Thứ Hai, 11 tháng 4, 2005

Lớp Giảng Giải Kinh Văn Nghi Thức Tụng Niệm
Kinh Vạn pháp tổng trì

16.9. Thể Tài kiến đạo (Dassanattika)


Những điểm chính :
Giải thích từ ngữ Ý nghĩa câu pháp trong thể tài Những điểm đáng chú ý

Dẫn nhập :
Thể tài kiến đạo là một hể tài nói đến những pháp thuộc về lãnh vực phiền não đã bị thánh đạo đoạn trừ.
Thể tài kiến đạo gồm ba câu pháp :
Trong tam đề này, danh từ kiến đạo (dassana) được hiểu là tâm sơ đạo (paỉhamamagga) hay đạo dự lưu (sotàpattimagga). Danh từ tiến đạo (bhàvanà) được chỉ cho ba thánh đạo cao là nhị đạo, tam đạo, tứ đạo hay đạo Nhất lai, đạo Bất lai, đạo Ưng Cúng.
Thể tài này gồm ba câu :
Câu 1 "Các pháp kiến đạo ưng trừ" là nói đến những pháp bất thiện mà bị sát trừ bởi thánh đạo Tu-đà-huờn. Chi pháp câu này là: 4 tham tương ưng tà kiến và si hoài nghi cùng với 22 tâm sở phối hợp những tâm này.
Câu 2 "Các pháp tiến đạo ưng trừ" tức là những pháp bất thiện mà đáng bị sát trừ bởi ba thánh đạo cao. Chi pháp câu này là 4 tham ly tà, 2 tâm sân và tâm si phóng dật, cùng với 25 tâm sở phối hợp với những tâm này.
Câu 3 "Các pháp phi kiến đạo tiến đạo ưng trừ" tức là nói đến những pháp mà không đáng bị bốn thánh đạo sát trừ. Chi pháp ở đây là 18 tâm vô nhân, 91 tâm tịnh hảo cùng với 38 tâm sở phối hợp với những tâm này, luôn cả 28 sắc pháp và Níp-bàn.

Chánh kinh :
Dassanena pahàtabbà dhammàBhàvanàya pahàtabbà dhammàNevadassanena na bhàvanàya pahàtabbà dhammà
Có pháp kiến đạo trừ Có pháp tiến đạo trừ Có pháp không bị trừ Bởi kiến đạo và tiến đạo

Thảo Luận :

1. Tại sao Tu Đà Huờn đạo được gọi là kiến đạo và ba thánh đạo kia gọi là tiến đạo ?
2. Đối với những phiền não đã được đoạn trừ bởi những thánh đạo, thế thì thánh qủa có phận sự gì đối với phiền não ấy?
3. Sự đoạn trừ phiền não nủa thánh đạo khác với sự đoạn trừ phiền não cửa thiền định chăng ?


Câu đố vui:

1. Trong kinh Pháp cú có câu: “Vị tỷ-kheo thích pháp, mến pháp, suy tư pháp. Tâm tư niệm chánh pháp, không rời bỏ chánh pháp”. Trong câu này nói đến trạng thái tâm của vị tỳ-kheo, điều nào thích hợp nhất:

a. Tâm thọ hỷ
b. Tâm thọ lạc
c. Tâm hữu hỷ
d. Cả ba đều đúng

2. Một người hân hoan hưởng dục và một người hân hoan tu tập, nếu nhận xét giữa hai người thì nên kết luận rằng:
a. Tâm trạng cả hai người đều giống nhau vì cùng là tâm hỷ
b. Tâm trạng cả hai người không thể nói giống nhau, bởi thiện và bất thiện
c. Chỉ giống nhau ở điểm tâm đồng sanh hỷ, nhưng khác tính chất tâm
d. Câu b và c đúng

3. Người tu tập mà vẫn còn trạng thái hỷ đối với cảnh thì đó là mức độ tu tập còn thấp. Điều này có phải vậy chăng:
a. Đúng vậy, vì tâm còn thích thú với đối tượng nghĩa là còn dính mắc
b. Không phải vậy, vì nếu không có sự hoan hỷ thì không tu tập tiến bộ
c. Tuỳ mỗi khía cạnh tu tập, nếu làm phước thì tâm nên hoan hỷ, nếu tu thiền thì tâm ly hỷ thuần thục
d. Không đúng cũng không sai

4. Hạng người nào dưới đây đáng được tán thán theo tinh thần Phật Pháp:
a. Người bố thí nhưng không giữ giới
b. Người giữ giới nhưng không bố thí
c. Người chỉ tu thiền nhưng không bố thí, trì giới
d. Người bố thí, trì giới nhưng không tu thiền

5. Khi dạ-xoa Ālāvaka hỏi đức Phật: “Vị nào ngon nhất trong các vị?”, đức Phật đã đáp:
a. Giới hạnh là vị ngon nhất
b. Chân thật là vị ngon nhất
c. Pháp vị là vị ngon nhất
d. Giải thoát vị là vị ngon nhất




Chủ Nhật, 10 tháng 4, 2005

Lớp Kinh Pháp Cú
Phẩm 06: Hiền Trí - Phẩm Hiền Trí (Pandita Vagga)

Kệ ngôn 82: Lòng rộng thênh nhờ nghê diệu pháp

Bản Việt văn của Tỳ khưu Giác Giớ:
Trong sáng và tỉnh lặng

Như hồ nước thẳm sâu
Bậc trí nghe pháp mầu
Tâm an bình tịnh lạc


Bản Phạm Văn Palì và thích nghĩa:
Yathā’pi rahado gambhīro
Vippasanno anāvilo
evaṃ dhammāni sutvāna
vippasīdanti paṇḍitā

Bản Anh văn của Ngài Bhikkhu Khantipàlo dịch:
Even as a fathomless lake,a lake so calm and clear,so dhammas having heardserene the wise become.

Bản Hán Văn của Pháp Sư Thường Bàn Ðại Ðịnh:
Thí như thâm uyên,

Trừng tĩnh thanh minh.
Tuệ nhân văn đạo,
Tâm tĩnh hoan nhiên.

Duyên khởi:
Kānā là con gái một thánh nữ cư sĩ Phật. Vì Mẹ ưu tiên cúng dường thực phẩm đến bốn vị tỳ kheo khiến nàng bị chồng trách cứ rồi dẫn đến hôn nhân đổ vỡ. Từ đó mỗi khi nghĩ tới hoàn cảnh của mình nàng thống trách các tỳ kheo. Một hôm mẹ Kānā thỉnh Ðức Phật về nhà trai tăng. Ngài gọi Kānā hỏi thăm sự tình và giảng cho nàng hiểu về bản chất của đời sống. Nghê xong diệu pháp lòng nàng thênh thang, bao nhiêu phiền muộn trách cứ biến và chứng sơ quả. Sau nầy khi nói về tâm tư của Kānā, Ðức Ðiều Ngự dạy kệ ngôn trên.

Ý chính:
Tâm của người trí giống như hồ nước sâu thẳm, cho dù có một vài gợn sóng trên mặt hồ nhưng hồ nước ấy vẫn trong sáng, cũng vậy bậc trí dễ lãnh hội khi nghe chánh pháp.

Thảo luận:
1. Nói rằng bậc trí tâm dễ lắng đọng nghe pháp, thế tại sao có lời dạy rằng: “kicchaṃ dhammassavanaṃ, Phật pháp nan văn”?
2. Nếu chỉ nhờ nghe pháp mà tâm được thanh tịnh thì có cần thiết không, sự thực hành giáo pháp?
3. Nghe pháp với thái độ như thế nào mới đem lại lợi ích?

Câu đố vui:


1. Có người chỉ nghe đức Phật thuyết pháp là đã giác ngộ chân lý đắc chứng đạo quả. Điều đó được nhận xét thế nào?

a. Chỉ cần nghe pháp cũng giác ngộ khỏi tu tập
b. Mặc dù nghe pháp nhưng người ấy đã thuần thục với sự thực hành pháp nên mới dễ chứng ngộ
c. Tuỳ theo khuynh hướng của chúng sanh, người có khuynh hướng trí tuệ thì mới nghe pháp giác ngộ được
d. Nhờ nghe pháp từ nơi đức Phật nên người ấy mới dễ giác ngộ

2. Chúng sanh nghe Phật pháp khiến cho tâm được an tịnh giác ngộ, điều đó nhờ:
a. Nghe pháp với niềm tin
b. Nghe pháp với trí tuệ
c. Nghe pháp với tâm thanh tịnh
d. Cả ba đều đúng

3. Bậc trí tuệ đạt được nội tâm tĩnh lặng và trong sáng, đó là do nhờ nguyên nhân gì?
a. Hoan hỷ nghe pháp
b. Viễn ly thiền định
c. Đoạn trừ phiền não cấu uế
d. Một trong ba điều trên

4. Điều nào dưới đây là thái độ đúng đắn nhất của người phật tử cung kính đức Phật?
a. Vì nhận thấy đức Thế Tôn là bậc đã hoàn toàn giác ngộ
b. Vì nhận thấy Giáo pháp của đức Phật có hiệu năng giải thoát
c. Vì nhận thấy đức Thế Tôn là bậc từ bỏ vĩ đại
d. Vì nhận thấy đức Thế Tôn là bậc có đại uy lực trong tam giới

5. Người xưa có câu: “Phùng quân nhất dạ thoại, thắng độc thập niên thơ” (Gặp người trí đàm luận một đêm hơn cả mười năm đọc sách). Câu nói này xét về mặt giá trị:
a. Đúng, vì bậc trí sẽ chỉ bảo cho ta những điều cụ thể hơn trong sách
b. Sai, vì nếu không có kiến văn của mười năm đọc sách thì không thể đàm luận được
c. Không thể nói đúng hoặc sai, đây chỉ là lời nói chủ quan của một cá nhân
d. Câu nói trên không có ý nghĩa gì quan trọng



1. Bản Phạn Ngữ, Anh Ngữ lấy từ website Budsas.org của Dr. Bình Anson
2. Bản chữ Hán và Kinh Thơ do Phật tử Như Khanh thực hiện
3. Hình ảnh Dhammapada lấy từ trang Treasury of Truth của Ven Sarada Maha There

Thứ Bảy, 9 tháng 4, 2005

Lớp A-tỳ-đàm

20.0 LỘ TRÌNH TÂM (CITTAVÌTHI)

Định nghĩa :
Lộ trình tâm là nói đến tiến trình sanh khởi, diễn biến của tư tưởng, lộ trình tâm cũng được gọi là danh lộ (nàmavìthi), vì tâm sanh khởi là gồm cả 4 danh uẩn đồng sanh và đơn vị danh uẩn này được gọi là sát na (khaịa).
Khi dòng tâm thức sanh khởi sẽ diễn tiến qua 6 môn (dvàra) và biết 6 cảnh (àrammaịa).
CÁC LOẠI LỘ TÂM

Dòng tâm thức diễn biến ngang qua 6 môn vì vậy được kể có 6 loại lộ tâm :
1- Lộ tâm nhãn môn (Cakkhudvàracittavìthi).
2- Lộ tâm nhĩ môn (Sotadvàracittavìthi).
3- Lộ tâm tỷ môn (Ghànadvàracittavìthi).
4- Lộ tâm thiệt môn (Jivhàdvàracittavìthi).
5- Lộ tâm thân môn (Kàyadvàracittavìthi).
6- Lộ tâm ý môn (Manodvàracittavìthi).
Trong 6 loại lộ tâm đó, 5 loại lộ tâm xuyên qua nhãn môn ... đều bắt cảnh bên ngoài (sắc, thinh, khí, vị, xúc), nên có tâm lộ diễn biến giống nhau, do đó 5 loại lộ tâm này gọi chung là lộ tâm ngũ môn (paĩcadvàracittavìthi).
Và lộ tâm ý môn thì vẫn là như vậy.
geovisit();


Câu đố vui:

1. Chúng sanh chấp vĩnh hằng đối với tâm pháp, đối với sắc pháp thì thấy được vô thường. Sự kiện này được xảy ra bởi:
a. Xác thân biến hoại thì có thấy, nhưng đối với tâm sanh diệt thì không thấy
b. Chúng sanh chấp bản ngã trường tồn là linh hồn, chớ không chấp bản ngã đối với thể xác
c. Chúng sanh chỉ biết rõ về vật chất nhưng không biết rõ thực tính của tâm linh
d. Cả ba câu trên đều đúng

2. Sự đời là vô thường đổi thay, nhưng chúng sanh vẫn sống trong hoan lạc, vui vẻ. Điều đó có nghĩa là:
a.Vì sự vô thường là thay cũ đổi mới, biến khổ thành vui
b. Vì chúng sanh không nhận thức được khổ vô thường nên sống vui đến đâu thì hay đến đó
c. Vì chúng sanh ngộ nhận sự biến thái của cuộc đời là niềm hạnh phúc
d. Chúng sanh sống vui trong khổ vô thường là để trốn chạy thực tế

3. Có câu nói rằng: "Chúng sanh khổ thời biết khổ, mê thời vẫn mê", câu này có nghĩa là:
a. Kẻ phàm phu vẫn biết là sự khổ nhưng không thể giác ngộ giải thoát được
b. Kẻ phàm phu vẫn biết đời là đau khổ nhưng vẫn đắm chìm trong hạnh phúc trần gian
c. Kẻ phàm phu gặp đau khổ biết than khóc nhưng vẫn không chịu tu tập để thoát khổ
d. Câu b và c đúng

4. Một nữ cư sĩ thời đức Phật đã không dám đi nghe đức Phật thuyết pháp vì sợ rằng Ngài sẽ thuyết về sự tạm bợ của thân xác. Nhưng cuối cùng nàng cũng nghe pháp và đắc qua? Dự lưu. Nữ cư sĩ ấy là:
a.Thiếu nữ M gandiy
b. Hoàng hậu Khem
c. Hoàng hậu Mallik
d. Nàng Chức Nữ con người thợ dệt

5. Trong kinh Nhất dạ hiền, đức Phật đã dạy một bài kệ rằng: "Quá khứ không truy tầm, tương lai không ước vọng, chỉ sống trong hiện tại, tuệ quán chính là đây...". Câu nào dưới đây là đúng với ý nghĩa sống trong hiện tại của bài kệ:
a. Sống chỉ biết thực tế, không bàn chuyện đã qua, không tính chuyện chưa tới
b. Sống với niệm tỉnh, nhận thức cái gì đang diễn ra, không hối tiếc quá khứ, không mơ tưởng tương laic. c. Sống không hoài cổ cũng không thích cầu tiếnd. d. Sống với thái độ bằng lòng với hiện tại, những gì đang có

Thứ Sáu, 8 tháng 4, 2005

Lớp A-tỳ-đàm
19.6. Những đối tượng của tâm thức

Cảnh phân theo không gian

Thực ra, nói rằng phân theo không gian là bởi đối tượng thuộc bên trong và bên ngoài, chớ không có nghĩa là không gian chỉ cho ở gần hoặc ở xa hay nơi này nơi nọ.

Đối tượng thuộc bên trong hay gọi là cảnh nội phần là chỉ cho cái gì một cá nhân như là sắc, thọ, tưởng, hành, thức riêng đây. Còn đối tượng thuộc bên ngoài hay gọi là cảnh ngoại phần là chỉ cho bất cứ cái gì ngoài thân này, sắc, thọ, tưởng, hành, thức cũng có ngoại phần, kể cả níp-bàn cũng là cảnh ngoại phần. Vì rằng có những tâm biết được cả cảnh nội phần và cảnh ngoại phần nên có thêm một loại cảnh nữa là cảnh nội ngoại phần. Như vậy cảnh phân theo không gian được nói đến có ba là: cảnh nội phần, cảnh ngoại phần và cảnh nội ngoại phần.

Cảnh nội phần có 62 tâm biết là 3 tâm thức vô biên xứ, 3 tâm phi tưởng phi phi tưởng xứ (nhất định); 2 tâm thông và 54 tâm dục giới (bất định).

Cảnh ngoại phần có 114 tâm biết là 40 tâm siêu thế, 15 tâm sắc giới, 3 tâm không vô biên xứ (nhất định); 2 tâm thông và 54 tâm dục giới (bất định).

Cảnh nội ngoại phần có 56 tâm biết là 2 tâm thông và 54 tâm dục giới.



Câu đố vui:


1. Người đang quán niệm pháp vô thường, như vậy đối tượng để tâm quán niệm ấy thuộc về cảnh:

a. Cảnh nội phần
b. Cảnh ngoại phần
c. Cảnh nội ngoại phần
d. Cảnh phi nội ngoại phần

2. Người đang chánh niệm ghi nhận tâm sanh diệt, tâm sanh diệt ấy là:
a. Cảnh nội phần
b. Cảnh ngoại phần
c. Cảnh nội ngoại phần
d. Cảnh phi nội ngoại phần

3. Vị có tha tâm thông, với tâm mình biết được tâm của người khác, như vậy tâm người khác thuộc về:
a. Cảnh nội phần
b. Cảnh ngoại phần
c. Cảnh nội ngoại phần
d. Cảnh phi nội ngoại phần

4. Một vị sau khi chứng đắc níp-bàn, vị ấy dùng tuệ phản khán níp-bàn đã chứng, níp-bàn thuộc về:
a. Cảnh nội phần
b. Cảnh ngoại phần
c. Cảnh nội ngoại phần
d. Cảnh phi nội ngoại phần

5. Đức Phật dạy tôn giả Vakkali rằng: “Yo dhammaṃ passati so maṃ passati, ai thấy pháp người ấy thấy ta”. Đức Phật dạy câu này có ý nghĩa gì:
a. Ý nói Pháp và Ngài là một
b. Ý nói chỉ cần thấy Pháp cũng như là thấy Ngài
c. Ý nói muốn gần Ngài thì hãy thấy được Pháp
d. Câu b và c đúng


Thứ Năm, 7 tháng 4, 2005

Lớp Phật Học Cơ Bản
Chương III: Đạo Đức / Morality
3.3 Làm sao để hướng dẫn người khác / How to instruct others


C. Mục đích trì giới

Những điểm chính:
Căn cơ của chúng sanh
Hai giá trị của giới hạnh
Ba cấp độ giữ giới

Dẫn nhập:
Chúng sanh ở đời có cơ tánh khác nhau, cao thấp, thắng liệt; bởi vì sự rèn luyện ở mỗi người có khác nhau, có người thì thuần thục, có người thì sơ cơ. Người đã thuần thục sự rèn luyện phẩm hạnh thì họ giữ giới đặc biệt hơn, còn người chỉ mới tập rèn luyện thì chỉ giữ giới ở mức độ trung bình hoặc thấp.
Sự giữ giới có hai mục đích: có người giữ giới vì muốn đạt được thanh danh và hạnh phúc thế gian, có người giữ giới vì muốn thanh lọc ô nhiễm để đạt đến sự giải thoát. Giữ giới vì mục đích hạnh phúc hiệp thế đó gọi là giới hạ liệt (hīnasīla), giữ giới vì mục đích đạt đến giải thoát siêu thế đó gọi là giới thù thắng (paṇītasīla).
Giữ giới được phân theo ba cấp độ:
Tiểu giới (cūlasīla), tức là chỉ thọ trì những giới căn bản có đức hạnh tốt đẹp.
Trung giới (majjhimāsīla) tức là sự thọ trì những phẩm hạnh cao hơn giới căn bản để đem lại sự an lạc.
Đại giới (mahāsīla) tức là sự thọ trì những đức hạnh cao quý làm nền tảng cho sự giải thoát.

Chánh kinh:
“If the purpose of observing sīla is to gain more worldly material wealth and pleasure, it is inferior Sīla-Hīna.
If the purpose is to again salvation and to serve others, it is excellent Sīla-Paṇīta.
Cūla sīla –
Simply observing the basic principles of good behaviour.
Majjhima sīla –
Developing higher moral values for his own happiness.
Mahā sīla –
Actively making an effort to uphold a noble livelihood.
(Vism.12)

“Nếu mục đích của việc giữ giới là để đạt được tài sản và hạnh phúc của thế gian thì đó chỉ là việc giữ giới hạ liệt
Nếu mục đích của việc giữ giới là để đạt được giải thoát và để cứu độ người khác thì đó là việc giữ giới cao thượng.
· Tiểu giới –
Đơn giản chỉ giữ những giới căn bản về đức hạnh tốt đẹp
· Trung giới –
Phát triển cao hơn giá trị của phẩm hạnh cho sự an lạc của vị đó
· Đại giới –
Tích cực tinh tấn để giữ một cuộc sống cao thượng.
(Thanh tịnh đạo.12)

Thảo luận:
1. Ai cũng muốn giữ giới cao thượng nhưng tại sao lại có người chỉ giữ được giới thấp kém?
2. Giới cao thượng và giới thấp kém là nói theo hàng xuất gia và tại gia hay là nói theo mục đích của sự giữ giới?
3. Hãy trình bày về kết quả của sự giữ giới cao thượng và giới thấp kém như thế nào?

Câu đố vui:


1. Mục đích nào dưới đây gọi là sự giữ giới bậc cao thượng:

a. Giữ giới để đem lại quả vui đời này và đời sau
b. Giữ giới để ngăn trừ những ác nghiệp do phiền não chi phối
c. Giữ giới để làm lợi lạc cho mình và cho người khác
d. Giữ giới mà không chấp thủ giới

2. Phải có giới làm nền tảng mới tu tiến định và phát triển tuệ được. Điều đó:
a. Đúng, vì có khinh an tâm mới định tĩnh để phát sanh tuệ
b. Sai, vì có những người chưa quy y giữ giới, vừa nghe đức Phật thuyết pháp cũng đắc được đạo quả
c. Tuỳ mỗi chúng sanh cần giữ giới để tu tiến và tu tiến không cần giữ giới
d. Cả ba câu đều sai

3.Thời đức Phật, trong hàng vua chúa có vị hộ trì Tam bảo đắc lực nhưng không giữ giới, vị vua ấy là:
a. Vua Bình-sa vương
b. Vua Ba-tư-nặc
c. Vua A-xà-thế
d. Vua Udena

4.Người cư sĩ phải giữ năm giới, như vậy mới gọi là người giữ giới. Điều này có phải vậy không:
a. Phải cần giữ đủ năm giới
b. Chỉ cần giữ một trong năm giới
c. Giữ bao nhiêu giới cũng gọi là giữ giới nhưng có phước ít hoặc nhiều thôi
d. Người có mục đích cao quý phải giữ tròn năm giới

5. Trong ba huấn từ của chư Phật đã dạy: “Không làm điều ác, năng làm việc lành, thanh lọc nội tâm”, trong ba điều đó điều nào thuộc về giới:
a. Không làm điều ác
b. Năng làm việc lành
c. Thanh lọc nội tâm
d. Cả ba câu trên

Thứ Tư, 6 tháng 4, 2005

Lớp Giảng Giải Kinh Văn Nghi Thức Tụng Niệm
Kinh Vạn pháp tổng trì


16.8 Thể tài hỷ

Những điểm chính :
• Ýnghĩa chi pháp
• Ý nghĩa câu pháp
• Tu quán pháp môn

Dẫn nhập :
Trong tam đề hỷ có những pháp cần phải biết :
Hỷ (Pìti) tức là một thứ tâm sở thuộc hành uẩn, có trạng thái hân hoan, làm cho tâm được no vui; hỷ này biểu lộ cảm xúc như lâng lâng, rởn ốc, dạt dào niềm vui... Hỷ này là một trạng thái được xem như niềm vui còn thô thiển.
Thọ hỷ (Somanassa) là tâm sở thuộc thọ uẩn, là một thứ cảm giác thoải mái, dễ chịu của tâm.
Thọ lạc (Sukha) cũng là một tâm sở thuộc thọ uẩn, có 2 loại lạc: lạc thân là thọ lạc câu sanh với thân thức, lạc tâm là thọ lạc hay thọ hỷ câu sanh với ý thức, vì vậy pháp thọ lạc được xem như gồm cả hai.
Thọ xả (Upekkhà) thuộc thọ uẩn, là một cảm giác bình thường của tâm, không vui không buồn.
Câu 1 ”Các pháp câu hành hỷ” tức là những tâm pháp thọ hỷ mà cũng đồng sanh với hỷ tâm sở. Chi pháp câu này là 51 tâm hữu hỷ, cùng với 46 tâm sở tương ưng (trừ hỷ)
Câu 2 “Các pháp câu hành lạc” là những pháp thuộc về thọ hỷ và thọ lạc. Chi pháp câu này là: 63 tâm (gồm 62 tâm hỷ thọ và 1 thân thức lạc thọ) cùng với 46 tâm sở phối hợp (trừ thọ tâm sở).
Câu 3 “Các pháp câu hành xả” tức là những tâm pháp đồng sanh với thọ xả. Chi pháp: 55 tâm thọ xả cùng với 46 tâm sở phối hợp (trừ thọ tâm sở).
Trong thể tài này, đối với vị hành giả tu học phải biết cách ứng dụng để tu tập : Hỷ có 2 loại nên hành trì và không nên hành trì, lạc cũng có 2 loại nên hành trì và không nên hành trì, xả cũng có 2 loại nên hành trì và không nên hành trì.
Pháp nào sanh khởi làm cho thiện pháp được tăng trưởng, bất thiện pháp bi suy giảm, đó gọi là pháp nên hành trì.
Pháp nào sanh khởi làm cho bất thiện pháp tăng trưởng, thiện pháp bị suy giảm thì đó gọi là pháp không nên hành trì.
Chánh kinh :
Pìtisahagatà dhammà
Sukhasahàgatà dhammà
Upekkhàsahagatà dhammà
Có pháp câu hành hỷ
Có pháp câu hành lạc
Có pháp câu hành xả
Thể tài này có ba.


Thảo luận :
1- Sự khác biệt giữa hỷ (pìti) và lạc (sukha) như thế nào?
2- Thế nào gọi là sự câu hành (sahagata) ?
3- Vị hành giả tu tập cần phải suy niệm thể tài này ra sao ?

Câu đố vui :

Thứ Ba, 5 tháng 4, 2005

Lớp Phật Học Cơ Bản
Chương III: Đạo Đức / Morality
3.3 Làm sao để hướng dẫn người khác / How to instruct others

B Giới hành và tránh

Những điểm chính:
Sự giáo dục của đức Phật
Giới luật thuộc điều chuẩn hành
Giới luật thuộc điều cấm ngăn

Dẫn nhập:
Đức Phật đã thấy rõ sự lợi ích của việc Ngài ban hành giới luật cho chúng đệ tử để đem lại sự tốt đẹp, Ngài chế định giới luật có hai tính chất: luật chuẩn hành (cāritta) và luật cấm ngăn (vāritta).
Những điều mà đức Phật cho phép làm theo như là giới thu thúc các căn, giới chánh mạng, giới quán tưởng khi thọ dụng tứ sự... Đó gọi là giới chuẩn hành.
Những điều mà đức Phật ngăn cấm “không nên làm như vậy”, thí dụ như các điều thuộc biệt giải thoát giới... Đó gọi là giới cấm ngăn.
Đức Phật ban hành những giới luật như vậy cũng ví như một ông chủ trang trại đồn điền muốn cho tốt đẹp và thu hoạch hoa màu nên đã khuyến khích những thuộc hạ nên trồng những loại cây ăn quả như vầy, như vầy... Đồng thời ông ra lệnh cho những người làm của ông ta phải đốn phá những cây và những dây leo có hại cho ruộng đất. Đức Phật cũng làm như thế khi ban hành giới luật để làm phong phú mảnh đất nội tâm của chúng đệ tử.

Chánh kinh:
“Morality consists of Performance and Avoidance, that is, the performance of those moral rules which the Blessed One has ordained to be followed, Cāritta, and the avoidance of those things that Blessed One has rejected as not to be followed, Vāritta. (Vism.11)

“Giới luật gồm có giới hành và giới tránh, đó là sự thực hành các luật mà đức Thế Tôn đã chế định là điều nên làm, gọi là giới hành – Cāritta. Không làm những gì mà đức Thế Tôn đã chế định là điều không nên làm, gọi là giới tránh – Vāritta. (Thanh tịnh đạo.11)

Thảo luận:
1. Nếu nói rằng giới đức Phật chế định có giới thực hành và giới tránh né, vậy những thiện pháp mà đức Phật dạy nên tu tập như là bố thí, tu tứ vô lượng tâm, tu thiền quán... đó có phải là giới thực hành không?
2. Nếu “giới tránh” có khả năng ngăn ngừa các ác bất thiện pháp vậy đã đủ đem lại sự an vui, thế tại sao đức Phật còn chế định “giới hành” chi nữa?
3. Một người tu tập chỉ thọ trì giới luật trang nghiêm thì có thể chứng đắc quả vị giải thoát chăng?

Câu đố vui:
1. Một người tu tập muốn đem lại cho mình sự an vui, người ấy cần phải:

a. Tránh không làm những điều tội lỗi
b. Tạo những công đức phước báu
c. Giữ tâm được thanh tịnh không bị ô nhiễm
d. Cả ba điều trên đúng

2. Chúng sanh sống đau khổ, nói theo tinh thần Phật pháp thì đó là nguyên nhân:
a. Người ấy làm tội ác và bị mặc cảm tội lỗi
b. Người ấy không tạo nhiều phước báu nên không được quả hạnh phúc
c. Mang thân ngũ uẩn thì phải khổ luân hồi
d. Một trong ba nguyên nhân trên

3.Chúng sanh phần đông không thích tuân thủ theo nguyên tắc sống giới hạnh, điều đó bởi vì: a. Phần lớn chúng sanh thích sống buông thả theo phiền não
b. Chúng sanh không thấy được lợi ích của giới hạnh
c. Chúng sanh cảm thấy sống theo nguyên tắc là bị ràng buộc
d. Chúng sanh chưa thật sự sợ hãi hậu quả tội lỗi

4. Trong suốt hơn mười năm đầu đức Phật hoằng pháp, Ngài chưa có ban hành giới luật nhưng vẫn có vô số đệ tử sống chánh hạnh và đạt đến quả giải thoát. Điều đó chứng tỏ rằng:
a. Chúng sanh thời kỳ đó rất hiền thiện
b. Tu hành đắc quả giải thoát không cần thiết phải có giới luật
c. Đức Phật không quan tâm đến việc ràng buộc đệ tử bằng những giới luật
d. Việc ban hành giới luật chỉ là điều bất đắc dĩ để ngăn chận những lỗi lầm phiền não

5. Đức Phật đã chế định giới luật bắt đầu từ việc hành động sai quấy của một vị tỳ-kheo:
a. Các lục quần tỳ-kheo
b. Tỳ-kheo Sudinna
c. Tỳ-kheo Udāyi
d. Tỳ-kheo Dhaniya

Thứ Hai, 4 tháng 4, 2005

Lớp Giảng Giải Kinh Văn Nghi Thức Tụng Niệm
Kinh Vạn pháp tổng trì

16.7. Thể tài tầm

Những điểm chính:
· Ý nghĩa của tầm và tứ
· Giá trị của pháp hữu tầm, hữu tứ
· Giá trị của pháp vô tầm, vô tứ

Dẫn nhập:
Trong kinh Vạn pháp tổng trì có đề cập đến vấn đề “pháp hữu tầm hữu tứ”, “pháp vô tầm hữu tứ”, “pháp vô tầm vô tứ”.
Thật khó để nhận thức thể tài này, chỉ nhận dạng qua các pháp có hoặc không có thể hiện tầm tứ.
Tầm (vitakka) là sự hướng tâm đến đối tượng, truy tìm cảnh; Tầm trong nghĩa thông dụng tức là một trạng thái tư duy suy nghĩ về đối tượng. Tầm ở đây chính là tâm sở tầm. Pháp hữu tầm là những pháp có tương ưng với Tầm, có Tầm phối hợp.
Tứ (vicāra) là sự bám sát đối tượng, chăm nom cảnh; Tứ theo nghĩa thông dụng là một trạng thái tư duy khắng khít với đối tượng. Tứ ở đây chính là tâm sở tứ. Pháp hữu tứ là những pháp có tương ưng với Tứ, có Tứ phối hợp.
Tầm và Tứ là hai đặc tính giúp tâm thu hút cảnh.
Ở đây, có trường hợp pháp vô tầm là trạng thái tâm biết cảnh máy móc, không cần sự hướng tìm đối tượng, như ngũ song thức; cũng có trường hợp pháp vô tầm là trạng thái tâm quá thuần thục với cảnh nên không cần hướng tìm đối tượng nữa, như từ tâm nhị thiền trở lên.
Cũng vậy, có trường hợp pháp vô tứ là trạng thái tâm biết cảnh máy móc, không cần phải bám sát đối tượng, như ngũ song thức; cũng có trường hợp pháp vô tứ là trạng thái tâm đã quá quen thuộc với đề mục nên không cần bám sát đối tượng nữa, như từ tâm tam thiền trở lên.
Từ những trạng thái pháp như vậy nên có ba câu trong thể tài tầm:
Có pháp hữu tầm hữu tứ, tức là những pháp vừa có sự hướng tâm đến cảnh và cũng có sự bám sát theo cảnh. Gồm 55 tâm hữu tầm và 50 tâm sở phối hợp (trừ tầm, tứ).
Có pháp vô tầm hữu tứ, tức là những pháp không có sự hướng tâm đến cảnh nhưng vẫn có trạng thái bám sát theo cảnh. Gồm 11 tâm nhị thiền và 37 tâm sở phối hợp (trừ tầm, tứ), lấy lại tâm sở tầm trong 55 tâm hữu tầm.
Có pháp vô tầm vô tứ, tức là những pháp không có sự hướng tâm đến cảnh và cũng không có trạng thái bám sát theo cảnh. Gồm 45 tâm thiền từ tam thiền trở lên cùng 36 tâm sở phối hợp (trừ tầm, tứ), lấy lại tâm sở tứ trong tâm nhị thiền, kề cả sắc pháp và níp-bàn.

Chánh kinh:
Savitakkasavicārā dhammā avitakkavicāramattā dhammā avitakkāvicārā dhammāPháp có tầm có tứPháp có tứ không tầmCó pháp không tầm tứCùng hiện hữu ở đời

Thảo luận:
1. Giữa hai trạng thái pháp, hữu tầm hữu tứ và vô tầm vô tứ trạng thái pháp nào có giá trị hơn?
2. Khi học hiểu được trạng thái pháp hữu tầm và vô tầm, hữu tứ và vô tứ, điều đó có lợi ích gì không?
3. Trong kinh Thập thượng, có đề cập đến ba loại định: định hữu tầm hữu tứ, định vô tầm hữu tứ và định vô tầm vô tứ. Pháp định ấy có ý nghĩa thế nào?

Câu đố vui:


1. Sự học Phật pháp đôi lúc có thể làm cho người ta mệt mỏi. Điều đó bởi do nguyên nhân:
a. Có những pháp khó hiểu nên không dễ lãnh hội
b. Có những pháp người ta cảm thấy học không có ứng dụng
c. Khi học Phật pháp với tâm không có niềm tin và hoan hỷ
d. Cả ba đều đúng

2. Điều nào dưới đây là nguyên nhân làm cho người ta dễ dàng chấp nhận sự học Phật pháp?
a. Pháp môn nào học dễ hiểu thì người ta thích học
b. Pháp môn nào khó hiểu khiến người ta càng thích nghiên cứu
c. Phật pháp ứng dụng thiết thực trong cuộc sống
d. Phật pháp là môn triết học tư tưởng

3. Sự hướng tâm đến cảnh sắc, thinh, khí, vị, xúc là điều tốt hay xấu đối với người tu tập?
a. Là điều xấu, vì đó là dục vọng
b. Là điều tốt, vì cảnh sắc, thinh, khí, vị, xúc có thể là cảnh trợ tâm thiện
c. Không thể nói tốt hay xấu, vì quy luật tâm pháp luôn luôn tâm đổng lực dục giới có sự hướng tâm đến cảnh
d. Cả ba câu trên đều đúng

4. Trong bài kinh Tầm cầu lõi cây, lõi cây được đức Phật hình ảnh hoá cho pháp môn gì?
a. Thiền định
b. Chân lý
c. Chánh pháp
d. Sự giải thoát

5. Có một bài kệ như sau: “Lang thang bao kiếp sống, ta tìm nhưng chẳng gặp, người xây dựng nhà này, khổ thay phải tái sanh”. Ngôi nhà được xây dựng nói trong bài kệ này có ý nghĩa:
a. Thân tứ đại
b. Ngũ uẩn
c. Thập nhị nhân duyên
d. Cõi luân hồi

Thứ Bảy, 2 tháng 4, 2005

Lớp A-tỳ-đàm
19.5. Những đối tượng của tâm thức

Cảnh phân theo thời gian

Đối tượng của tâm thức có thể là một đối tượng không còn hiện hữu, đã diệt mất. Đây gọi là cảnh quá khứ. Một loại đối tượng khác thì chưa có, sẽ sanh ra. Đây gọi là cảnh vị lai. Và có một loại đối tượng cụ thể hơn, tức là cảnh đang hiện hữu, đang có mặt. Đây gọi là cảnh hiện tại. Có những loại tâm chỉ biết cảnh quá khứ, có những thứ tâm chỉ biết cảnh hiện tại, còn tâm biết cảnh vị lai thì luôn luôn bất định không chắc chắn; có một số tâm dục giới thì biết được cả ba loại cảnh quá khứ, vị lai, hiện tại. Lại có một số tâm thì chỉ biết cảnh ngoại thời không thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại.

Cảnh quá khứ tức là pháp hữu vi đã diệt. Tâm biết cảnh quá khứ có 49 tâm là 3 tâm thức vô biên, 3 tâm phi tưởng phi phi tưởng (nhất định), 2 tâm thông, 41 tâm dục giới ngoài ra ngũ song thức và 3 ý giới (bất định).

Cảnh hiện tại là pháp hữu vi đang có mặt. Tâm biết cảnh hiện tại gồm có 56 tâm là ngũ song thức và 3 ý giới (nhất định), 2 tâm thông, 41 tâm dục giới ngoài ra ngũ song thức và 3 ý giới (bất định).

Cảnh vị lai tức là pháp hữu vi chưa sanh mà sẽ sanh. Tâm biết cảnh vị lai chỉ là bất định gồm có 43 tâm là 2 tâm thông, 41 tâm dục giới ngoài ra ngũ song thức và 3 ý giới.

Thứ Sáu, 1 tháng 4, 2005

Lớp Giảng A Tỳ Đàm
19.4. Những đối tượng của tâm thức


Cảnh phân theo thực thể

Pháp chơn đế có hai thực thể: danh pháp và sắc pháp. Danh pháp là pháp thực tính chỉ có tên gọi nhưng không có hình thể, cũng gọi là pháp phi sắc, phi vật chất. Sắc pháp là pháp thực tính thuộc về vật chất, có hình thể. Danh và sắc đều là đối tượng của tâm thức; tâm biết cảnh rất đa dạng, tâm có thể biết được cảnh thuộc về vật chất như cảnh sắc, cảnh thinh, cảnh khí, cảnh vị, cảnh xúc...cũng có thể biết được cảnh phi vật chất như là tâm, tâm sở, níp-bàn. Phần lớn tâm biết cảnh danh pháp, chỉ có những tâm dục giới mới biết được cảnh sắc pháp. Có 57 hoặc 89 tâm biết cảnh danh pháp là 41 tâm dục giới ngoài ngũ song thức và 3 ý giới, 2 tâm thông (43 tâm này biết cảnh danh pháp bất định), 3 tâm thức vô biên xứ, 3 tâm phi tưởng phi phi tưởng xứ và 8 hoặc 40 tâm siêu thế (14 hoặc 46 tâm này biết cảnh danh pháp nhất định). Có 56 tâm biết cảnh sắc pháp là ngũ song thức, 3 ý giới (13 tâm này biết cảnh sắc pháp nhất định), 2 tâm thông, 41 tâm dục giới ngoài ngũ song thức và 3 ý giới (43tâm này biết cảnh sắc pháp nhất định). Tâm bất thiện và tâm thiện dục giới đều biết cả hai cảnh sắc pháp và cảnh danh pháp; chỉ riêng tâm siêu thế, tâm thiền vô sắc chỉ biết cảnh danh pháp thôi; tâm thiền sắc giới và tâm vô sắc giới không vô biên xứ cùng vô sở hữu xứ thì biết cảnh tục đế không kể vào danh hay sắc.

câu đố vui


1. Một người tưởng nhớ người bạn thân thiết. Như vậy hình dáng người bạn thân ấy đối với tâm tưởng nhớ là cảnh gì?
a. Cảnh pháp
b. Cảnh danh pháp
c. Cảnh sắc pháp
d. Cảnh chế định

2. Danh từ nào dưới đây nói đến cảnh theo nghĩa thường thức?
a. Đối tượng của tâm thức
b. Cảnh của giác quan
c. Cảnh vật hữu tình
d. Cả ba câu trên đúng

3. Người tu tập cần phải gặp nhiều nghịch cảnh để thử thách nội tâm mới tu tiến được. Quan niệm đó:
a. Đúng, vì như câu: “Có lửa mới thử được vàng”
b. Sai, vì nghịch cảnh là chướng duyên cho người tu hành
c. Không thể nói đúng cũng không thể nói sai
d. Nghịch cảnh đến thì đến, người tu không cần phải tạo nghịch cảnh

4. Trong hàng đệ tử đức Phật có một vị tỳ-kheo được nổi tiếng về đức tánh kham nhẫn với nghịch cảnh, cho đến bây giờ vẫn có thành ngữ: “Tinh thần Phú-lâu-na”. Vị tỳ-kheo ấy là:
a. Tôn giả Sāriputta
b. Tôn giả Aṅgulimāla
c. Tôn giả Puṇṇa
d. Tôn giả Tissa

5. Để trắc nghiệm được tánh hạnh của một vị tỳ-kheo có nhu thuận, hiền thiện hay không, đức Phật đã nêu lên điều kiện để trắc nghiệm là:
a. Vị ấy có tâm trạng hoan hỷ
b. Vị ấy chịu đựng được với nghịch cảnh
c. Vị ấy vẫn an vui trong hoàn cảnh khó khăn
d. Vị ấy biết nhàm chán với sự khổ đau