , Phật Giáo sẽ bị cấm cải đạo tại Tích Lan.

Các đạo luật này và những đạo luật khác giống như vậy nhắm vào chuyện cấm đoán cải đổi tôn giáo của một người, mục sư đoàn quốc tế phúc trình trong bản báo cáo “ Họ đề xuất hình phạt, kể cả phạt vạ, bắt giam đối với những ai bị kết án cải đạo hoặc giúp người khác cải.

Liên Đoàn Phúc Âm tường trình rằng ngay cả trong trường hợp đạo luật không được thông qua, Bộ Trưởng Bộ Phật Giáo dự trù ban hành một đạo luật chính phủ với sự ủng hộ của Nội Các sẽ có hiệu lực cấm đoán cải đạo đối với mọi tín ngưỡng.

Căn cứ vào mục sư đoàn, bạo động chống Cơ Đốc Giáo gia tăng thảm khốc trong vòng hai năm qua, đúng vào thời điểm dự luật chống cải đạo được đề xuất tại Tích Lan.

Ông Buckingham, chủ tọa buổi hội thảo nói “Đây là những cơ hội làm sáng tỏ những vấn đề rất thời thượng này, điều này để cho chính phủ Tích Lan biết rằng thế giới đang quan sát thái độ của họ đối với các tôn giáo thiểu số.

Giám Đốc Hành Chánh Liên Đoàn Phúc Âm Hội Đồng Tự Do Tôn Giáo, Johan Candelin phát biểu: “Đây là một ngày quan trọng đối với môn đồ Phúc Âm, nó biểu hiện sự quan trọng của Liên Đoàn Phúc Âm với tiếng nói thường xuyên tại Hội Đồng Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc ”

Trong thời gian tham dự hội thảo tại Geneve, Đoàn đại biểu WEA cũng đã gặp gỡ Đặc Phái Viên Hội Đồng Tự Do Tôn Giáo Asma Jahangir, người sẽ du lịch thăm viếng Tích Lan trong tháng Năm .

Hạt Cát lược dịch


http://feeds.bignewsnetwork.com/redir.php?jid=a99ed5241076b499&cat=f97ff7b11934dbb6

No.0239 NEW (tinhtan dich)

Tuy khiếm thị nhưng vẫn thấy Giáo Pháp

Viết bởi PENCHANG CHAROENSUTHIPHAN, Báo Bangkok Post, 7 tháng Tư, 2005

Cuộc cắm trại cho thấy những người trẻ tuổi dù bị mất thị lực nhưng không tăm tối trên con đường dẫn đến Giác ngộ.

Bangkok, Thailand – Vào khoảng 40 thanh thiếu niên khiếếm thị tham gia cuộc cắm trại để học Giáo Pháp tại trung tâm Sathian Dharma Satharn tại vùng Ram Intra đã nhận thức rằng thị lực không phải là điều thiết yếu để đạt được hạnh phúc hay giác ngộ.
Trung tâm và Hội Khiếm Thị Thái Lan đã tổ chức cắm trại cho những thanh thiếu niên bị mất thị lực trong thành phố. Một cuộc cắm trại tuơng tự trong 3 ngày sẽ được tổ chức trong các quận.


Anh Noppadol Boonleelakul, một sinh viên 23 tuổi ở Đại Học Srinakharinwirot, đã nói rằng đó là một cơ hội tốt nhất cho anh để thực hành Giáo Pháp và lắng nghe Chư Tăng và một Ni Sư giảng dạy Giáo Pháp.

Anh nói rằng kinh nghiệm làm cho anh bớt căng thẳng và cho anh một viễn ảnh mới về đời sống dưới sự chính yếu của Giáo Pháp và Triết học.

Anh nói: “Tôi thật vui mừng, đặc biệt trong khi đi thiền hành, khi tôi chú tâm đặt chân xuống đất. Mặc dù chúng tôi không thấy sự vật, chúng tôi cảm nhận mọi vật chung quanh chúng tôi – bóng cây và tiếng châu chấu.”

Ông Noppadol, học dương cầm và đã xuất bản quyển nhạc đầu tiên “Joe, Dương cầm thủ”, nói rằng thị lực của ông bị hư hại, nhưng tâm linh thì không, và ông thông hiểu được Phật Pháp nhiều. Ông đã có kinh nghiệm đầu tiên về nghiệp sau khi lấy cắp tờ giấy chữ nổi Braille của người bạn. Ông sẽ cố gắng làm giảm nghiệp xấu bằng những hành động thiện và dạy dương cầm cho các người mù tại trường Bangkok.

Em Onchaporn Shinsrisook, 15 tuổi, một nữ học sinh trường Sri Ayutthana, đã nói rằng em rất cảm kích sự lưu tâm của Ni Sư Sansanee Sathiansut là người mù có thể làm cho đời sống của họ có ý nghĩa bằng những hành động thiện. Em nói: “Con thường buồn bực và tức giận và cãi nhau với bạn khi chúng chọc ghẹo con. Tóm lại, mù lòa là một sự kiện con nên chấp nhận. Con nên sống một cách thông minh. Con sinh ra bị mù, nhưng con đủ tốt để làm bất cứ việc gì mà người sáng mắt có thể làm.” Em Onchaporn mơ ước trở thành một giáo viên dạy người mù.

Bà Sasima Mameemai, một thành viên trong ban tổ chức của Hội Người Mù Thái Lan, nói rằng cuộc cắm trại đã cho phép những người trẻ này học và áp dụng Giáo pháp vào đời sống hằng ngày, nhờ thế họ có thể sống hạnh phúc và đạo đức mặc dù có những chướng ngại.
Bà cảm ơn Ni Sư Sansanee là vị chịu trách nhiệm cho Trung Tâm Sathian Dharma Satharn, đã cho phép trẻ mù tham dự cuộc cắm trại.

Tại buổi cắm trại, Ni Sư Sansanee đã thuyết giảng dưới bóng mát của một cội cây Bồ đề lớn ở trong trung tâm. Ni Sư dạy những thanh thiếu niên sống một đời sống khoan dung, yêu thương, và rộng lượng. Ni Sư nói: “Chúng ta nên sống một đời sống giúp đỡ người khác mà không thiên vị, giống như bóng cây che mát mọi người một cách đồng đều.”

(tinhtấn dịch)

http://www.buddhistchannel.tv/index.php?id=1,1004,0,0,1,0


No. 0260 NEW (NPV dich)

Trung Tâm Phật Giáo được chấp thuận cho kiến tạo cơ sở mới.

Article Published: Wednesday, April 13, 2005 - 9:16:02 PM PST
By Ivy Dai , Staff Writer

Image hosted by Photobucket.com LOS ANGELES- Sau một cuộc tranh chấp dai dẳng giữa hai nhóm chống đối nhau, Hội Ðồng Kế Họach Khu Vực hôm thứ tư đã phê chuẩn khu đất tám mẫu dành kiến tạo một ngôi chùa tại Rowland Heights. Một thành viên của trung tâm nói rằng "Tôi thích chí lắm, anh có thể tin không ? Chúng tôi đã chờ đợi bảy năm"

Năm 1998, Trung Tâm Phật Giáo Yuan Yung California ở Los Angeles đệ đơn xin kiến tạo trung tâm mới tại đường Fullerton và Pathfinder ở Rowland Heights, nhưng phải chờ đợi bãi bỏ lệnh đình hoãn hoạt động của ngôi nhà thờ mà họ đã mua trong sáu năm.

Không lâu nữa thành viên của ngôi chùa sẽ có một trung tâm tôn nghiêm mới gồm 15 tòa nhà chiếm khoảng 60 ngàn square feet, tịnh thất cho 32 tu nữ và phòng ốc cho 30 đồ chúng đến tu học mỗi ba tháng trong năm.

Quản tự viên hy vọng rằng họ có thể bắt đầu công trình vào năm 2006. Họ đang thương lượng với hiệp hội gia chủ lân cận để mở một con đường xuyên qua đường Pathfinder từ công viên Pathfinder.
Tổ chức cộng đồng muốn cắm một ngọn đèn giao thông tại Fullerton and Pathfinder vì nó sẽ làm giảm bớt lưu lượng xe cộ qua lại công viên và ngôi chùa cũng như làm giảm bớt con số tai nạn chết người tại ngã tư.


Căn cứ theo ông Mike Popovec, chủ tịch Hội đồng Ðiều hành Ðịa hạt, lúc đầu Hội đồng dự định phản đối, nhưng sau đó đã đi vào thương lượng với ban quản trị nhà chùa.

Cư dân Simon Lu, người dẫn đầu một nhóm khoảng hơn chục nhân số phản đối công trình kể trên, muốn hạ tòa nhà chính của trung tâm xuống và cấm chỉ khách viếng thăm ngôi chùa đến từ ngoại ô.
( NPV lược dịch)

ttp://www.pasadenastarnews.com/Stories/0,1413,206~22097~2815379,00.html#

Bản tin dự bị:
No. 0265 ( HC dich)

"Chấm dứt Bom nguyên tử", nhóm "Bộ Hành Hòa Bình" viếng thăm trung tâm 3 Miles Island.

Autor(a): peacehq Fecha: 6:48pm Martes 19 Abril

Harrisburg. PA-Hôm thứ hai, một tổ chức quốc tế gồm khỏang 35 người, kể cả 3 tu sĩ và một ni sư Phật Giáo sẽ thực hiện một buổi cầu nguyện hòa bình bên ngoài lò phản ứng hạt nhân “ Three Miles Island”. Cuộc đi bộ “ Quốc tế Bộ Hành Hòa Bình chấm dứt bom nguyên tử” bắt đầu từ Baughman United Methodist Church tại New Cumberland khoảng 8:00 giờ sáng và đi bộ 15 dặm để tới 3 Miles Island “Tam Lý Ðảo” vào lúc 3:00 chiều. Sau một buổi cầu nguyện, họ sẽ tiếp tục tới nhà thờ Grace United Methodist ở Harrisburg. Thăm viếng trung tâm nguyên tử là một phần trong chương trình 7 tuần lễ hành hương từ Cổng Y-12 TrungTâm Vũ Khí Hạch Nhân tại Oak Ridge tới Tổng Hành Dinh của Liên Hiệp Quốc ở New York.
Họ bắt đầu khởi hành vào hôm thứ hai 14 tháng 03 tại Cổng Y-12, nơi yểm trợ chế tạo quả bom "Cậu bé con- Little Boy" đã tàn phá Hiroshima, Japan, 60 năm về trước tính tới tháng Tám này. Hành nhân sẽ tới thành phố NY vào đầu tháng Năm, đồng hành với họ là Thị Trưởng của thành phố Hiroshima và 2 nạn nhân sống sót. Sự có mặt của họ trùng hợp với đợt Hội Nghị Duyệt Xét Hiệp Ước Hạn Chế Vũ Khí Nguyên Tử Hủy Diệt Hàng Lọat( NPT), trung tâm quôc tế thỏa hiệp giải trừ vũ khí nguyên tử. Bất kể Hoa Kỳ đã ấn ký Hiệp Ước NPT và tình nguyện giải giới, Y-12 vẫn tiếp tục chế tạo các bộ phận vũ khí và nâng cấp kho hạch nhân quốc gia.
Hành nhân tụ tập lại từ nhiều nơi trên địa cầu, có đại diện Úc, Nhật, Tây Phi, Áo, và Hoa Kỳ. Họ dự định cất lên tiếng nói phản đối Hoa Kỳ trên đà vi phạm Hiệp Ước NPT đến Hội Nghị và khẳng định rằng duy trì và chế tạo vũ khí hạch nhân làm xâm hại đến việc xây dựng cộng đồng quốc tế và hòa bình thế giới.

Dọc theo lộ trình, hành nhân đã trao đổi với các nhà chính trị, nhà thờ và các tổ chức cộng đồng về Hiệp Ước NPT và Trung Tâm Vũ Khí Hạch Nhân Y-12. Họ mang theo những bức thư của Thị Trưởng Hiroshima ủng hộ nhóm Bộ Hành Hòa Bình và mời mọc các Thị Trưởng thành phố gia nhập chiến dịch quốc tế " Thị Trưởng cho Hòa Bình", hoạt động nhắm tới việc tiêu hủy hoàn tòan hạch nhân vào năm 2020.


Cuộc bộ hành được bảo trợ bởi chiến dịch "Thị Trưởng cho Hòa Bình", " Dấu Chân cho Hòa Bình", "Hành Hương Hòa Bình Quốc Tế", tổ chức Nipponzan Myohoji và Liên Hiệp Môi trường Hòa Bình Oak Ridge. Nhóm bộ hành sẽ lên đến cao độ với một lực lượng khổng lồ tại Central Park, New York CiTy vào ngày 01 tháng 05.

( Hạt Cát lược dịch)


Post end:

Xin Quý vi. vào Ðây http://phapluan.com/huongdanchuongtrinh.html Ðê² lâ'y bài hu*ó*ng dâ~n cu²a room Diê.u Pháp

Xin mo*`i vào www.phapluan.com , www.Dieuphap.com, hoå.c www.dieuphap.net ddê² lâ'y bài ho.c và các bång gia²ng cu²a Quí Chu* Tôn Ðú*c, xin ca²m o*n

Xin mo*`i Quý vi. vào Trang Đô’ Vui: http://www.phapluan.com/cauhoiphathoc.html

Xin mo*`i Quý vi. vào trang Tin Túc Phâ.t Giáo: http://www.phapluan.com/tintuc.html


Thu*a quý vi. Ló*p Dieu Phap, bå't ddâ`u tu*` 7:30pm VN = 10:30pm Sydney = 2:30pm Paris = 5:30am Calif = 7:30am Texas = 8:30am New York

Kính Thu*a Ða.i Chúng ló*p ho.c Dieu Phap mô~i ngày bå't Ðâ`u tu*` 7:30 Ðê'n 10:00 mô~i tô'i giò* VN. Chu*o*ng trình nhu* sau: 7:37 khoá lê~ Nhâ.t Hành // 8:00 Chu* Tång gia²ng gia²i Phâ.t Pháp // 8:45 Chu* Tång gia²ng các câu ho²i và câu tha²o luâ.n // 9:45 tin tú*c Phâ.t su*. // 10:00 hoàn mãn. Kính mò*i Ða.i Chúng tham du*.

Tho*i` khoá biêũ sinh hoa.t hàng tuâ`n Room Diê.u Pháp: Thú* 2: Gia²ng Gia²i Kinh Vån, Nghi Thú*c Tu.ng Niê.m // Thú* 3: Phâ.t Ho.c Co* Ba²n // Thú* 4: Phâ.t Giáo Su*² // Thú* 5: Phâ.t Ho.c Phô² Thông // Thú* 6: A Ty` Đàm // Thú* 7: Gia²ng Gia²i Thìên Ho.c // Chu² Nhâ.t: Kinh Pháp Cú
======

Hu*ó*ng dâñ tinh thâ`n: Ty` khu*u Giác Chánh (TT Thich Hoang Phap)

Ðô`ng chu² nhiê.m: Ty` Khu*u Giác Gió*i (Trí Siêu) - Ty` Khu*u Giác Ðå²ng

Gia²ng Su*: Ty` khu*u Giác Chánh - Ty` Khu*u Giác Gió*i (Trí Siêu) - Ty` Khu*u Giác Ðå²ng - Ty` Khu*u Giác Nguyên (Uyên Minh) - Ty` Khu*u Pháp Nhiên (Lá Bô'i) - Ty` Khu*u Pháp Ðång- Ty` Khu*u Tuê. Quyê`n, Ty` Khu*u Tuê. Duñg

Niêm Yê't trong room: Diê.u Quang, Mindvox, Anitya, Minh Ha.nh

MC và op: Su* Cô Diê.u Ti.nh, Su* Cô Liêũ Pháp, Anitya, Sangkhaly, Gió*i Hu*o*ng, Minh La.c, Chánh ha.nh,Tinh Tâ’n, Ha.t Cát Mindvox, Khánh Vån, Nhu* Khánh, Du*o*ng Tiêu, Delta 74, Diê.u Khiêm, Diê.u Quang, Nhu* Phúc, Dharma10,Tieu Long Nhu

Ky² thuâ.t: Mindvox,

Thâu âm bài gia²ng: Mindvox, Anitya, Dharma10, Diê.u Quang

Chuyê²n thành vån ba²n các bài gia²ng: Nhu Thoai, Vô Danh, tridat_1, Boi Ngoc, hlnhathoa

Webmaster website dieuphap.com: Thiê.n Pháp & Minh Ha.nh

Webmaster website phapluan.com: Dharma10 (Winnie Nga Vo)


Biên soa.n bài ho.c hå`ng ngày: Ty` Khu*u Giác Gió*i (Trí Siêu) - Ty` Khu*u Giác Ðå²ng - Ty` Khu*u Giác Nguyên (Uyên Minh) vó*i su*. phu. giúp cu²a Nhu* Khanh

Nha.c phâ²m "Tam Ba²o Ca" - Lo*`i : Ty` Khu*u Giác Ðå²ng - Nha.c: Võ Tá Hân - gio.ng hát cu²a ca si~ Ba²o Yê'n - Album: Tru*o*`ng Ca Phâ.t Su*² - Eastern Music

Kinh Lê~ Tam Ba²o, Kinh Hô`i Hu*ó*ng y cú* theo ba²n kinh tu.ng cu²a Giáo Hô.i Tång Già Nguyên Thu²y Viê.t Nam - Vô U*u Publication 2002 - Chu* Tång và Phâ.t tu*² chùa Pháp Luân tu.ng

Nha.c phâ²m "Phúc Nguyê.n" - Lo*`i : Ty` Khu*u Viên Minh - Nha.c: Võ Tá Hân - gio.ng hát cu²a ca si~ Ba²o Yê'n - Album: Dâng Hu*o*ng - Eastern Music

Hình a²nh bài ho.c trong trang web dieuphap.net do hoa. si~ P. Wickramanayaka - trích tu*` Treasure Of Truth - tác gia² Ven. Weragoda Sarada Maha Thero

Ba²n Anh ngũ* cu²a Phra Khantipàlo & Ba²n Pàli lâ'y tu*` trang web Budsas.org do Dr. Bình Anson thu*.c hiê.n

Ba²n Hán Viê.t cu²a Thu*o*`ng Ba²n Ða.i Ði.nh - Á Nam Trâ`n Tuâ'n Kha²i phiên âm - Nhu* Khanh Ðu*a vào vi tính

Mo.i liên la.c xin go*²i vê`: Ty` Khu*u Giác Ðå²ng, Chùa Pháp Luân, 13913 S. Post Oak Rd, Houston TX 77045, USA, Tel. 713-433-4364 hoå.c 281-216-3588, E-mail: giacdang@phapluan.com

Thứ Ba, 19 tháng 4, 2005

Lớp Phật Học Cơ Bản

Hôm nay là ngày Thứ Ba 19 - 4 - 2005 nằm trong tuần lễ khai giảng các lớp học Room Diệu Pháp. Đây là buổi khai giảng lớp Phật Học Cơ Bản. Tuần tới sẽ trở lại giáo trình đang được giảng dạy.

Chư Tăng sẽ thảo luận những điểm dưới đây:
Có nên phân ra sự khác biệt Phật Học cho người xuất gia và người tại gia?
Có nên loại bớt Tính Tôn Giáo, Tính Triết Học trong Phật học?
Một số điều cần cải thiện trong sự hướng dẫn Phật Pháp
Không có phần đố vui hôm nay.
Những Phần Hành Của Tri Chúng

Tri Chúng là vị có trách nhiệm điều hợp sinh hoạt trong một đạo tràng. Vị nầy có thể hiểu là "on-site-manager" của chương trình sinh hoạt hằng ngày. Phần hành của vị tri chúng gồm có:


1. Chuẩn bị chương trình sinh hoạt cho mỗi ngày bằng cách liên lạc với chư Tăng và các vị chủ nhiệm về thời khoá biểu, giảng sư, giáo trình, MC, ops, nghi thức, các thông báo.
2. Giải quyết những vấn đề trong ngày, nếu nghiêm trọng có thể thỉnh ý chư tăng
3. Cung thỉnh một vị Tăng Ni nói lời cầu nguyện mở đầu lớp học. Vị tri chúng sẽ là người nói lời cảm tạ khi lớp hoàn tất.


Sinh Hoạt Trong Ngày:

Ngày

Môn học:

Bài học:

Giảng sư chính:

Giảng sư điền khuyết:

Vị Tăng hoặc Ni nói lời cầu nguyện đầu lớp học:

Xướng ngôn viên cho bài học:

Xướng ngôn viên cho tin tức:

Xướng ngôn viên điền khuyết:

Người mở room:

Người mở nhạc và kinh tụng:

Người post bài:

Trực room (op):

Thông báo (nếu có)

Thứ Hai, 18 tháng 4, 2005

Lớp Giảng Giải Kinh Văn Nghi Thức Tụng Niệm

Hôm nay là ngày Thứ Hai 18 - 4-2005 nằm trong tuần lễ khai giảng các lớp học Room Diệu Pháp. Đây là buổi khai giảng lớp Giảng Giải Kinh Văn Nghi Thức Tụng Niệm. Tuần tới sẽ trở lại kinh Vạn Pháp Tổng Trì với phần kết thúc như đang được giảng dạy. Chư Tăng sẽ thảo luận những điểm dưới đây:
Tụng niệm thời Phật trụ thế
Cầu siêu trong Phật giáo Nguyên Thủy
Chánh kiến và tín ngưỡng dân gian


Chủ Nhật, 17 tháng 4, 2005

Lớp Kinh Pháp Cú
Phẩm 06: Hiền Trí - Phẩm Hiền Trí (Pandita Vagga)

Kệ ngôn 83: Bậc Trí Biết Giữ Lòng Thanh Thản

Bản Việt văn của Tỳ khưu Giác Đẳng:

Hiền nhân không chấp thủ
Tịnh giả chẳng hoang ngôn
Ðối ngoại cảnh vui buồn
Lòng an nhiên tự tại

Bản Phạm Văn Palì và thích nghĩa:

Sabbattha ve sappurisaa cajanti
na kaamakaamaa lapayanti santo
Sukhena phu.t.thaa atha vaa dukhena
noccaavaca.m pa.n.ditaa dassayanti.

Sappurisa: hiền nhân
Sabbtha: bất cứ chổ nào
Cajanti: buôn bỏ, không bám víu
Kàmakàmà lapayati: nói những chuyện kích thích lòng dục


Bản Anh văn của Ngài Bhikkhu Khantipàlo dịch:
Everything the good renounce,
the peaceful chatter not of fond delights,
and whether touched by pleasure or pain
nor joy or woe in the wise is seen.

Bản Hán Văn của Pháp Sư Thường Bàn Ðại Ðịnh:
Ðại nhân thể vô dục,
Tại sở chiêu nhiên minh
Tuy hoặc tao khổ lạc,
Bất cao hiện kì trí.

DUYÊN SỰ:
Ðức Thế Tôn và chư tỳ kheo nhận lời đến Veranja an cư kiết hạ. Tại đó trong mùa hạ xảy ra nạn đói kém. Các thầy Tỳ Kheo vì lòng bi mẫn chia một phần thực phẩm khất thực cho một đám người hành khất. Những người ăn xin nầy sau đó lại theo các Tỳ kheo trở về Xá Vệ khi mùa an cư đã mãn. Bữa ăn ngon miệng đầu tiên tại kinh đô trù phú nầy khiến những hành khất đó hí hững huyên náo. Chư Tỳ Kheo bạch Phật về chuyện nầy, nhân đó Bậc Ðạo Sư dạy về tư cách của bậc thiện trí trước những vui buồn ngoại cảnh và Ngài kết luận bằng bài kệ trên.


Thảo Luận
1.Hiền nhân (sappurisa) trong Phật Pháp có những điểm đồng dị nào với "người quân tử" trong nho giáo?
2. Tại sao nói lời phù phiếm lại liệt kê trong "thập ác nghiệp" ?
3. Là một người đang tu tập, đối với những buồn vui có cách gì khiến tâm quân bình?


1. Bản Phạn Ngữ, Anh Ngữ lấy từ website Budsas.org của Dr. Bình Anson
2. Bản chữ Hán và Kinh Thơ do Phật tử Như Khanh thực hiện
3. Hình ảnh Dhammapada lấy từ trang Treasury of Truth của Ven Sarada Maha There


Thứ Bảy, 16 tháng 4, 2005

Lớp Học A Tỳ Đàm
Diễn Trình Tâm Thức


I) Diễn trình qua ngũ môn.


Tài liệu biên soạn bởi Pháp Sư Giác Chánh

Diễn trình qua ngũ môn là dòng tâm thức sinh khởi qua năm căn môn: Nhãn môn, Nhĩ môn, Tỷ môn, Thiệt môn và Thân môn. Lộ ngũ môn được phân thành hai loại:

1) Lộ ngũ môn bình nhật.

Lộ ngũ môn bình nhật là lộ trình tâm xuyên qua ngũ môn để tiếp thu và xử sự với cảnh trong đời sống hàng ngày. Lộ ngũ môn bình nhật được phân ra làm bốn loại.

a. Lộ ngũ môn cảnh rất lớn

Là lộ trình tâm được diễn tiến đầy đủ trong 17 tâm sát na.

1- Khi một đối tượng vào trong phạm vi nhận thức của tâm thức, qua một trong năm cửa, một sát na của tâm Hộ kiếp được trôi qua. Sát na ấy được gọi là Quá khứ Hộ kiếp (Atītabhavaṅga). Tức là trạng thái tâm chủ quan sanh diệt đồng thời với cảnh sắp đến.

2- Tâm Hộ kiếp bị kích thích và rung động trong một tâm sát na gọi là sự rung độâng của Hộ kiếp (Bhavaṅgacalana). Tức là trạng thái tâm chủ quan bị cảnh mới chi phối.

3- Rồi tâm Hộ kiếp ngưng chuyển động trong một tâm sát na gọi là sự dừng đứng của Hộ kiếp (Bhavaṅgupaccheda). Tức là trạng thái tâm chủ quan chấm dứt, nhường chỗ cho những tâm khách quan khởi lên để tiếp thu và xử sự với cảnh mới. Khi đó các tâm sát na khác sẽ khởi lên và chìm xuống một cách mau lẹ như sau.

4- Tâm Khán ngũ môn (Pañcadvāravajjana) tức là tâm khách quan khởi lên hướng về đối tượng (cảnh mới hiện đến) và chìm xuống trong một tâm sát na.

5- Nhãn thức (Cakkhuviññāṇa) hay một trong bốn thức kia sẽ khởi lên trong một tâm sát na.

6- Tâm Tiếp thu (Sampaṭicchana) là tâm khách quan khởi lên bắt lấy cảnh trong một tâm sát na.

7- Tâm Quan sát (Santīrana) tức là tâm khách quan khởi lên xem xét cảnh (điều tra đối tượng) trong một tâm sát na.

8- Tâm Phân Ðoán (Voṭṭhapana) tức tâm Xác định đối tượng là vật tốt hay xấu, sạch hay dơ... (đây chính là công tác của tâm Khán Ý môn) khởi lên trong một tâm sát na.

9. – 15. Tâm Ðổng Tốc (Javana) tức là tâm xử sự với cảnh (còn gọi là tâm hưởng cảnh) khởi lên liên tiếp 7 tâm sát na. Chính đây là thời điểm quan trọng hơn cả trong toàn lộ trình vì các nghiệp thiện hoặc ác được tạo ra trong lúc này. Trong 7 sát na này, sát na thứ nhất tạo nghiệp, kết quả trong đời hiện tại, gọi là Hiện báo nghiệp; sát na thứ bảy, tạo nghiệp, kết quả trong đời sau, gọi là Sanh báo nghiệp; năm sát na còn lại, tạo nghiệp, kết quả từ đời kế tiếp cho tới lúc chứng Vô dư Niết-Bàn, gọi là Hậu báo nghiệp.

16. – 17. Tâm Dư Hưởng (Tadālambana) là tâm hưởng cảnh dư của tâm Ðổng tốc nhưng không có khả năng tạo nghiệp (vì những tâm làm việc Thập Di hoàn toàn là tâm quả). Tâm này khởi lên để gìn giữ và ghi nhận cảnh vào trong tiềm thức. Tâm này lập đi lập lại trong hai sát na.

Lộ ngũ môn cảnh rất lớn lại được chia ra làm ba lộ:

Lộ Ngũ Môn cảnh rất lớn chót Dư Hưởng: là lộ trình tâm hiện khởi qua ngũ môn đầy đủ như đã mô tả ở trên.
Lộ Ngũ Môn cảnh rất lớn chót Ðổng Tốc: là lộ trình tâm khởi qua ngũ môn nhưng chỉ có 15 tâm sát na vì sau khi tâm Ðổng Tốc diệt thì tâm Hộ kiếp tiếp tục khởi lên chứ không có tâm Thập Di.
Lộ Ngũ môn cảnh rất lớn chót Hộ Kiếp Khách: là lộ trình tâm khởi qua ngũ môn, lộ tâm nầy sau khi tâm Ðổng Tốc diệt thì tâm Hộ Kiếp khách quan khởi lên trong một sát na để tiếp cảnh trước khi tâm Hộ Kiếp chủ quan hiện lên.

b. Lộ ngũ môn cảnh lớn

Là lộ trình tâm chỉ hiệân khởi đến hết 7 tâm sát na của tâm Ðổng tốc. Nhưng khởi đầu của lộ trình tâm có tới 2 hay 3 sát na tâm Hộ Kiếp quá khứ (không như bình thường chỉ có 1 tâm sát na mà thôi). Trong đoạn cuối của lộ trình tâm nầy, có thể có tâm Hộ Kiếp Khách sinh khởi sau tâm Ðổng Tốc.

c. Lộ ngũ môn cảnh nhỏ

Là dòng tâm thức khởi lên đến sát na tâm Phân Ðoán (tâm Xác Ðịnh) rồi diệt. Tiếp theo tâm Phân Ðoán là tâm Hộ Kiếp chứ không có tâm Ðổng Tốc, do đó lộ tâm này không thể tạo nghiệp.

d. Lộ ngũ môn cảnh rất nhỏ

Là dòng tâm thức hoàn toàn là tâm chủ quan (Hộ Kiếp) chứ không có tâm khách quan sinh khởi. Trong lộ nầy, tâm Hộ Kiếp chỉ rung động nhiều lần vì bị cảnh chi phối, nhưng chỉ rung động rồi trở lại trạng thái bình thường chứ không có lộ tâm khởi lên.

Câu đố vui :


1. A Tỳ Đàm có những phân tích cực vi về tâm pháp và sắc pháp (từng sát na). Sự phân tích nầy có lợi ích gì?
a. Để chúng ta có thể thấy được từng sát na tâm ở chính mình
b. Để có thể trình bày chính xác về hiện tượng giới cho dù được hiểu một cách trừu tượng
c. Để chứng minh tâm pháp và sắc pháp vốn không khác biệt
d. Câu a và b đúng

2. Cách nói nào dưới đây được xem là chuẩn xác theo A Tỳ Đàm:

a. Anh Nguyễn Văn A lúc 10 tuổi và lúc 50 tuổi là một vì cũng là con người tên tuổi, giòng tọc ấy thôi
b. Anh Nguyễn Văn A lúc 10 tuổi và lúc 50 tuổi là hai người khác nhau vì tâm, sinh lý hoàn toàn khác nhau
c. Anh Nguyễn Văn A lúc 10 tuổi và lúc 50 tuổi là một tiến trình hiện hữu với dòng sinh diệt của danh và sắc pháp
d. Anh Nguyễn Văn A lúc 10 tuổi và lúc 50 tuổi có khác về phần xác nhưng không thay đổi phần hồn

3. Đạo Phật có dạy về bất cứ danh pháp hoặc sắc pháp nào không nằm trong sự vô thường, vô ngã không?
a. Có. Chính là báu thân và pháp thân của chư Phật, chư Bồ Tát
b. Không. Tất cả pháp hữu vi đều vô thường, vô ngã.
c. Có. Nếu tu luyện công thành quả mãn thì sẽ chứng thân kim cang bất hoại
d. Không. Chỉ có Niết bàn mới là chơn thường, chơn ngã thôi

4. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đản sanh tại vườn Lumbini nay thuộc xứ Nepal vậy thì chúng ta có thể nói:
a. Ngài là người Nepal
b. Ngài là người Ấn Độ. Chỗ đó là vùng biên giới Nepal và Ấn
c. Ngài thuộc chủng tộc Aryan
d. Không có căn cứ sử liệu khả tín nào

5. Ngày xưa có một danh tướng người Nhật đến chùa hỏi vì thiền sư phải chăng thiên đường và địa ngục có thật. Vị thiền sư nói rằng: không ngờ một người có địa vị cao mà hỏi một câu tầm thường vậy. Viên tướng nổi giận vì lời nầy. Nhưng sau đó vị thiền sư đổi giọng nói rằng thế nhưng trong thiền học thì đó là một công án của bậc thượng căn. Vị tướng trở lại với tâm thái an hoà. Vị thiền sư ôn tồn nói rằng trạng thái tâm trước đó là địa ngục, sau đó là thiên đường.
Câu chuyện nầy có thể được hiểu bằng cách nào gọi là hợp lý theo Phật Pháp:


a. Từ hai thái cực vui khổ trong đời sống hằng ngày có thể hiểu rằng những cảnh giới khổ lạc không phải là hoang đường
b. Không có thiên đường hay địa ngục tất cả chỉ là dụ ngôn thôi
c. Thiên đường và địa ngục đều do tâm biến hiện ra
d. Đạo Phật chỉ nói kiếp nầy chứ không nói chuyện xa xôi

Thứ Sáu, 15 tháng 4, 2005

Lớp A-tỳ-đàm

Diễn Trình Tâm Thức

Trong bài học hôm nay, trước khi đi vào chi chi tiết các loại diễn trình tâm thức khác nhau, hãy thảo luận về thí dụ cổ điển của diễn trình tâm như là phần ôn bài hay chuẩn bị cho những phần tiếp theo. Thí dụ nầy được trích từ quyển "Thắng Pháp Tập Yếu Luận" bản dịch của HT Thích Minh Châu.

Lộ trình của tâm ngang qua năm căn có thể dùng ví dụ sau đây để diễn tả. Một người nằm ngủ dưới gốc cây xoài. Một trái xoài rơi xuống và lăn đến bên mình người ấy. Người ấy giựt mình ngồi dậy và tìm biết cái gì để làm mình giựt mình thức giấc. Người này thấy trái xoài, lượm lên, ngửi và xem xét trái xoài, khi được biết trái xoài đã chín, người ấy ăn trái xoài.

1. "Người ấy đang ngủ" chỉ cho trạng thái thụ động của tâm thức, trôi chảy không có gì làm xao động. Trạng thái này gọi là Bhavanga, hữu phần hay hộ kiếp.

2. "Ngồi dậy và tìm biết cái gì đã làm mình thức giấc" chỉ cho trạng thái muội lược của tâm thức khi tâm thức đang tìm xem ngoại trần kích thích mình thuộc về mắt, tai, mũi, lưỡi hay thân. Tâm này gọi là Pancadvàràvajjana hay ngũ môn hướng tâm.

3. "Thấy trái xoài" chỉ cho sự sanh khởi của thức, hoặc thuộc con mắt, hoặc 4 căn khác. Thức này hoàn toàn thuần túy, không có một suy tư gì. Nếu thuộc con mắt thì gọi là Cakkhuvinnàna (nhãn thức), nếu thuộc tai thì gọi là Sotavinnàna (nhĩ thức), nếu thuộc mũi thì gọi là Ghànavinnàna (tỷ thức), nếu thuộc lưỡi thì gọi là Jivhàvinnàna (thiệt thức), nếu thuộc thân thì gọi là Kàyavinnàna (thân thức).

4. "Lượm trái xoài" chỉ cho trạng thái của tâm thức, lãnh thọ sự kích thích của một ngoại vật. Tâm này gọi là Sampaticchana (tiếp thọ tâm).

"Ngửi và tìm xem trái xoài" chỉ cho trạng thái của tâm thức suy nghĩ đối tượng và tìm hiểu đối tượng với những kinh nghiệm quá khứ của mình. Tâm này gọi là Santìrana hay Suy đạc tâm.

6. "Xác định trái xoài đã chín và tốt" chỉ cho tâm thức xác định vị trí của đối tượng theo sự hiểu biết của mình. Tâm này gọi là Votthapana hay Xác định tâm.

7. "Ăn trái xoài" chỉ cho tâm thức xử sự với đối tượng. Ðây là trạng thái tâm thức quan trọng nhứt và được gọi là Javana hay tốc hành tâm.

Nếu là lộ trình của tâm ngang qua ý thức (Manodvàravìthi), thời đối tượng không phải từ ngoài mà chính tự nội tâm. Lộ trình này bắt đầu từ Manodvàràvajjana (ý môn hướng tâm) tương đương với Votthapana (xác định tâm).

Với ví dụ này, chúng ta thấy rõ ý nghĩa và vị trí các tâm như nhãn thức, tiếp thọ tâm, suy đạc tâm, ngũ môn hướng tâm và ý môn hướng tâm.

Thứ Năm, 14 tháng 4, 2005

LớpPhật học cơ bản
Chương IV: Tâm / The Mind
4.2: Tự Tánh Của Tâm Là Trong Sáng

A. The Nature of Mind / Bản Chất Của Tâm

Dẫn Nhập:
Tâm, theo A Tỳ Đàm, có nghĩa là sự biết cảnh. "Cái biết" đó chính là thức uẩn trong cách nói riêng biệt là sự chói sáng, tinh tuý của đời sống. Thọ, tưởng, hành là ba danh uẩn khác được hiểu là những thuộc tánh (cetasika) khiến tâm trở nên, thiện, bất thiện hay vô ký. Chính sự tiếp xúc của các căn tạo nên những phiền não nội tại (Xúc sở sanh thọ, thọ sanh ái..). Câu Phật ngôn của bài học hôm nay được hiểu theo nhiều cách trong dòng lịch sử Phật giáo. Cách hiểu vừa kể trên là cách hiểu theo A tỳ đàm. Một cách hiểu khác quen thuộc với một số ngành thiền học là: "giác tánh" vốn là bản chất của tâm. Người tu tập nên dùng chánh niệm để hiển lộ giác tánh ấy. Cũng có lẽ từ câu Phật ngôn nầy người ta dẫn đến quan niệm "chơn tâm Phật tánh" nói về bản chất của tâm vốn thuần tịnh nhưng lăn trôi trong luân hồi bị vọng thức bao che nên si ám. Tu tập là trở về với "bản lai diện mục". Đối với Phật giáo Nguyên Thủy cái nhìn nầy đi quá xa. Quan niệm "nhân chi sơ tánh bổn thiện" hay "từ vô thuỷ vốn là thanh tịnh" không hiểu ở đây vì trong Phật ngôn nầy không nói gì về thời gian. Dù sao đây là một đề tài lớn trong dòng lịch sử Đạo Phật.


Chánh Kinh:

The mind is naturally pure and radiant. But external objects pollute the mind
through the influence of senses. "
-A.I:10


Tâm này, này các Tỷ-kheo, là sáng chói. Và tâm này bị ô nhiễm bởi các cấu uế từ ngoài vào.
Kinh Tăng Chi I: 10
(Bản dịch của HT Minh Châu)

Thảo Luận:
1. Đạo Phật Nguyên Thủy quan niệm thế nào về "chơn tâm"?
2. Từ câu Phật ngôn nầy chúng ta nên hiểu Đức Phật dạy người tu tập nên làm gì?
3. Cái biết của chánh niệm "sati" liên hệ thế nào với sự "chói sáng của tâm" trong Phật ngôn nầy


Câu Đố Vui:

1. Cái biết nào dưới đây là cái biết của "thức" theo A Tỳ Đàm
a. Nhìn đóa hoa biết rằng vô thường vì sớm nở tối tàn
b. Nhìn đóa hoa biết rằng đó là một loại sen tây vực
c. Nhìn đoá hoa biết được màu sắc, hình dạng của vật thể đang thấy
d. Nhìn đoá hoa biết rằng mình đang nhìn thấy cảnh sắc

2. Phật Giáo Nguyên Thủy không chấp nhận quan điểm là chơn tâm là "bản lai diện mục" của chúng sanh bởi vì:
a. Đức Phật không nói đến "sự khởi đầu" của dòng trầm luân (tiền tiền vô thủy)
b. Nếu từ sự thanh tịnh trở thành uế nhiễm rồi nếu có gì bảo đảm là sự thanh tịnh trong tương lai là "bất thối chuyển"
c. Cái nhìn về sự hằng cữu của tâm là một quan niệm nằm trong chủ thuyết "hữu ngã" vốn trái ngược với giáo lý vô ngã.
d. Cả ba câu trên đều đúng


3. Giáo lý duyên khởi được ghi nhận trong thời kỳ nào của 45 năm hoằng pháp của Đức Phật:

a. Sơ thời
b. Thời A Hàm
c. Suốt trọn 45 năm đó
d. Hậu thời

4. Có một nước cộng hoà theo hiến chế dân chủ được ghi nhận trong thời Phật trụ thế là:

a. Vajji (Bạt Kỳ)
b. Magadha (Ma Kiệt Đà)
c. Vesali (Tỳ Sá Ly)
d. Licchavi

5. Có câu: Phật xưa rằng nước đại đươngÍt hơn nước mắt sầu thương của ngườiSo sánh nầy được Đức Phật dạy cho Patacara. Chúng ta có thể hiểu:
a. Đó chỉ là cách nói ví von hàm ý sự khổ đau rộng lớn trong đời
b. Nếu gom chung tất cả nước mắt của trần gian thì nhiều hơn bốn bể
c. Từ vô thuỷ nước mắt của mỗi chúng sanh có thể nói là vô lượng
d. Cả 3 câu trên đều sai

Thứ Tư, 13 tháng 4, 2005

Lớp Giảng Giải Kinh Văn Nghi Thức Tụng Niệm
Kinh Vạn pháp tổng trì

16.10. Thể tài hữu nhân kiến đạo trừ

Những điểm chính:
· Pháp bất thiện hữu nhân và vô nhân
· Sự khác biệt giữa hai thể tài
· Yếu lý của thể tài

Dẫn nhập:
Pháp bất thiện luôn luôn có ba nhân bất thiện là nhân tham, nhân sân, nhân si tương ưng nên gọi là bất thiện hữu nhân. Tuy nhiên có một pháp bất thiện mà không đi chung với nhân tương ưng, đó là si tâm sở trong hai tâm si. Đây gọi là bất thiện vô nhân.
Pháp bất thiện là đối tượng bị thánh đạo sát trừ. Trong trường hợp nói chung, những pháp bị thánh đạo trừ thì lấy tất cả pháp bất thiện này thuộc về thể tài kiến đạo trừ.
Trường hợp nói đặc biệt chỉ kể về pháp bất thiện hữu nhân mà thánh đạo sát trừ thì được gọi là thể tài hữu nhân kiến đạo trừ.
Đó là sự khác biệt giữa hai thể tài.
Nếu nói đến những pháp bất thiện do kiến đạo sát trừ thì gồm có 4 tâm tham tà kiến và tâm si hoài nghi, cùng với 21 tâm sở phối hợp trừ si trong tâm si hoài nghi.
Nói đến những pháp bất thiện do tiến đạo sát trừ thì gồm có 4 tâm tham ly tà, 2 tâm sân, tâm si phóng dật, cùng với 24 tâm sở phối hợp trừ si trong tâm si phóng dật.
Những pháp ngoài ra hai trường hợp trên được gọi là pháp phi hữu nhân kiến đạo tiến đạo sát trừ.
Thật ra, hai thể tài này chỉ nói thể tài kiến đạo trừ cũng đã đủ, nhưng vì muốn chi tiết để trí tuệ thẩm nghiệm nên đã nói thêm thể tài hữu nhân kiến đạo trừ (dassanena pahātabbahetukattika).

Chánh kinh:
Dassanena pahātabbahetukā dhammā bhāvanāya pahātabbahetukā dhammānevadassanena na bhāvanāya pahātabbahetukā dhammā

Có gốc rễ kiết sửÐoạn diệt bởi sơ đạoHay bởi ba đạo caoKhông kiết sử không đoạn

Thảo luận:
1. Thế nào gọi là kiết sử có gốc rễ?
2. Sự đoạn trừ kiết sử của bốn đạo ấy ra sao?
3. Nói đến vị A-la-hán đã đoạn tận cả hai tính chất thiện và ác, như vậy pháp thiện có thể gọi là kiết sử đáng bị tứ đạo sát trừ không?

Câu đố vui:


1. Bậc thánh đã đoạn trừ hai kiết sử dục ái và sân, bậc thánh ấy được gọi là:

a. Thánh Tư-đà-hàm
b. Thánh A-na-hàm
c. Thánh A-la-hán
d. Cả ba bậc trên

2. Nói rằng kẻ phàm phu bị ràng buộc bởi tài sản và người thân. Sự ràng buộc ấy là do:
a. Tự mình dính mắc tham đắm
b. Trách nhiệm phải mang
c. Người thân đeo níu
d. Câu a và b đúng

3. Giữa hai sự phiền toái, phiền toái do tham ái và phiền toái do sân hận, sự phiền toái nào khó chịu hơn:
a. Phiền toái do tham ái
b. Phiền toái do sân hận
c. Cả hai phiền toái đều như nhau
d. Tuỳ mỗi hoàn cảnh của mỗi người

4. Điều nào dưới đây được xem là trở ngại lớn nhất cho sự tu tập giác ngộ:
a. Người nặng về ái tham
b. Người nặng về sân tâm
c. Người nặng về si mê
d. Người nặng về tà kiến

5. Trong kinh, đức Phật có dạy về tứ nạn tân sư (bốn nguy hiểm của người mới tu) ví dụ như người lội sông có bốn điều nguy hiểm. Trong bốn điều đó, điều nào ám chỉ cho tâm sân hận:
a. Sóng to
b. Cá sấu
c. Cá mập
d. Nước xoáy

Thứ Ba, 12 tháng 4, 2005

LớpPhật học cơ bản
Chương III: Đạo Đức / Morality
3.3 Precepts - Sila / Giới luật


D. Giới luật của vị tỳ-kheo /Precepts of a Monk

Những điểm chính:
Ý nghĩa “tỳ-kheo” trong Phật giáo
Phẩm hạnh hay giới luật
Bốn loại thanh tịnh giới

Dẫn nhập:
Đệ tử của đức Phật gồm có hàng xuất gia và tại gia. Hàng xuất gia gồm những vị tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, sa-di, sa-di-ni; hàng tại gia gồm càc nam cư sĩ và nữ cư sĩ. Danh từ “tỳ-kheo” hay “tỳ-khưu” là tiếng đọc âm của Phạn ngữ “bhikkhu”, có nghĩa là người thấy sợ hãi sự luân hồi (saṃsāre bhayaṃ ikkhati), còn có nghĩa khác là người khất thực (bhikkhaṃ carati). Thật khó nói một nghĩa mà trình bày hết ý của danh từ “tỳ-kheo”; chỉ biết rằng đó là một người chấp nhận đời sống phạm hạnh xuất gia để đạt đến mục đích giải thoát luân hồi.
Một vị tỳ-kheo trong Phật Pháp phải có phẩm hạnh cao hơn người tại gia cư sĩ, nếu vị ấy chưa đoạn tận được phiền não, phải chấp nhận và thọ trì những nguyên tắc phẩm hạnh, gọi là giới luật, mà đức Phật đã chế định để giúp vị ấy ngăn ngừa một số ác bất thiện pháp, hầu làm cho đời sống tâm linh dễ dàng phát triển nhờ tính cách thanh tịnh tam nghiệp.
Có bốn loại giới luật cho một vị tỳ-kheo:
Giới bổn biệt giải thoát (pātimokkhasīla), bao gồm những giới luật ngăn cấm hành vi sai trái, có Trọng giới và Tiểu giới.
Giới thu thúc các căn (indriyasaṃvarasīla), là phẩm hạnh kiểm soát sáu căn như nhãn căn... bằng chánh niệm.
Giới nuôi mạng thanh tịnh (ājīvaparisuddhisīla), là phẩm hạnh về sự nuôi mạng chơn chánh, bằng cách tri túc dễ nuôi, không đòi hỏi yêu sách, không dối trá để lấy lợi, tinh tấn khất thực mà sống.
Giới quán tưởng vật dụng (paccayasannissitasīla), là phẩm hạnh quán tưởng khi thọ dụng y phục, vật thực, sàng tọa, thuốc trị bệnh, để không tham đắm.

Chánh kinh:
“A bhikkhu is expected to observe four kinds of Sīla or Morality:
Pātimokkha Sīla –
Fundamental Moral Code.
Indriya saṃvara Sīla –
Morality concerning sense-restraint.
Ājiva pārisuddhi Sīla –
Morality concerning purity of livelihood.
Paccaya sannisita Sīla –
Morality concerning use of the necessities of life.
(Vin.)

“Một vị tỳ-kheo cần phải giữ bốn loại giới hay bốn loại giới hạnh
· Biệt biệt giải thoát giới Pātimokkha Sīla –
Những đức hạnh cơ bản.
· Lục căn thu thúc giới Indriya saṃvara Sīla –
Những đức hạnh liên quan đến sự gìn giữ các căn.
· Chánh mạng thanh tịnh giới Ājiva pārisuddhi Sīla –
Những giới hạnh liên quan đến cách nuôi mạng chơn chánh.
· Vật dụng quán tưởng giới Paccaya sannisita Sīla –
Những giới hạnh liên quan đến việc sử dụng các vật dụng cần thiết cho đời sống.
(Luật tạng)

Thảo luận:
1. Có lời giải thích rằng: nhờ niềm tin mà thành tựu giới bổn, nhờ chánh niệm mà thành tựu giới thu thúc, nhờ tinh tấn mà thành tựu giới chánh mạng, nhờ trí tuệ mà thành tựu giới quán tưởng. Những điều đó có ý nghĩa như thế nào?
2. Tứ phần luật này có tác dụng gì cho việc tu thiền định không?
3. Đối với một vị tỳ-kheo là bậc thánh vô lậu, vị ấy có cần thiết phải tuân thủ những giới luật này chăng?

Câu đố vui:


1. Điều nào dưới đây là yếu tố khiến một vị tỳ-kheo trở thành bậc có phẩm hạnh cao quý:
a. Nghiêm trì giới luật
b. Có chánh tri kiến
c. Chuyên tu thiền định
d. Gồm cả ba điều trên

2. Bậc A-la-hán không cần phải thọ trì giới luật mà các Ngài vẫn có phẩm hạnh thanh cao. Điều đó bởi lý do:
a. Vì giới luật là rào cản sự xâm nhập của ác bất thiện pháp, mà vị A-la-hán thì đã đoạn tận ác bất thiện pháp.
b. Vì giới luật đức Phật chỉ chế định cho hạng tỳ-kheo phàm phu mà thôi
c. Vì vị A-la-hán có phẩm cách sinh hoạt riêng nên không cần phải giữ giới
d. Vì vị A-la-hán đã đạt đến cảnh giới tối cao nên không cần thiết tuân thủ những phẩm hạnh sơ cơ

3. Người cư sĩ có nên biết rõ giới luật của chư Tăng không:
a. Nên biết, vì người cư sĩ khi biết rõ giới luật như vậy có thể giúp chư Tăng giữ giới tốt đẹp
b. Không nên biết, vì nếu người cư sĩ biết giới luật của chư Tăng sẽ có thể mất niềm tin khi thấy một vài vị sai phạm
c. Chỉ nên biết những luật cần biết, có liên hệ đến sự sinh hoạt giữa Tăng chúng và cư sĩ
d. Câu a và c đúng

4. Có câu nói rằng: “Giới luật là nền tảng của Phật giáo”. Điều này được nói đến bởi ý nghĩa:
a. Giới đứng đầu trong Tam học (giới-định-tuệ)
b. Giới là pháp tịnh đầu tiên trong bảy thanh tịnh (giới tịnh, tâm tịnh, kiến tịnh, đoạn nghi tịnh, đạo phi đạo tri kiến tịnh, hành lộ tri kiến tịnh và tri kiến thanh tịnh)
c. Giới luật là thọ mạng của Giáo Pháp, khi nào giới luật còn thì Phật Pháp còn
d. Giới giúp cho tâm an vui để tu tiến thiền định.

5. Trong kinh Tầm cầu lõi cây, Trung bộ kinh, đức Phật đã thí dụ giới hạnh như là:
a. Nhánh lá cây của Chánh Pháp
b. Vỏ cây của Chánh Pháp
c. Dác cây của Chánh Pháp
d. Lõi cây của Chánh Pháp