Thứ Hai, 28 tháng 3, 2005

Lớp Giảng Giải Kinh Văn Nghi Thức Tụng Niệm

KINH VẠN PHÁP TỔNG TRÌ - DHAMMASAṄGINĪ

16.5. Thể tài thủ

Những điểm chính:
· Tính chất pháp thủ
· Pháp sanh ra do thủ
· Pháp thành cảnh cho thủ

Dẫn nhập:
Thủ tức là sự chấp trước, bám bíu; chính do thủ mới có hữu. Pháp thủ là một thứ phiền não: tham ái và tà kiến. Từ 2 chi pháp thủ này hình thành 4 pháp thủ là Dục thủ, Kiến thủ, Giới cấm thủ và Ngã chấp thủ.
Ở đây, pháp bị thủ (upādinna) tức là pháp mà được sanh ra bởi nghiệp thủ, gồm có pháp quả hiệp thế và sắc nghiệp. Pháp bất bị thủ (anupādinna) tức là pháp sanh khởi mà không do nghiệp thủ tạo tác, gồm có pháp thiện, pháp bất thiện, pháp quả siêu thế, pháp duy tác, pháp sắc phi nghiệp.
Ở đây, pháp thành cảnh thủ (upādāniya) tức là pháp mà vẫn bị phiền não thủ biết được, gồm các pháp hiệp thế. Pháp phi cảnh thủ (anupādāniya) tức là pháp mà không bị phiền não thủ biết được, gồm các pháp siêu thế.
Khi nói đến “pháp bị thủ cảnh thủ” là nói đến những pháp sanh ra do thủ và cũng trở thành cảnh của thủ; tức là pháp quả hiệp thế và sắc nghiệp.
Khi nói đến “pháp phi bị thủ cảnh thủ” là nói đến những pháp không do thủ sanh ra nhưng cũng là cảnh thủ; tức là pháp bất thiện, pháp thiện hiệp thế, pháp duy tác và pháp sắc phi nghiệp.
Khi nói đến “pháp phi bị thủ phi cảnh thủ” là nói đến những pháp không do thủ sanh ra và cũng không thành cảnh của thủ; tức là pháp siêu thế.

Chánh kinh:
Upādinnupādāniyā dhammā anupādinnupādāniyā dhammā anupādinnānupādāniyā dhammā
Pháp bị thủ cảnh thủ,
Không bị thủ cảnh thủ,
Có pháp không bị thủ
Cũng không thành cảnh thủ

Thảo luận:
1. Vì sao gọi tham và tà kiến là pháp thủ (upādāna)?
2. Tâm của những bậc a-la-hán như tâm duy tác sao lại là cảnh thủ?
3. Phải chăng vì thân danh sắc này được hình thành bởi thủ nên mới có sự khổ đau?

Câu đố vui:

1) Điều nào dưới đây nói đúng ý nghĩa pháp thủ?
a. Sự bảo trì
b. Sự gìn giữ
c. Sự chấp trước
d. Sự tham muốn

2) Một người tu tập sống tuân thủ theo nguyên tắc giới luật của đức Phật đã ban hành. Điều đó có phải là một sự chấp thủ không?
a. Đúng, vì chấp thủ nghĩa là bám bíu một cái gì
b. Sai, vì tuân thủ giới luật không phải bằng tâm tham và tà kiến
c. Sự giữ giới luật là hành động của tâm thiện không phải là thủ
d. Câu b và c đúng

3) Một vị tỳ-kheo vào thời đức Phật là Ngài Nanda, nhờ dục thủ nên cố gắng tu tập phạm hạnh để được sanh cộng trú với chư thiên nữ. Sau đó vị ấy đã chuyển hướng mục đích phạm hạnh và trở thành vị a-la-hán. Nhân duyên sự này, đức Phật đã dạy bài kệ Pháp cú gì?
a. “Như mái nhà khéo lợp...”
b. “Ai tâm không an trú...”
c. “Ai nhiếp phục các căn...”
d. “Tâm không tràn đầy dục...”

4) Ai đã nhìn thấy tướng hảo của đức Phật, phát khởi niềm tin rồi chết sanh về cõi trời?
a. Thiện nam Dhammika
b. Công tử Maṭṭhakuṇḍali
c. Trưởng giả Anāthapiṇḍika

d. Ông bà-la-môn Vakkali

5) Có câu nói rằng: “Phật pháp nan văn (khó nghe được Phật pháp)” điều này có nghĩa là:
a. Pháp của đức Phật chỉ có người hữu duyên mới nghe được
b. Pháp của đức Phật chỉ có người có trí mới hiểu được
c. Pháp của đức Phật chỉ có người có nhiệt tâm mới hành được
d. Câu a và b đúng

Chủ Nhật, 27 tháng 3, 2005

Lớp Kinh Pháp Cú
Phẩm 06: Hiền Trí - Phẩm Hiền Trí (Pandita Vagga)

Kệ ngôn 81 Bậc trí không giao động

Bản Việt văn của Tỳ khưu Giác Giớ:
Như đá tảng kiên cố
Không gió nào lay động
Cũng vậy, giữa khen chê
Người trí không giao động.

Bản Phạm Văn Palì và thích nghĩa:
Selo yathā ekaghano
vātena na samīrati,
evaṃ nindāpasaṃsāsu
na samiñjanti paṇḍitā.


Bản Anh văn của Ngài Bhikkhu Khantipàlo dịch:
Just as a mighty boulder
Stirs not with the mind,
So the wise are never moved
Either by praise or blame.

Bản Hán Văn của Pháp Sư Thường Bàn Ðại Ðịnh:
Do như kiên cố nham,
Bất vi phong sở diêu,
Huỷ bán dự tán dự,
Trí giả bất vi động.

Duyên khởi:
Đức Phật thuyết bài kệ này khi Ngài đang trú tại Jetavana_Sāvatthi, nhân câu chuyện của vị trưởng lão tên Lakuṇṭakabhaddiya.
Đại đức Lakuṇṭakabhaddiya có thân tướng lùn nên thường bị các tỳ-kheo, sa-di phàm tăng trêu ghẹo, họ béo tai, vẹo má, vò đầu... vì họ không biết Ngài là bậc a-la-hán. Những lúc họ trêu chọc Ngài như vậy, họ thấy Ngài vẫn tươi tỉnh thản nhiên xem như không có chuyện gì, không tỏ ra bực tức hay khó chịu chi cả. Chư tỳ-kheo lấy thái độ này của Ngài trưởng lão bàn tán, bình phẩm.
Đức Phật nghe sự việc ấy Ngài đã xác nhận cho chư tăng biết đại đức Lakuṇṭakabhaddiya là bậc vô lậu giải thoát nên vị ấy không bị dao động trước lời trêu chọc khen chê. Rồi Đức Thế Tôn thuyết bài kệ trên.

Ý chính:
Bậc trí nhất là bậc đã được giác ngộ thì tâm không bị giao động trước những thị phi khen chê.

Thảo luận:
Do nguyên nhân nào giúp cho bậc trí không bị dao động trước sự khen chê?
Bậc trí được nói đến trong bài kệ có thể hiểu bao gồm bậc trí trong đời chăng?
Có thể có trường hợp nào sự dao động với lời khen chê sẽ giúp cho người được tiến hoá không?

Câu đố vui:
1) Sự không dao động giữa lời khen chê. Đức tính này gọi là:

a. Nhẫn nại
b. Hành xả
c. Thiền định
d. Từ bi

2) Bậc trí có tâm kiên cố không giao động giữa thị phi, đó là do nguyên nhân:
a. Bậc trí hiểu rõ sự khen chê là hư vọng
b. Bậc trí nhận thức được sự vô ích khi tâm dao động
c. Bậc trí đã chế ngự được sự thương ghét
d. Cả ba câu trên đều đúng

3) Theo tinh thần tu tập thì ta nên bỏ ngoài tai những thị phi của cuộc đời. Thái độ đó:
a. Đúng, vì không giao động bởi tiếng thị phi sẽ làm cho bình tâm
b. Sai, vì đôi khi sự khen sự chê sẽ làm cho mình rút kinh nghiệm
c. Có thể đúng hoặc sai, tuỳ theo lời thị phi có giá trị hay không
d. Không thể nhận định được

4) Trong số các đệ tử của đức Phật thời xưa, có một vị rất thích được nghe lời quở trách, giáo hóa. Vị ấy là:
a. Tỳ-kheo Subhūti
b. Tỳ-kheo Rāhula
c. Tỳ-kheo Sārīputta
d. Tỳ-kheo Ānanda

5) Có một lần tôn giả Xá-lợi-phất bị một vị tỳ-kheo trẻ vu cáo Ngài đã đánh mình. Đức Phật truyền tụ họp tăng chúng để làm sáng tỏ vấn đề. Khi được hỏi chuyện hư thực thế nào thì tôn giả Xá-lợi-phất đã có thái độ:
a. Biện bạch cho mình không làm chuyện ấy
b. Giải thích đức tánh của một người khéo an trú pháp
c. Tỏ ra không hài lòng với lời vu cáo
d. Tránh mặt không tham dự Tăng hội


Thứ Bảy, 26 tháng 3, 2005

Lớp A-tỳ-đàm
19.3. Những đối tượng của tâm thức

Cảnh phân theo tính chất cao và thấp

Đối tượng của tâm thức chỉ nằm trong 6 cảnh là sắc, thinh, khí, vị, xúc, pháp, nhưng vì được phân theo nhiều khía cạnh nên kể có đến 21 cảnh. Từ trước đến nay, đã phân loại đối tượng theo giác quan, phân loại theo bản thể và chế định, nay nói đến cảnh phân theo tính chất cao và thấp.
Đối tượng có tính chất thấp là cảnh dục giới. Gồm có tâm dục giới, tâm sở tương ưng và sắc pháp. Tâm biết cảnh dục giới có 56 tâm là 18 tâm vô nhân, 12 tâm bất thiện, 8 tâm đại thiện, 8 đại quả, 8 đại tố và 2 tâm thông.
Đối tượng có tính chất trung bình là cảnh đáo đại. Gồm 15 tâm sắc giới, 12 tâm vô sắc giới và tâm sở tương ưng. Tâm biết cảnh đáo đại là 37 tâm: 12 tâm bất thiện, 8 tâm đại thiện, 8 đại tố, 3 tâm thức vô biên xứ, 3 tâm phi tưởng phi phi tưởng xứ, tâm khai ý môn và 2 tâm thông.
Đối tượng có tính chất cao đẹp nhất là cảnh níp-bàn. Chính là pháp vô vi ngoại uẩn. Có 51 tâm biết cảnh níp-bàn là 8 hoặc 40 tâm siêu thế, tâm khai ý môn, 4 tâm đại thiện tương ưng, 4 tâm đại tố tương ưng và 2 tâm thông.


Câu đố vui:
1) Vị A-la-hán vẫn sanh khởi tâm dục giới bởi vì:

a. Các Ngài vẫn biết được 5 cảnh dục
b. Các Ngài sống trong cõi dục
c. Các Ngài vẫn có chút ít dục vọng
d. Ba câu trên đúng

2) Tâm của vị hành giả mà được gọi là cảnh đáo đại, tức là:
a. Tâm đang tu tập thiền
b. Tâm đang an trú thiền
c. Tâm đang sanh ở các cõi thiền
d. Ba câu trên đều sai

3) Níp-bàn là trạng thái vắng lặng, tịch tịnh. Trạng thái ấy được gọi là:
a. Cảnh níp-bàn
b. Cõi níp-bàn
c. Quả níp-bàn
d. Câu a và c đúng

4) Một người tu tập hướng đến sự giải thoát chấm dứt khổ luân hồi, tâm nguyện nào dưới đây là hợp lý nhất:
a. Nguyện đắc đạo
b. Nguyện đắc quả
c. Nguyện níp-bàn
d. Cả ba đều đúng

5) Trong kinh Pháp cú có câu: “Người nhặt các loại hoa, ý đắm say tham nhiễm, bị thần chết mang đi, như lụt trôi làng ngủ”. Loại hoa ở đây cần được hiểu là:
a. Hoa thơm cỏ lạ trên mặt đất
b. Dục vọng đối với thế lợi
c. Sự ngọt ngào của cảnh trần
d. Thủ đoạn để đạt mục đích

Thứ Sáu, 25 tháng 3, 2005

Lớp Phật Học Cơ Bản
Chương III: Đạo Đức / Morality
3.2 Làm sao để hướng dẫn người khác / How to instruct others

E. Thương mình chớ hại người

Những điểm chính:
Bản thân hay tự ngã thường thức
Thái độ yêu bản thân
Phương tiện giáo hoá

Dẫn nhập:
Nói theo thực thể thì ngũ uẩn chỉ là một tổng hợp pháp do duyên hình thành, không có cái đơn thuần, bản ngã, tự ngã. Nhưng nói theo thường thức chế định thì mỗi cá nhân gọi là bản thân, tự thân; nói như thế để hiểu.
Phàm chúng sanh ai cũng thương yêu bản thân, và không thương ai khác bằng thương chính bản thân; nói cho cùng, một người mẹ hy sinh vì con cái cũng là thương bản thân, bởi họ nghĩ đến ngã sở, con của ta. Cái gì bị ngã chấp thì đi hàng đầu.
Ở đây, đoạn kinh này Đức Phật muốn dùng cách nói thường tình để dạy con người không nên sát phạt chúng sanh khác; bởi vì chính mình rất yêu bản thân, rất sợ bản thân bị tổn thương, không muốn ai làm hại đến bản thân, chúng sanh khác cũng vậy. Do đó, thương mình thì chớ hại người.

Chánh kinh:
The whole wide world we travers with out thoughts and nothing find a man mor dear than self. Since e’er so dear the self to others is, let the man who loves himself harm no other man. (S.I.75)

Ta đi cùng khắp thế gian không tìm thấy người thân ái hơn chính mình. Đối với chúng sanh khác thì tự ngã cũng thân ái như vậy; bởi thế ai yêu chính mình thì chớ hại người khác. (Tương ưng I.75)

Thảo luận:
1) Thái độ yêu bản thân là nên hay không nên, theo tinh thần Phật giáo?
2) Ngoài cách trắc nghiệm bản thân, có cách nào khác để tu tập không hại người chăng?
3) Các bậc thánh không não hại người khác, đó có phải là do các vị ấy yêu tự ngã?

Câu đố vui


1) Điều nào dưới đây đúng nghĩa với tâm bi:
a. Không hại chúng sanh vì sợ gây oan trái
b. Không hại chúng sanh vì giữ giới luật
c. Không hại chúng sanh vì thông cảm nỗi đau
d. Không hại chúng sanh vì muốn tích đức

2) Người hiền được nhận xét theo tinh thần đạo Phật, đó là:
a. Người có tâm thương yêu chúng sanh
b. Người biết cứu giúp chúng sanh
c. Người sống không làm hại chúng sanh
d. Người có ba đức trên

3) Người bạn đáng để ta thân cận là người:
a. Người không hiếp đáp ai cũng không để ai hiếp đáp
b. Người tốt bụng mặc dù thiếu trí
c. Người có trí dù không tốt bụng
d. Người biết làm lợi mình lợi người

4) Người nhẫn nhục khi có người khác làm khổ mình, đó là người có tinh thần cao thượng. Điều đó:
a. Đúng vậy, vì người nhẫn nhục là người có sức chịu đựng
b. Không đúng, vì nếu người ấy nhẫn nhục chỉ vì thiếu khả năng chống trả
c. Có thể đúng, khi người ấy nhẫn nhục vì muốn rèn luyện tâm tánh nhu hoà
d. Cả ba câu trên đúng

5) Pháp cú kinh thi hoá, có câu: “Ví như ngọn núi kiên trì, gió cuồng tứ hướng dễ gì chuyển lay... không làm chao động đôi mày trí nhân”. Câu thứ ba trong bài thi hoá này là:
a. Tiếng đời chê dở khen hay...
b. Cuộc đời hạnh phúc đắng cay
c. Thói đời đen trắng đổi thay
d. Tình đời dù có nhạt phai

Thứ Tư, 23 tháng 3, 2005

Lớp Giảng Giải Kinh Văn Nghi Thức Tụng Niệm
KINH VẠN PHÁP TỔNG TRÌ - DHAMMASAṄGINĪ


16.4. Thể tài quả

Những điểm chính:
· Ý nghĩa nhân và quả trong đoạn pháp này
· Nhân quả chi phối trong đời sống
· Không phải vạn pháp đều là sản phẩm nghiệp quả

Dẫn nhập:
Nhân tức là điều kiện phát sanh hậu quả, Quả là sản phẩm của nhân. Trong đề tài quả của kinh Vạn pháp tổng trì, pháp nhân và pháp quả được nói đến là ám chỉ nghiệp dị thời và quả dị thục, không phải là nguyên nhân và hậu quả của duyên hệ.
Trong đời sống của loài hữu tình, sự vui hay khổ chính là hậu quả của nhân thiện hay ác; tâm thiện hay tâm bất thiện được gọi là pháp nhân, tâm quả của thiện hay bất thiện được gọi là pháp quả. Chính vì có pháp nhân và pháp quả nên mới hình thành một cuộc sống nhiều màu sắc.
Tuy nhiên, ở đây không hẳn vạn pháp đều nằm trong pháp nhân quả; có những pháp thành nhân, có những pháp thành quả, cũng có những pháp phi quả phi nhân. Với trí tuệ giác ngộ của Đức Phật, Ngài đã thấy rõ những pháp ấy, nên Ngài đã tuyên bố để phá vỡ kiến chấp của chúng sanh.

Chánh kinh:
Vipākā dhammā vipākadhammadhammā nevavipākanavipākadhammadhammā


Có pháp vốn là nhânCó pháp vốn là quảCó pháp không nhân quảVượt quan kiến thường tình

Thảo luận:
1. Có thể có sự kiện nào không phải là nghiệp báo nhưng lại là nhân quả chăng?
2. Tâm bất thiện được gọi là nhân tạo ra quả xấu, tâm thiện là nhân tạo ra quả tốt. Nhưng Đức Phật có dạy rằng có những hành động hiện tại khổ tương lai lạc, có những hành động hiện tại lạc tương lai khổ. Ở đây cần phải hiểu thế nào?
3. Tại sao níp-bàn được nói là pháp phi quả phi nhân?

Câu đố vui:


1) Một người lái xe sơ ý bị chết vì tai nạn giao thông, điều đó cần được nhận xét:
a. Cái chết ấy không phải do nghiệp quả mà do nguyên nhân bất cẩn
b. Cái chết ấy là quả báo của ác nghiệp quá khứ
c. Chỉ có bậc thiên nhãn thông mới biết rõ cái chết ấy là do nguyên nhân gì
d. Cả ba câu trên đều sai

2) Tâm thánh đạo cũng gọi là thiện nghiệp, điều này luận theo A-tỳ-đàm:
a. Đúng, vì tâm đạo là nhân tốt tạo quả siêu thế
b. Sai, vì tâm đạo không giống như tâm thiện hiệp thế
c. Đúng hoặc sai tuỳ theo cách dùng từ thiện nghiệp trong nghĩa nào
d. Cả ba câu trên đúng

3) Nói rằng chúng sanh phàm phu dễ làm ác khó làm thiện, điều đó bởi:
a. Chúng sanh thường sống với nhiều phiền não
b. Chúng sanh đã quen làm điều ác, ít làm điều thiện
c. Chúng sanh không nghe được Phật pháp
d. Câu a và b đúng

4) Để giải thích nghiệp quả thiện, Đức Phật đã minh hoạ thí dụ nào sau đây:
a. Như bóng không rời hình
b. Như bánh xe theo chân bò
c. Như lửa dưới đống tro tàn
d. Như sữa không đông ngay

5) Trong kinh Pháp cú có bài kệ rằng: “Kẻ khác không hiểu biết, chúng ta đây bị diệt; ai hiểu được điều ấy, tranh luận được lắng êm”, câu “chúng ta đây bị diệt” trong bài kệ này có nghĩa là:
a. Chúng ta tranh nhau sẽ có người thắng người thua
b. Chúng ta tranh nhau sẽ làm cơ hội cho kẻ thù tiêu diệt
c. Chúng ta đang bị già chết chi phối
d. Câu a và b đúng

Thứ Ba, 22 tháng 3, 2005

Lớp Phật Học Cơ Bản
Chương III: Đạo Đức / Morality
3.2 Làm sao để hướng dẫn người khác / How to instruct others

D. Tự tốt đẹp trước

Những điểm chính:
Tự giác giác tha
Phương châm giáo dục
Giá trị thiết thực

Dẫn nhập:
Sau khi tìm được chân lý rồi, Đức Phật mới giáo hoá chúng sanh. Điều đó là sự kiện hợp lý. Bởi nếu Ngài chỉ dạy những gì mà Ngài chưa giác ngộ được thì không thể thuyết phục người khác, và cũng không thể giải thích thoả đáng những gút mắc. Cùng thế ấy, trước khi dạy người khác điều tốt, phải tự mình là người tốt. Tự mình tốt đẹp trước, sau mới giáo hóa ngưòi khác, đó là phương châm của Đức Phật đã nhắc nhở chư đệ tử.
Khi chính mình đã là người tốt thì mới khiến cho người khác có niềm tin với những gì mình khuyên nhắc họ; trong sự giáo dục, người dạy là người mô phạm, là tấm gương cho kẻ khác noi theo. Đó mới thật là lời khuyên giá trị.

Chánh kinh:
“Let one first establish oneself in what is proper, and then instruct others. Such a wise man will not be blamed by other”. (Dhp.158)

“Trước tiên hãy tự đặt mình vào lẽ chánh rồi mới giáo hoá kẻ khác. Bậc trí như vậy mới không bị trách cứ.” (PC. 158)

Thảo luận:
1) Nếu bậc trí sau khi giáo hoá người khác mới đem sự tốt đẹp ấy để tự răn cho mình, như vậy có tốt đẹp không?
2) Những gì tốt đẹp mà mình chưa làm được mà chỉ dạy kẻ khác làm, điều đó có đem lại kết quả chăng?
3) Phải chờ đến khi mình được tốt đẹp mới dạy người khác, như vậy có muộn màng lắm không ?

Câu đố vui:


1) Lời khuyên có giá trị là ở chỗ:
a. Lời nói ấy đã được nói bởi một người đã thực hành
b. Lời nói ấy được người nghe lãnh hội và làm theo
c. Lời nói ấy phù hợp với lẽ phải
d. Câu b và c đúng

2) Đức Phật thuyết pháp, người khác nghe xong liền đắc đạo quả. Sự thành tựu này có được là do:
a. Pháp được thuyết bởi vị giác ngộ nên người nghe giác ngộ
b. Pháp được thuyết, người nghe hữu duyên giác ngộ
c. Sau khi nghe pháp, người nghe ứng dụng với trí tuệ
d. Cả ba câu đều đúng

3) Điều nào dưới đây là quan trọng khi nghe pháp:
a. Nên nghe pháp từ nơi vị đã giác ngộ
b. Nên nghe pháp với niềm tin ở vị thuyết
c. Nên nghe pháp với trí tuệ khéo tác ý
d. Nên nghe pháp với mục đích học hỏi

4) Sau khi Đức Phật thuyết bài kinh Chuyển pháp luân, trong hội chúng năm thầy Kiều-trần-như có bao nhiêu vị đắc quả?
a. Có một vị đắc quả
b. Có hai vị đắc quả
c. Có bốn vị đắc quả
d. Cả năm vị đều đắc quả

5) Câu kinh Pháp cú 158 này Đức Phật đã thuyết đề cập đến ai?
a. Một vị Tỳ-khưu
b. Một nam cư sĩ
c. Một nữ cư sĩ
d. Một tu sĩ ngoại đạo

Thứ Hai, 21 tháng 3, 2005

Lớp Giảng Giải Kinh Văn Nghi Thức Tụng Niệm
KINH VẠN PHÁP TỔNG TRÌ - DHAMMASAṄGINĪ

16.3. Thể tài thọ

Những điểm chính:


· Ba loại cảm thọ
· Pháp tương ưng cảm thọ
· Cảm thọ trong đời sống tu tập

Dẫn nhập:


Đời sống gọi là có đau khổ và hạnh phúc. Điều này chính là cảm giác của tư tưởng tạo nên: cảm giác đau đớn, buồn bực gọi là khổ thọ; cảm giác êm dịu thoải mái gọi là lạc thọ; cảm giác không sướng khổ không buồn vui, bình thường, gọi là phi khổ phi lạc thọ hay xả thọ.
Pháp tương ưng khổ thọ chính là 2 tâm thọ ưu và thân thức thọ khổ. Pháp tương ưng lạc thọ tức là 62 tâm thọ hỷ và tâm thân thức thọ lạc. Pháp tương ưng phi khổ phi lạc thọ tức là 55 tâm thọ xả.
Tìm hiểu pháp tương ưng cảm thọ và nhận ra cảm thọ sanh khổ, đó là đề tài thiền quán: Thọ quán niệm xứ.

Chánh kinh:


Sukhāya vedanāya sampayuttā dhammā Dukkhāya vedanāya sampayuttā dhammā Adukkhamasukhāya vedanāya sampayuttā dhammā


Có pháp tương ưng khổCó pháp tương ưng lạcCó pháp tương ưng xả
Tức phi khổ phi lạc


Thảo luận:
1. Giữa sự khổ đau và sự hạnh phúc, điều nào khiến chúng sanh dễ tu tập hơn?
2. Sống với cảm giác phi khổ phi lạc, điều đó có phải là tinh thần cao quý không?
3. Người Phật tử nên có cách nhìn thế nào đối với sự khổ đau và hạnh phúc?

Câu đố vui:


1) Người Phật tử khi gặp hoàn cảnh sống khổ đau, nên có thái độ hợp lý để đối mặt với hoàn cảnh:
a. Nên chán nản, thấy đời là bể khổ
b. Nên vui mừng, vì phiền não tức cảnh bồ-đề
c. Nên chấp nhận, tuỳ theo số phận
d. Nên nhận thức rõ ràng, và tìm giải pháp

2) Cuộc sống hạnh phúc, đó là điều mà người Phật tử tu tập:
a. Chối bỏ, vì thấy là bẫy mồi của phiền não ma
b. Chấp nhận, vì thấy là thành quả của thiện nghiệp
c. Tuỳ theo đó là hạnh phúc vật chất hay hạnh phúc tinh thần mà bỏ hoặc nhận
d. Cả ba câu đều sai

3) Đức Phật luôn có tâm đại bi, thương xót chúng sanh, kể cả chúng sanh đang hưởng thụ hạnh phúc. Bởi vì:
a. Trong mắt của Đức Phật chỉ thấy đời là đau khổ
b. Ngài thấy chúng sanh đang đắm chìm trong hạnh phúc, sẽ khổ tương lai vì còn phiền não
c. Ngài thấy chúng sanh ấy chưa thật sự hạnh phúc, chưa thoát sự khổ đau
d. Câu b và c đúng

4) Tỳ-kheo Godhika quá chán nản vì tu hành đã lâu vẫn không kết quả, nên đã tự sát, và chứng A-la-hán trước khi tắt thở. Tại sao Đức Phật không khuyên giải mà để cho đệ tử tự sát:
a. Vì Ngài không biết Tỳ-kheo này sẽ tự sát
b. Vì Ngài biết rằng bị quả báo của nghiệp
c. Vì Ngài thấy đây là cơ hội giúp vị ấy đắc A-la-hán
d. Bậc Chánh Giác biết hành động hợp lý

5) Khi di mẫu Gotamī cùng 500 phu nhơn hoàng Thích đi đến xin Đức Phật cho phép họ xuất gia làm Tỳ-kheo-ni, Đức Phật không chấp nhận, khiến lịnh bà và các nữ nhân kia rất sầu muộn. Cuối cùng, tôn giả Ānanda đã thiết tha cầu xin giúp bà mới được Đức Phật chấp nhận. Sự kiện Đức Phật không nhận lời cho xuất gia các nữ nhân trong giáo pháp, bởi lý do:
a. Để có duyên cớ Ngài ban Trọng pháp ngăn ngừa sự rối loạn trong Tăng chúng
b. Xã hội Ấn Độ bấy giờ rất kỳ thị phụ nữ
c. Nữ nhân không thể xuất gia tu hành đắc đạo quả
d. Ngài không có lòng bi mẫn đối với nữ nhân


Chủ Nhật, 20 tháng 3, 2005

Lớp Kinh Pháp Cú
Phẩm 06: Hiền Trí - Phẩm Hiền Trí (Pandita Vagga)

Kệ ngôn 80: Người trí biết tự rèn mình

Bản Việt văn của Tỳ khưu Giác Đẳng:


Người trị thủy dẫn nước

Kẻ làm cung chuốt tên,
Thợ làm mộc uốn gỗ
Bậc trí biết tự rèn

Bản Phạm Văn Palì và thích nghĩa:

Udaka.m hi nayanti nettikaa usukaaraa namayanti tejana.mDaaru.m namayanti tacchakaa attaana.m damayanti pa.n.ditaa.
*Attànam damayanti : Ðiều phục chính mình


Bản Anh văn của Ngài Bhikkhu Khantipàlo dịch:
Irrigators lead the waters;fletchers bend the shafts;carpenters bend the wood;the wise control themselves.


Bản Hán Văn của Pháp Sư Thường Bàn Ðại Ðịnh:
Thủy nhân điều thuyền;Cung công điều giác, Tài tượng điều mộc, Trí giả điều thân.

DUYÊN SỰ

Sa di Pandita Dàraka tuổi còn nhỏ sớm có duyên lành xuất gia. Một hôm theo thầy là Tôn Giả Xá Lợi Phất vào làng khất thực. Trên đường thấy một nông dân dẫn nước vào ruộng; một người làm cung đang chuốt tên; và một thợ mộc đang gọt đẽo bánh xe bò. Những cảnh tượng nầy khiến vị Sa di tò mò muốn biết họ đang làm gì. Sau khi nghe lời giải thích chú Sa di bất chợt nghĩ rằng những thứ vô tri mà có thể thay đổi cho tốt hơn sao mình không tự chuyển hoá tự thân. Nghĩ vậy vị nầy xin phép về chùa gia công thiền định và giác ngộ đạo quả không lâu sau đó. Ðức Phật dạy kệ ngôn trên để tán thán sự khéo nhận thức của một người hữu duyên hữu trí.

THẢO LUẬN
1. Phật pháp dạy gì về quan niệm "sống tự nhiên"?

2. Chánh tư niệm (yoniso manasikara) ở trong câu duyên sự nầy có phải làtuệ giác không?
3. Nếu không có cái thực hữu "tôi, ta" thì sao phải bận lòng "rèn luyện bản thân"?

Ý CHÍNH

Bậc trí ý thức rõ tầm quan trọng của sự tu tập bản thân vì thiện pháp, giác ngộ, giải thoát từ đó màthành tựu.

Câu đố vui: ngày 20-03-2005

1. Trong duyên sự kệ Pháp Cú 80, vị sa di nhìn thấy cảnh tượng người dẫn nước vào ruộng, người chuốc tên và người bào gỗ từ đó khai triển tuệ quán giác ngộ. Những hình ảnh đó, nói một cách chính xác là điều nào dưới đây:
a. Bản chất vô thường của cuộc sống
b. Khả tính thay đổi của nội tâm
c. Bổn phận của mỗi người dù là xuất gia hay cư sĩ
d. Sự thiện xảo của nghề nghiệp chuyên môn

2. Trên quan điểm của hành giả tu tập thì cái gọi là "bản chất tự nhiên" (chưa tu tập) của chúng sanh vốn là:
a. Tốt
b. Xấu
c. Với phần đông xấu nhiều hơn tốt
d. Với phần đông tốt nhiều hơn xấu

3. Khi một bậc giác ngộ lấy hình ảnh ngoại giới trong câu chuyện vị sa di nhìn hình ảnh người thợ mộ, thì những hình ảnh đó có thể gọi:
a. Đề tài thiền quán
b. Sự gợi ý
c. Công án
d. Thiên khải

4. Theo Phật Pháp thì trong các cõi, cõi người dễ tu tập nhất bởi vì:
a. Là cảnh giới sung sướng
b. Là cảnh giới khổ đau
c. Là cảnh giới có cả vui lẫn khổ
d. Là cảnh giới không khổ cũng không vui

5. Toại Khanh viết bài thơ nầy:
Lại Hẹn
Mai tóc bạc, chưa vẹn đời du sĩ

Đi trăm năm, sao hết những con đường
Dâu biển ơi, trước lúc về yên nghỉ
Xin một lần làm mây trắng muôn phương

Nói về nỗi lòng chưa thoả dù sống trăm năm nhưng vẫn muốn kiếm tìm. Nếu trên phương diện tuệ quán thì:

a. Thấy được một pháp có thể thấy được vạn pháp
b. Phải đắc đạo rồi để thấy được vạn pháp
c. Thấy một pháp hay vạn pháp không quan trọng, đủ công đức thì đắc đạo
d. Cả ba câu trên đều đúng


1. Bản Phạn Ngữ, Anh Ngữ lấy từ website Budsas.org của Dr. Bình Anson
2. Bản chữ Hán và Kinh Thơ do Phật tử Như Khanh đánh máy
3. Hình ảnh Dhammapada lấy từ trang Treasury of Truth của Ven Sarada Maha There

Thứ Sáu, 18 tháng 3, 2005

Lớp Giảng A Tỳ Đàm
Bài 19.1: Cảnh (Àrammana) hay Đối Tượng Của Tâm Thức

B. Cảnh phân theo bản thể và thi thiết

8. Cảnh chơn đế. Là cảnh thuộc về bản thể tức là những gì nằm trong 4 pháp tâm, thuộc tánh, sắc pháp, niết bàn. Mặc dù đôi khi chữ chân đế (paramattha) được dịch là đệ nhất nghĩa đế hay cảnh của tuệ cao nhưng cảnh chơn đế được nói đến ở đây không phải là một đề tài thâm viễn cho tri thức mà thật tướng bản thể thí dụ tai nghe tiếng. Âm thanh đó vừa là cảnh thinh vừa là cảnh chơn đế. Theo sau đó là những khái niệm được định đặt như gọi đó là nhạc thính phòng, nhạc giao hưởng ..v.v. đó thuộc vì qui ước. Tâm biết cảnh Chơn Ðế có 70 hoặc 102: Tâm chỉ biết Cảnh Chơn Ðế bằng cách Cố Ðịnh và trực tiếp là 8 hoặc 40 tâm Siêu Thế, 3 Tâm Thức Vô Biên, 3 Tâm Phi Tưởng Phi Phi Tươởng, 8 Tâm Quả Dục Giới và 17 tâm Vô Nhân (trừ Khai Ý Môn). Tâm biết cảnh Chơn Ðế Bất Ðịnh là 12 Tâm Bất Thiện, Tâm Khai Ý Môn, 8 Thiện Dục Giới 8 Duy Tác Dục Giới và 2 Tâm Diệu Trí.

9. Cảnh chế định. Là những gì được chế tác, định đặt chứ không phải là bản thể. Thí dụ như ngôn ngữ, trường phái hội hoạ, những giá trị văn hoá xã hội. Mặc dù đôi khi dịch là cảnh tục đế có nghĩa là sự thật của thường thức đối lại với sự thật của bản thể nhưng cảnh chế định ở đây không chỉ có nghĩa là tục đế mà nói chung là những ước lệ giả lập dù theo quan niệm thế tình đó là sự thật hay không phải sự thật. Tâm biết cảnh chế định có 21 là 15 Tâm Sắc Giới, 3 tâm Không Vô Biên và 3 Tâm Vô sở hữu. Còn Tâm cũng biết cảnh Tục Ðế nhưng bất định là 12 tâm Bất Thiện, Khai ý Môn, 8 Thiện Dục Giới, 8 Duy Tác Dục Giới và 2 Tâm Diệu Trí.


câu đố vui : ngày 18.03.2005

1. Cảnh nào dưới đây được gọi là cảnh chơn đế:
a. Âm thanh du dương
b. Thể loại của bản nhạc
c. Tính hay hoặc dở của bản nhạc
d. Cả ba câu trên đều đúng

2. Khi nói chiếc áo dài của phụ nữ Việt Nam đẹp hơn áo kimono của phụ nữ Nhật Bản thì giá trị nầy dựa trên:
a. Thị hiếu cá nhân
b. Sự quen thuộc có tính cách văn hoá
c. Bối cảnh đang có mặt
d. Ba câu trên đều đúng

3. Cũng thời phát tâm trong sạch đãnh lễ nhưng một người đãnh lễ cội bồ đề có khác với lễ tôn tượng Phật:
a. Đúng vậy. Cây bồ đề thuộc về thiên nhiên còn tượng Phật là một sản phẩm của sáng tạo của những nhà điêu khắc.
b. Sai. Cả hai đều là gợi nhắc về Đức Phật không thể nói là có sự khác biệt
c. Đúng. Chỉ có cây bồ đề được Đức Phật chính thức cho phép dùng để tưởng nghĩ đến Ngài
d. Sai. Tất cả đều là giả tướng, vì chúng sanh mê chấp tôn thờ ngẫu tượng nên mới lễ bái.

4. Khi Ông Sudatta vừa nghe anh mình nhắc đến tiếng "Phật Đà" thì dâng lên niềm hoan hỷ mãnh liệt. Tiếng Phật đà đó đối với ông:
a. Quen thuộc về âm thanh
b. Cao quí về ý nghĩa
c. Thôi thúc như túc duyên vốn có
d. Cả ba câu trên đều đúng

5. Người ta kể chuyện rằng: có một người chết xuống địa ngục gặp Diêm Vương. Nhờ có chút công đức trên trần gian nên được có phần được đãi ngộ. Diêm Vương hỏi muốn sanh làm người thế nào, người ấy trả lời: xin được giàu có muốn gì được nấy, mọi người chung quanh ai cũng yêu thương và được sống khoẻ, sống vui, sống lâu để tận hưởng. Diêm Vương nghe thế thở dài đáp: nếu trên trần gian có chuyện sung sướng như vậy thì ta đã đầu thai làm người đâu ngồi chi ở đây làm gì.
Đem câu chuyện trên so với tinh thần Phật Pháp thì câu nào dưới đây là hợp lý:
a. Con người được cái nầy thì phải mất cái kia
b. Không có cái gì hoàn hảo
c. Vui khổ vốn gắn liền vì thế chúng sanh thường nô lệ cho tham ái
d. Con người sanh ra để chịu khổ chứ không phải là hưởng sự vui thú

Thứ Năm, 17 tháng 3, 2005

Lớp Phật Học Cơ Bản
Chương III: Đạo Đức / Morality
3.2 Làm sao để hướng dẫn người khác / How to instruct others

C. Other Ways to Practice Morality / Những Cách Tu Tập Khác

Dẫn Nhập:
Có nhiều cách tu tập được gợi ý trong kinh điển Phật Pháp. Trong Phật ngôn dưới đây đề ra một cái nhìn về hai con đường: một là sống với ác pháp thì ghồ ghề hiểm trở; hai là con đường chơn chánh thì trực tiếp, bằng phẳng, nhẹ nhàng, thênh thang. Chỉ cần một chút lắng đọng tâm tư, chúng ta có thể nhận ra sự khác biệt giữa hai lối sống nầy. Đức Phật dạy hãy đi theo con đường hướng thượng.


Chánh Kinh:
"Develop the will or mind to avoid the evil. Take effort to avoid evil as an uneven road. Walk along the even road of virtue.
An unskilled state of mind leads downwards, while a skilled state of mind leads upwards' so take the path upwards."
-M.I: 40-46
Hãy tu tập tâm ý để tránh ác pháp. Hãy nỗ lực tránh ác như tránh hiểm lộ. Hãy đi trên con đường bằng phẳng của chánh hạnh. Nội tâm không thiện xảo đưa vào thối đoạ trong lúc tâm thiện xảo dẫn đến thăng tiến. Hãy đi theo con đường hướng thượng.
Kinh Trung Bộ: 40-46

Thảo Luận:
1. Thiện xảo và không thiện xảo được hiểu thế nào trong Phật ngôn nầy?
2. Cái gì để phân biệt đâu là hướng thượng đâu là thối đoạ?
3. Hiểm lộ và con đường bằng phẳng được nhận thức thế nào trong đời sống tu tập?