Thứ Tư, 16 tháng 3, 2005

Lớp Giảng Giải Kinh Văn Nghi Thức Tụng Niệm
KINH VẠN PHÁP TỔNG TRÌ - DHAMMASAṄGINĪ

16.2 Thể Tài Thiện

Những điểm chính:

Ý nghĩa của thể tài
Pháp thiện
Pháp bất thiện
Pháp vô ký

Dẫn nhập:

Thể tài mở đầu nầy nói về thiện, bất thiện và vô ký. Một thể tài lớn tạng A Tỳ Đàm. Ở đây cũng như hầu hết những thể tài có ba chi phần, là sự thống kê toàn diện không nằm trong lưỡng biên: Có thiện có bất thiện nhưng cũng có cái không thiện không bất thiện. Không phải chỉ cần thiết để hiểu điều nầy hoặc điều đối lại mà còn phải hiểu cái nằm ngoài lưỡng cực để có được cái nhìn toàn diện. Thiện được ghi nhận là cái gì tốt, đẹp, khéo, lành mạnh, tạo quả an vui thì ngược lại bất thiện là cái gì xấu, bất hảo, vụng về, tạo quả khổ đau. Nhưng tất cả không phải chỉ có vậy, vai trò của các pháp vô ký cũng quan trọng không kém. Không thấy được hết góc cạnh của vấn đề khiến chúng sanh có những kiến chấp nguy hiểm.

Chánh kinh:
Kusalā dhammā akusalā dhammā abyākatā dhammā
Có thiện, có bất thiệnCó không thiện không ácNgười trí thông lẽ đạoKhông rơi vào biên kiến


Thảo luận:

1. Có phải chắc chắn những thiện pháp đều mát mẽ, vô nhiễm?
2. Phải chăng tất cả bất thiện pháp đều vụng về?
3. Có gì để tán thán trong pháp vô ký chăng?
Câu đố vui: ngày 16-3-2005

1. Có bao nhiêu môn học trong room Diệu Pháp hằng tuần?
a. 1 môn
b. 2 môn
c. 3 môn
d. 4 môn

2. Có bao nhiêu vị giảng sư hiện hướng dẫn các chương trình trong room?
a. Trên 5 vị
b. Trên 4 vị
c. Trên 3 vị
d. Cả ba câu trên đều đúng

3. Thời gian sinh hoạt mỗi ngày là:
a. 1 giờ đồng hồ
b. 2 giờ đồng hồ
c. 3 giờ đồng hồ
d. 4 giờ đồng hồ

4. Có bao nhiêu tiết mục trong chương trình mỗi ngày?
a. 5
b. 4
c. 3
d. 2

5. Có bao nhiêu người đang phụ trách dịch và đọc tin tức Phật giáo trong room
a. 4 người
b. 7 người
c. 5 người
d. Cả 3 câu trên đều sai

Thứ Ba, 15 tháng 3, 2005

Lớp Phật Học Cơ Bản
Chương III: Đạo Đức / Morality
3.2 Làm sao để hướng dẫn người khác / How to instruct others

B. Trau Dồi Giới Hạnh Bằng Sự So Sánh / Practicing Morality by Comparing


Dẫn Nhập:
Trong một thế giới mà cuộc sống chung quanh có quá nhiều tiêu cực, ác pháp thì một người có thể dùng hoàn cảnh đó để trau giồi đức hạnh. Thay vì bất mãn, khó chịu hay a tòng với hành vi ác xấu của người chung quanh thì người tu tập có thể xem đó đó là điều cần phải phản tỉnh: người ta làm vậy mình sẽ không làm vậy. Điều được lưu ý ở đây là sự thực hành bằng cách so sánh nầy phải được dựa trên thái độ tự hoá bản thân cùng với ước vọng mang lại lợi ích cho tha nhân để tránh sự rơi vào thái độ khen mình chê người.


Chánh Kinh:

One may compare one's behavior with that of others and practice good virtues. Others may be harmful; continue as to this, we will not be harmful. Others may kill living beings, we will avoid killing.

One compares following immoral practices of others and avoids doing them for oneself. Harming living beings, stealing, indulgence in sense pleasure, lying, harsh speech, rough speech, frivolous speech, covetousness, corruptness of mind, wrong view, wrong thought, wrong speech, wrong activity, wrong way of living, wrong endeavor, wrong mindfulness, wrong concentration, wrong knowledge, wrong freedom, sloth and torpor, being puffed up, doubtful, wrathful, rancorous, harsh, spiteful, envious, grudging, treacherous, deceitful, stubborn, proud, difficult to speak to, becoming friends with those who are evil, indolent, lacking in faith, shameless, reckless, of little learning, lazy, with muddled mindfulness, weak in wisdom.
One purifies one's mind from these immoral practices and develops positive virtues comparing other peoples' way of life with that of oneself

This way of morality is not at all strict individualism. For it is said that one must be good before one tries to purify others. Consideration for the good of others is always intrinsic in this moral practice. -Expositor: 92

Một người có thể so sánh hành vi của mình với người khác để trau giồi giới đức. Người khác não hại mình sống vô hại. Người khác sát hại sinh vật mình sẽ không sát sanh. Người ấy so sánh những ác hạnh của người khác rồi tự mình tránh không làm. Sát sanh, trộm cắp, tà hạnh, nói dối, nói lời chia rẽ, nói lời độc ác, nói lời vô ích, tham ác, sân ác, tà kiến ác. Tà kiến, tà tư duy, tà ngữ, tà nghiệp, tà mạng, tà tinh tấn, tà niệm, tà định. Tri kiến sai lạc, giải thoát sai lạc, hôn trầm, thuỵ miên, kiêu căng, nghi hoặc, phẩn nộ., hiềm hận, lỗ mãng, gian ác, so đo, ganh tị, man trá, lừa đảo, cang ngạnh, tự mãn, khó nói, thận cận bạn xấu là những người thiếu niềm tin, thiếu tàm quý, phóng túng, thiếu học hiểu, biếng nhác, thất niệm, thiếu trí.
Một người thanh lọc tâm tư của mình không còn những ác pháp trên và trau dồi thiện pháp bằng cách so sánh sở hành của người khác với mình.
Sự trau giồi giới hạnh bằng cách nầy không phải để đề cao tự ngã bởi vì muốn mang lại lợi ích cho người khác trước hết phải thanh lọc chính mình. Nghĩ về lợi lạc cho người khác là tâm niệm cần có trong cách thực hành nầy.
Tổng Thuyết: 92


Thảo Luận:
1) So sánh thế nào gọi là ngã mạn và thế nào là không ngã mạn?
2) Tại sao có những những lúc quan niệm "nhân ngã bỉ thử" tỏ ra đắc dụng trong sự tu tập?
3) Sự tu tập bằng cách so sánh nầy có thể gọi là một "pháp môn" tu không?


Câu đố vui:

1. Cũng cùng sống trong một môi trường mà có người lấy hoàn cảnh chung quanh để rèn luyện chính mình trong lúc người khác thì tập nhiễm. Yếu tố nào dưới đây được người tu Phật xem là nguyên nhân chính:
a. Do duyên nghiệp
b. Do khéo suy nghĩ hay vụng suy nghĩ
c. Do may rũi
d. Do xã hội có tổ chức tốt hay không

2. Câu nào dưới đây phù hợp với tinh thần Phật Pháp
a. Không có một bản ngã độc lập với nhân duyên nhưng vẫn có thể dùng quan niệm "tôi, ta" trong cách nói thường thức.
b. Tuyệt đối không thể dùng được các từ "tôi, ta" vì Đạo Phật chủ trương vô ngã
c. Vô ngã hay hữu ngã chỉ là phương tiện mà nói vốn không phải là cốt luỷ của Phật Pháp
d. Cả ba câu trên đều sai

3. Thời Phật trụ thế có một người xuất thân tầm thường thấy những người quý tộc đi xuất gia nên cũng từ bỏ bạc vàng để đi xuất gia người đó là:
a. Tôn giả Ananda (A Nan)
b. Tôn giả Sariputta (Xá Lợi Phất)
c. Tôn giả Upali (Ưu Ba Ly)
d. Tôn giả Angulimala (Ương Quật Ma)

4. Tam y của chư tỳ khưu đệ tử Phật có nghĩa là:
a. Mỗi vị được ba bộ y
b. Một bộ mặc thường ngày, một bộ mặc lúc hành lễ, một bộ mặc lúc đi ra đường
c. Y nội, y thượng, y kép
d. Nương vào thầy, nương vào pháp, nương vào tăng chúng

5. Trong tập vi tiếu có câu chuyện nầy:
Nghiệp Còn NặngThấy bà tín nữ đem một lồng chim đến chùa Ða Văn mừng rỡ đón lấy toan phóng sanh. Bà tín nữ giằng lại, nói:
- Không phải tôi phóng sinh ở đây đâu. Tôi chỉ gởi đây rồi mai trở lại lấy.
- Chứ bà định làm gì với lồng chim đó?
Bà tín nữ giải thích:
- Chú không biết sao, ngày mai có lễ ở chùa dưới phố, tôi sẽ đem đến đó phóng sinh.
Ða Văn thở dài ngẫm nghĩ: "Phố cách đây cả trăm cây số lại phải đợi đến ngày mai, chắc nghiệp của bầy chim này còn nặng".
Xét câu chuyện trên thì điều nào dưới đây là hợp lý:
a. Phóng sanh mà như vậy chỉ tạo thêm nghiệp xấu chứ không có phước
b. Phóng sanh mà có tụng kinh thì phúc đức mới viên mãn
c. Việc gì cũng phải xét nhiều phương diện, vấn đề không thể nhìn một khía cạnh là đủ
d. Cả ba câu trên đều đúng

Thứ Hai, 14 tháng 3, 2005

Câu đố vui: ngày14.03.05

1. Phải chăng pháp chẳng phải thiện là bất thiện?
a. Đúng. Bất thiện có nghĩa là chẳng phải thiện
b. Sai. Có pháp chẳng phải thiện nhưng không là bất thiện
c. Đúng. Không bạn thì là thù
d. Sai. Chỉ có ít người hành thiện. Không thể vì vậy lên án số đông còn lại là ác

2. Phải chăng theo A Tỳ Đàm, có những điều tốt nhưng không gọi là thiện?

a. Đúng vậy. Tâm thiện phải là tốt mà cũng phải có khả năng sanh quả (tốt)
b. Sai. Hễ gọi là tốt thì ắt hẳn phải là thiện
c. Đúng. Sở hành tốt đẹp của bậc vô sanh không thể gọi là thiện
d. Câu a và c đúng

3. Người học Phật cần hiểu về pháp vô ký bởi vì:

a. Rất nguy hiểm nếu quan niệm rằng cái gì không thiện thì là ác hay ngược lại
b. Không có cái nhìn đúng đắn về sở của các bậc hoàn toàn giải thoát
c. Không thấy được cái gì là quả của quá khứ, cái gì là nhân hiện tại
d. Cả 3 câu trên đều đúng

4. Đức Phật từng dạy tôn giả Nanda rằng nếu trau giồi thiện pháp thì sẽ được sanh thiên sống chung với các tiên nữ. Điều nầy có thể được hiểu là:
a. Đức Phật khuyến khích sự tu tập hướng cầu thiên giới
b. Đức Phật dạy sắc dục trần gian không đáng tán thán nhưng thiên sắc thiên hương thì đáng hoan hỷ
c. Để giúp Nanda vượt qua căn bệnh phiền não trầm kha đang có
d. Đức Phật chỉ dùng phương tiện khuyến dụ trên thực tế không phải vậy

5. Trong câu dưới đây tìm một bình chú thích hợp với tinh thần học Phật:
Gió chiều nhè nhẹ trên non
Ta-la trước ngỏ vẫn còn nhởn nhơ
Cảnh Thiền cũng gợi hồn thơ
Dù không say đắm, cũng nhờ đôi khi
a. Sự uỷ mị đôi khi cũng có chỗ lợi lạc cho sự tu tập
b. Cảnh trí tươi đẹp chung quanh cũng có thể khiến lòng thảnh thơi miễn là không dính mắc
c. Thi ca và thiền học vốn là bạn đồng hành
d. Cảnh chùa thì cần phải thi vị

Chủ Nhật, 13 tháng 3, 2005

Lớp Kinh Pháp Cú

Phẩm 06: Hiền Trí - Phẩm Hiền Trí (Pandita Vagga)

Kệ ngôn 79 : Người Trí Vui Trong Chánh Pháp


Bản Việt văn của Tỳ khưu Giác Đẳng:

Pháp hỷ tạo niềm vui
Với tâm tư an tịnh
Người trí luôn hân hoan
Pháp thuyết bởi bậc thánh


Bản Phạm Văn Palì và thích nghĩa:

Dhammapiiti sukha.m seti vippasannena cetasaaAriyappavedite dhamme sadaa ramati pa.n.dito.


Bản Anh văn của Ngài Bhikkhu Khantipalo dịch:

He who imbibes the Dhammaabides in happiness with mind pacified;the wise man ever delights in the Dhammarevealed by the Ariyas.


Duyên sự

Tôn giả Kappina vốn là một quân vương xuất gia theo Phật. Đôi lúc nữa đêm vị nầy thốt lời " hạnh phúc thay" khiến những bạn đồng phạm hạnh ngờ vực. Đức Phật gọi đến làm sáng tỏ câu chuyện rồi Ngài dạy kệ ngôn trên.

Thảo luận

1. Pháp hỉ ở đây được hiểu thế nào?
2. Làm sao để tạo được niềm hân hoan với chánh pháp?
3. Tu vì "vui" có tốt hơn tu vì "buồn"?

Ý Chính

Vui trong chánh pháp khiến lòng tịnh lạc vì vậy bậc thiện trí luôn hân hoan trong lời dạy của thánh nhân.



Đố Vui Trong Ngày

1. Muốn tu thì thì phải thấy đời là khổ không thể sống bằng niềm vui (dù vui trong chánh pháp).
a. Đúng vậy, tất cả niềm vui đều dẫn đến dính mắc
b. Sai, có những niềm vui nên có và những niềm vui không nên có
c. Đúng vậy, thuyền ngược gió xuôi gió đều trong biển khổ
d. Sai, mình tu vì vui mau đắc hơn tu vì khổ

2. Người nào dưới dây là người "vui trong chánh pháp"
a. Mình bố thí vui thấy rằng nhờ đó tạo thành tiếng thơm
b. Mình bố thí vui mà nghĩ đến đời sau giàu có
c. Mình bố thí vui thấy người khác được lợi lạc mà mình thì bớt được lòng ích kỷ
d. Mình bố thí vui thấy mình là người thi ân chứ không thọ ân

3. Phải chăng chính Đức Phật cũng kính trọng pháp mà Ngài giác ngộ?
a. Đúng vậy
b. Sai
c. Đúng một phần, sai một phần
d.Điều đó không có ghi trong kinh điển

4. Câu nào dưới đây là sai với lịch sử Phật giáo
a. Magadha (Ma Kiệt Đà) với kinh đô Rajagaha (Vương Xá) là nơi xuất thân nhiều thánh đệ tử lỗi lạc của Đức Phật
b. Kuru (Câu La) là nơi có nhiều người đặc biệt ưa thích tu tập tứ niệm xứ
c. Vương quốc Sakya với kinh đô Kapilavatthu (Ca Tỳ La Vệ) là nơi sản sinh nhiều bạo chúa d. Kosala (Kiều Tá La) với kinh đô Savatthi (Xá Vệ) là nơi có nhiều đàn tín quan trọng của Đức Phật

5. Một thi sĩ tiền chiến viết rằng:
Ta có chờ đâu có đợi đâu
Can chi xuân đến gợi thêm sầu
Với ta tất cả đều vô nghĩa
Tất cả không ngoài nghĩa khổ đau


Tâm trạng đó có phù hợp với "tâm yểm ly" của người tu Phật chăng?

a. Đúng vậy, khi hiểu rõ thì tất cả đều là đau khổ
b. Sai. Cái nhìn đời là khổ của một thi sĩ, một hành giả vốn không giống nhau
c. Sai. Một người đã thật sự thấy được bản chất của đau khổ thì không có chuyện "gợi thêm sầu"
d. Câu b và c đúng


1. Bản Phạn Ngữ, Anh Ngữ lấy từ website Budsas.org của Dr. Bình Anson
2. Bản chữ Hán và Kinh Thơ do Phật tử Như Khanh thực hiện
3. Hình ảnh Dhammapada lấy từ trang Treasury of Truth của Ven Sarada Maha There

Thứ Bảy, 12 tháng 3, 2005

Lớp A Tỳ Đàm 12-3-05

a. Cảnh phân theo giác quan

1. Cảnh sắc là đối týợng của thị giác hay nhãn thức. Cảnh nầy bao gồm hình ảnh trực tiếp đập vào mắt nhý ánh sáng, màu sắc, chiều kích. Cảm quan về cái đẹp của cảnh sắc không phải là nhãn thức mà thuộc về ý thức.
2. Cảnh thinh là đối týợng của thính giác hay nhĩ thức. Cảnh nầy là âm thanh ghi nhận bởi tai.
3. Cảnh khí là đối týợng của khứu giác hay tỷ thức. Cảnh nầy là các mùi ghi nhận bỏi mũi.
4. Cảnh vị là là đối týợng của vị giác hay thiệt thức. Cảnh nầy là tất cả các vị mặn, ngọt, chua, cay .. ghi nhận bởi lýỡi.
5. Cảnh xúc là đối týợng của xúc giác hay thân thức. Cảnh nầy là tất cả những gì ghi nhận bởi thân nhý sự êm ái khi ngồi trên một chiếc ghế hay nhức răng ...
6. Cảnh ngũ là nói chung gồm năm cảnh sắc, thinh, khí, vị, xúc. Sở dĩ nêu lên cảnh ngũ vì 5 cảnh nầy thuộc ngoại giới. Trực tiếp xúc chạm ngũ quan. Chúng sanh thýờng lãnh hội thế giới chung quanh qua năm cảnh nầy. Trong năm cảnh thì cảnh đầu: sắc týớng và âm thanh có thể tồn tại trong cảnh giới tế nhị so với 3 cảnh còn lại týõng đối là thô. Năm cảnh nầy thýờng tạo nên sự lệ thuộc mang tính bản năng của chúng sanh nên đýợc gọi là ngũ dục. Một hành giả muốn đi sâu vào thế giới của thiền định phải có khả năng giảm thiểu sự ham thích năm cảnh nầy. Chính cảnh ngũ làm vẫn đục định tâm của của ngýời tu tập nên gọi là ngũ trần.
7. Cảnh pháp là cảnh giới nhận thức của tâm ngoài 5 cảnh trên nhý sự suy tý, nhớ týởng, kiến thức .... Nếu năm cảnh sắc, thinh, khí, vị, xúc trở thành quá khứ thì cũng là cảnh pháp thí dụ nhý một hình ảnh đẹp đã thấy hôm qua chẳng hạn.

Đố vui trong ngày

Tìm một số từ bị "thất lạc" trong bài thõ dýới đây:


Gió mây biến đổi lẽ thường
Cõi đời vạn vật ___1___ luật chung
Dù ai gắng sức vẩy vùng
Nào đâu thoát khỏi khổ chung: sanh già...
Ðầu gành giọt nước vừa sa
Tinh sương biến dạng chiều tà bụi đông
Có nhà tăng sĩ NGUYÊN KHÔNG
Vân du hành cước chẳng lòng vương mang
Che thân có ____2___
Với bình bát nọ hành trang của Ngài
Nối truyền phẩm hạnh Như Lai
Bên trong Giới Ðịnh... bên ngoài bát y
Dù rằng giới luật hành trì
Nhưng không lập dị, chẳng khi người lầm
Dù hằng giảng giải ____3____
Nhưng không tự mãn, chẳng cầm rẽ ai
Chẳng phân bỉ thử ____4____
Ðêm đêm tịnh mặc, ngày ngày thiền cư
Sống đời Thánh thiện vô tư
____5____ từng bữa, ngụ nhờ từng đêm

Thứ Sáu, 11 tháng 3, 2005

Lớp A Tỳ Đàm 11-3-2005

Cảnh (Àrammana) hay Đối Tượng Của Tâm Thức

A Tỳ Đàm định nghĩa tâm là sự biết cảnh do vậy cái gì tâm biết đều là cảnh. Từ đó cho thấy cảnh ở đây bao gồm những đối tượng độc lập với tâm thức cũng như những đối tượng vốn là sản phẩm của tâm thức. Khi cảnh được phân theo giác quan hay sáu căn thì có sáu cảnh nhưng trong cách nói rộng rãi chi tiết thì A Tỳ Đàm nói đến 21 cảnh bao gồm mọi phạm trù của nhận thức. Ở đây không có nghĩa là một mỗi cảnh là đối tượng riêng biệt mà một đối tượng có thể gọi là nhiều cảnh khác nhau thí dụ một đối tượng vừa là cảnh sắc, vừa là cảnh dục giới, cảnh chơn đế, cảnh ngoại phần ..v.v. Chính cách nhìn vào gọi từ nhiều góc cạnh khác nhau cho thấy khái niệm hết sức quan trọng về sự hoạt dụng của tâm thức.
A Tỳ Đàm không nói là tâm tạo ra tất cả mà nói là tâm có thể biết tất cả cảnh. Dù là tục đế hay chơn đế, dục giới hay đáo đại, danh hay sắc, hữu vi hay vô vi đều nằm trong khả năng nhận thức của tâm thức. Điều nầy mở ra một cánh cửa lớn về tâm thức theo Đạo Phật. Chi tiết hơn, A Tỳ Đàm nói đến nhiều cái biết như của thức, của tưởng, của trí. Thuộc tánh tưởng (Sannacetasika) có mặt trong tất cả tâm được định nghĩa là "biết do từng biết" nhưng lại có mặt trong tâm sơ đạo được hiểu là "biết cái chưa từng biết" là một trong nhiều thí dụ cho thấy sự tinh vi của môn học nầy khi làm cơ sở thảo luận Phật học.


A Tỳ Đàm, qua sự phân tích về duyên hệ, đã không nói đến một yếu tố độc tôn quyết định tất cả. Tâm và cảnh đều có ảnh hưởng tự nhiên. Không thể nói tất cả do tâm hay tất cả do cảnh. Giáo lý vô ngã vốn là một hệ luận tự nhiên của lý nhân duyên. Mặc dù nhiều thế kỷ sau khi Phật viên tịch đã có những cố gắng để đưa ra cái nhìn ngược lại nhưng không ai có thể phủ nhận được rằng quan niệm chân ngã vốn không thể tìm thấy trong A Tỳ Đàm.


Có tổng cộng là 21 cảnh được đề cập ở đây. Có thể phân thành 6 nhóm:
a. Cảnh phân theo giác quan hay căn môn gồm 7: cảnh sắc, cảnh thinh, cảnh khí, cảnh vị, cảnh xúc, cảnh ngũ, cảnh pháp
b. Cảnh phân theo bản thể và thi thiết có 2: cảnh chơn đế, cảnh chế định
c. Cảnh phân theo thô tế có 3: cảnh dục giới, cảnh đáo đại, cảnh níp-bàn
d. Cảnh phân theo danh sắc có 2: cảnh danh pháp, cảnh sắc pháp
e. Cảnh phân theo thời gian có 4: cảnh quá khứ, cảnh hiện tại, cảnh vị lai, cảnh ngoại thời
f. Cảnh phân theo không gian (...) có 3: cảnh nội phần, cảnh ngoại phần, cảnh nội ngoại phần.

Đố vui trong ngày

1. Từ nào dưới đây có chữ cảnh đúng nghĩa với chữ "cảnh - àrammana" trong A Tỳ Đàm
a. Cảnh huống
b. Cảnh trí
c. Cảnh tỉnh
d. Cảnh sắc

2. Câu nào dưới đây đúng với giáo lý A Tỳ Đàm
a. Tất cả cảnh đều do duyên sanh
b. Tất cả cảnh đều do tâm tạo
c. Tất cả cảnh đều bị tâm nhận thức
d. Tất cả cảnh đều là thực tại

3. Có một lần người ta thuê người chửi mắng Đức Phật, tôn giả Ananda thỉnh Đức Thế Tôn đi nơi khác. Đức Phật đã hỏi lại rằng:
a. Đi nơi nào đây?
b. Đi nơi khác người ta vẫn chửi thì làm sao?
c. Có biết nơi nào tốt đẹp hơn chăng?
d. Ai đứng sau lưng những mạ lị hủy báng nầy?

4. Có một vị Càn Thát Bàn vâng lời Đế Thích đến khảy đàn cúng dường Đức Phật. Đức Phật khen là âm điệu hay. Điều nào dưới đây là hợp lý trong tinh thần học Phật:
a. Đức Phật cũng thích âm nhạc
b. Phẩm vị nghệ thuật không chỉ năm ở tham ái
c. Chỉ có nhạc của trời mới xứng đáng để cúng dường cho Phật
d. Cả ba câu trên đều sai

5. Tổ Bách Trượng đề ra nguyên tắc "nhất nhật bất tác bất thực" ( ngày nào không làm thì quyết không ăn). Khi tổ già yếu, đồ chúng không muốn tôn sư lao động cực khổ nên khuyên ngài nghỉ ngơi nhưng tổ không nghe. Khuyên không được nên một số đệ tử lập kế giấu đi những nông cụ khiến ngài không làm gì được đành quyết địn tuyệt thực. Thấy tổ nhịn ăn, chúng đệ tử hối hận quỳ trước am thất sám hối mong ngài tha thứ và tho thực. Nói thế nào tổ vẫn không đổi ý, cửa phòng vẫn khép kín. Bổng dưng một chú tiểu bước lên nói lớn rằng: Kính bạch phương trượng Ngài không ăn không sao nhưng bắt mọi người quỳ ở đây nhịn đói thì thật không từ bi chút nào. Cánh cửa mở ra, Tổ bằng lòng thọ thực.
Lý do nào tổ Bách Trượng đổi ý:

a. Tổ sợ đi kinh tế mới
b. Ở đây nhịn ăn là một nguyên tắc mà đồng ý ăn cũng là một nguyên tắc
c. Tổ thấy có yêu sách thì cũng chừng mực thôi
d. Có thể Tổ nghĩ là là giáo đa thành oán

Thứ Năm, 10 tháng 3, 2005

Lớp Phật Học Cơ Bản
Part III: Morality / Đạo Đức
3.2 A. Tự giác mới giác tha

Những điểm chính:
Phải tự giác trước khi giác tha
Vấn đề thực tiễn
Làm sao để tự thanh lọc?

Dẫn nhập:
Một người đã tốt đẹp thì mới có thể làm cho người khác được tốt đẹp được.
Đức Phật là một điển hình, Ngài dạy chúng sanh cách thanh lọc phiền não để giải thoát, thì chính Ngài đã thanh lọc phiền não và đã giải thoát rồi. Nói những gì mà mình đã thực chứng thực nghiệm thì lời nói đó mới có giá trị và hữu hiệu bởi đã kinh nghiệm qua. Đức Phật thường khuyên dạy đệ tử phải tự giác trước khi giác tha.
Một thí dụ rất thực tiễn, khi chính mình đã đứng trên bờ thì mới kéo người khác ra khỏi bùn lầy được; nếu mình và người kia cùng đang bị lún sâu dưới bùn lầy thì làm sao có thể kéo người khác lên bờ được?
Hoan hỷ trong điều thiện, tinh tấn dẹp bỏ điều ác, biết tự giáo hoá và khắc phục những lỗi lầm, đó là những điều cơ bản để tự thanh lọc chính mình.

Chánh kinh:
It cannot be, Cunda, that one who is sunk in mud can pull out another who is sunk is mud. It is possible, Cunda, when one not sunk in mud will by himself pull out another who is sunk a mud. When one is not tamed, not trained, not quenehed (of defilements), one cannot make another utterly quenched (of defilements).

“Này Cunda, một điều không thể được đó là người đang bị lún trong bùn mà kéo lên người khác cũng đang bị lún trong bùn. Này Cunda, một điều có thể được là khi một người tự mình không bị lún trong bùn thì anh ta có thể kéo lên một người khác đang bị lún trong bùn. Khi một người chưa được nhiếp phục, chưa được huấn luyện, chưa được hoàn toàn giải thoát (khỏi cấu uế), người ấy không thể nhiếp phục, huấn luyện làm cho người khác giải thoát (khỏi cấu uế).

Thảo luận:
1) Một vị chưa tự mình chứng đạt quả giải thoát nhưng vị ấy có thể dựa trên kinh điển mà thuyết pháp giải thoát cho người khác nghe được không?
2) Ngưòi khác nghe pháp thanh tịnh từ nơi một người chưa được thanh tịnh, nếu người kia nỗ lực hành đúng pháp ấy thì có thể đạt kết quả không?
3) Nếu ai cũng nghĩ rằng mình chưa giải thoát nên không khuyên dạy người khác pháp giải thoát. Điều đó làm cho Phật pháp thịnh hay suy?
Câu đố vui: Thứ năm, 10.3.2005

1) Một người hành theo Phật pháp có được kết quả là nhờ vào:
a. Sự nỗ lực tự bản thân hành đúng pháp
b. Sự hướng dẫn của một vị thầy đã đạt đến giải thoát
c. Sự tinh tấn chính mình và sự hướng dẫn chân chính của vị thầy
d. Nhân duyên hội đủ

2) Sự kiện nào là tốt đẹp, khi một người nghe vị khác thuyết pháp:
a. Nhìn vào vị thầy để làm gương
b. Chỉ cần lắng nghe và chấp nhận lời dạy của vị thầy
c. Suy xét pháp của vị ấy thuyết, nếu đúng thì thọ trì
d. Câu a và c đúng

3) Phật pháp có hiệu năng đến chúng sanh, ở đây hiệu năng của Phật pháp là y cứ:
a. Người thuyết pháp là bậc thanh tịnh
b. Người nghe pháp có thực hành theo
c. Tự chánh pháp đã có hiệu năng
d. Câu a và b đúng

4) Một người đã giác ngộ giải thoát nhưng không đem pháp giải thoát ấy dạy cho người khác.
a. A-la-hán Độc giác
b. A-la-hán chỉ thích sống độc cư
c. A-la-hán không đắc tuệ phân tích
d. Cả ba câu đều đúng

5) Hình ảnh một con voi bị sa lầy nghe tiếng trống trận đã tự mình rút chân khỏi đầm lầy, thí dụ này Đức Phật dạy với ý nghĩa:
a. Vị Tỳ-kheo phải nỗ lực, tinh tấn đạt đến giải thoát
b. Vị Tỳ-kheo phải biết lựa chọn pháp môn để thực hành
c. Vị Tỳ-kheo phải thức tỉnh giữa chúng sanh đang say ngủ
d. Vị Tỳ-kheo hãy tự giác không trông cậy vào ai

Thứ Ba, 8 tháng 3, 2005

thứ tư, 9.3.2005 - Kinh văn

KINH VẠN PHÁP TỔNG TRÌDHAMMASAṄGINĪ

16.1. “Giới thiệu Kinh Vạn pháp tổng trì”

Những điểm chính:

· Xuất xứ kinh Vạn pháp tổng trì
· Nội dung kinh Vạn pháp tổng trì
· Tác dụng suy niệm kinh

Dẫn nhập:

Xưa Phật dạy Thắng PhápVề bản thể chân đếNhờ nghe Vi Diệu TạngPhật Mẫu chứng thánh quả. Nay đệ tử chúng con Trì tụng Ma Ti KaNguyện uy đức vô cùngÐộ chúng sanh thoát khổ. Kinh Vạn pháp tổng trì được trích từ bộ thứ nhất của tạng Vi Diệu Pháp, bộ Pháp tụ (Dhammasaṅginī). Bộ Pháp tụ này dẫn giải các đầu đề tổng trì vạn pháp, gồm có đầu đề tam, đầu đề nhị và nhị đề kinh. Ở đây, chư Tăng thường tụng đọc kinh Vạn pháp tổng trì theo đầu đề tam; đầu đề tam là những pháp đề có ba câu tổng hợp ý nghĩa các pháp. Giá trị của kinh Vạn pháp tổng trì là nêu rõ đặc tính của vạn vật vũ trụ, trình bày hai khía cạnh danh sắc. Tụng đọc kinh Vạn pháp tổng trì và hiểu được nghĩa lý sẽ làm cho trí tuệ nhạy bén, phân tích khía cạnh pháp mỗi trường hợp được rõ ràng không có sự nhầm lẫn.

Chánh kinh:

Bản thể pháp gồm bốn
Tâm, tánh, sắc, niết bàn
Phân biệt theo chức năng
Ðồng dị tuỳ thể loại

Thảo luận:


1. Có ý nghĩa gì khi truyền thống chư Tăng Phật giáo Nam tông lấy kinh Vi Diệu Pháp đưa vào nghi thức kinh tụng cầu siêu?
2. Tại sao gọi là kinh Vạn pháp tổng trì (Dhammasaṅginī)?
3. Kinh Vạn pháp tổng trì, đối với người sống còn khó lãnh hội thế thì làm sao người chết hiểu được?