Thứ Ba, 8 tháng 3, 2005
Lớp Phật Học Cơ Bản
Part III: Morality / Đạo Đức
3.1E Những tâm trạng thao thức
Những điểm chính :
. Sức mạnh tư duy ức chế thần kinh
. Thao thức bồn chồn và tỉnh táo
. Nên hay không nên thao thức ?
Dẫn nhập :
Tư duy thuộc tâm lý, hệ thần kinh thuộc vật lý; rất nhiều trường hợp xảy ra trong đời sống, tâm lý tác động đến vật lý, tư duy có thể ức chế thần kinh. Một người quá vui hay quá buồn, quá lo lắng hay quá suy tư có thể làm cho người ấy ít ăn ít ngủ.
Trong đoạn kinh sau đây, Đức Phật đã nêu rõ vấn đề ấy, có năm trường hợp mà tâm lý ức chế thần kinh làm cho người ấy ít ngủ. Trong năm trường hợp ấy có ba trường hợp thao thức vì tâm trạng bồn chồn. Một trường hợp thao thức vì tâm suy nghĩ nhiều và một trường hợp ít ngủ vì tỉnh thức.
Trường hợp ít ngủ với tâm trạng tỉnh lặng an lành thì nên vì không hại sức khỏe, nếu ít ngủ với tâm trạng ray rức bồn chồn thì không nên vì có hai cho sưc khỏe và cũng làm cho tinh thần suy sụp.
Chánh kinh :
Monks, these five sleep little by night, they are much awake. What five ? A woman longing for a woman; a thief longing for booty, minister bent on official business, and a monk longing for release from the bondage of defilements sleeps little at night, is much awake.
A.III, 152
Này các Tỳ kheo, có năm hạng người này ban đêm thao thức ít ngủ. Thế nào là năm ? Người nữ khao khát người nam, ban đêm thao thức ít ngủ; người nam khao khát người nữ, ban đêm thao thức ít ngủ, kẻ trộm mong mỏi vật trộm, ban đêm thao thức ít ngủ, quan nhân lo nghỉ công vụ, ban đêm thao thức ít ngủ, vị Tỳ kheo tầm cầu ly hệ phược, ban đêm thao thức ít ngủ. (A.III.152)
Thảo luận :
1/ Việc ăn ngủ là vấn đề tự nhiên của cơ thể, để cân bằng sinh thái, nếu người tu hành hạn chế việc ăn ngủ, điều đó có ảnh hưởng xấu không ?
2/ Một vị A la hán có ngủ nghỉ không ? và phải chăng giấc ngủ của ngài cũng đến bằng trạng thái buồn ngủ dả dượi ?
3/ Giữa hai danh từ "Tỉnh ngủ" và "Tỉnh thức", có ý nghĩa khác nhau không ?
Part III: Morality / Đạo Đức
3.1E Những tâm trạng thao thức
Những điểm chính :
. Sức mạnh tư duy ức chế thần kinh
. Thao thức bồn chồn và tỉnh táo
. Nên hay không nên thao thức ?
Dẫn nhập :
Tư duy thuộc tâm lý, hệ thần kinh thuộc vật lý; rất nhiều trường hợp xảy ra trong đời sống, tâm lý tác động đến vật lý, tư duy có thể ức chế thần kinh. Một người quá vui hay quá buồn, quá lo lắng hay quá suy tư có thể làm cho người ấy ít ăn ít ngủ.
Trong đoạn kinh sau đây, Đức Phật đã nêu rõ vấn đề ấy, có năm trường hợp mà tâm lý ức chế thần kinh làm cho người ấy ít ngủ. Trong năm trường hợp ấy có ba trường hợp thao thức vì tâm trạng bồn chồn. Một trường hợp thao thức vì tâm suy nghĩ nhiều và một trường hợp ít ngủ vì tỉnh thức.
Trường hợp ít ngủ với tâm trạng tỉnh lặng an lành thì nên vì không hại sức khỏe, nếu ít ngủ với tâm trạng ray rức bồn chồn thì không nên vì có hai cho sưc khỏe và cũng làm cho tinh thần suy sụp.
Chánh kinh :
Monks, these five sleep little by night, they are much awake. What five ? A woman longing for a woman; a thief longing for booty, minister bent on official business, and a monk longing for release from the bondage of defilements sleeps little at night, is much awake.
A.III, 152
Này các Tỳ kheo, có năm hạng người này ban đêm thao thức ít ngủ. Thế nào là năm ? Người nữ khao khát người nam, ban đêm thao thức ít ngủ; người nam khao khát người nữ, ban đêm thao thức ít ngủ, kẻ trộm mong mỏi vật trộm, ban đêm thao thức ít ngủ, quan nhân lo nghỉ công vụ, ban đêm thao thức ít ngủ, vị Tỳ kheo tầm cầu ly hệ phược, ban đêm thao thức ít ngủ. (A.III.152)
Thảo luận :
1/ Việc ăn ngủ là vấn đề tự nhiên của cơ thể, để cân bằng sinh thái, nếu người tu hành hạn chế việc ăn ngủ, điều đó có ảnh hưởng xấu không ?
2/ Một vị A la hán có ngủ nghỉ không ? và phải chăng giấc ngủ của ngài cũng đến bằng trạng thái buồn ngủ dả dượi ?
3/ Giữa hai danh từ "Tỉnh ngủ" và "Tỉnh thức", có ý nghĩa khác nhau không ?
Câu đố vui: ngày 8.3.2005
1/ Đối với vị tu hành, ít ngủ là điều tốt :
a. Bởi ngủ ít làm cho cơ thể nhẹ nhàng không biếng nhác.
b. Bởi ngủ ít làm cho tâm trí tỉnh táo linh hoạt.
c. Bởi ngủ ít không phí thời gian tu tập.
d. Cả ba câu đúng.
2/ Theo Phật pháp, Đức Phật đã dạy trong việc ăn ngủ của vị Tỳ kheo :
a. Ngài khuyến khích ăn ngủ, để có sức khoẻ.
b. Ngài chê trách sự ăn no ngủ kỷ sẽ làm trí tuệ lui sụt.
c. Ngài khuyên hạn chế việc ăn ngủ, hãy sống điều độ theo trung đạo.
d. Ngài không khuyến khích cũng không ngăn cản việc ăn ngủ.
3/ ý nghĩa về con đường trung đạo tránh xa hai cực đoan, điều này đã được Đức Phật thuyết trong bài kinh
a. Kinh chuyển pháp luân
b. Kinh vô ngã tướng
c. Kinh pháp an lành
d. Kinh Tứ Niệm Xứ.
4/ Hình ảnh nào dưới đây gợi lại cho ta nhớ về Đức Phật :
a. Một vị Sa môn tỉnh tọa dưới tàn cây trong đêm trăng.
b. Một vị Sa môn đang ngồi thiền trong am thất giữa rừng vắng.
c. Một vị Sa môn đang khất thực giữa làng mạc.
d. Một vị Sa môn đang ẩn cư trong hang động.
5/ Có một bài kệ Đức Phật đã dạy trong kinh pháp cú "Người ăn no, ngủ kỷ / nằm lăn lóc qua lại / như heo mập nuôi cám / đần độn tái sanh mãi". Bài kệ này được thuyết cho ai ?
a. Vua Udena
b. Vua Pasenadi
c. Vua Bimbisàra
d. Một vị Tỳ kheo
1/ Đối với vị tu hành, ít ngủ là điều tốt :
a. Bởi ngủ ít làm cho cơ thể nhẹ nhàng không biếng nhác.
b. Bởi ngủ ít làm cho tâm trí tỉnh táo linh hoạt.
c. Bởi ngủ ít không phí thời gian tu tập.
d. Cả ba câu đúng.
2/ Theo Phật pháp, Đức Phật đã dạy trong việc ăn ngủ của vị Tỳ kheo :
a. Ngài khuyến khích ăn ngủ, để có sức khoẻ.
b. Ngài chê trách sự ăn no ngủ kỷ sẽ làm trí tuệ lui sụt.
c. Ngài khuyên hạn chế việc ăn ngủ, hãy sống điều độ theo trung đạo.
d. Ngài không khuyến khích cũng không ngăn cản việc ăn ngủ.
3/ ý nghĩa về con đường trung đạo tránh xa hai cực đoan, điều này đã được Đức Phật thuyết trong bài kinh
a. Kinh chuyển pháp luân
b. Kinh vô ngã tướng
c. Kinh pháp an lành
d. Kinh Tứ Niệm Xứ.
4/ Hình ảnh nào dưới đây gợi lại cho ta nhớ về Đức Phật :
a. Một vị Sa môn tỉnh tọa dưới tàn cây trong đêm trăng.
b. Một vị Sa môn đang ngồi thiền trong am thất giữa rừng vắng.
c. Một vị Sa môn đang khất thực giữa làng mạc.
d. Một vị Sa môn đang ẩn cư trong hang động.
5/ Có một bài kệ Đức Phật đã dạy trong kinh pháp cú "Người ăn no, ngủ kỷ / nằm lăn lóc qua lại / như heo mập nuôi cám / đần độn tái sanh mãi". Bài kệ này được thuyết cho ai ?
a. Vua Udena
b. Vua Pasenadi
c. Vua Bimbisàra
d. Một vị Tỳ kheo
Thứ Hai, 7 tháng 3, 2005
Lớp Giảng Giải Kinh Văn Nghi Thức Tụng Niệm
15. NĂM PHÁP QUÁNPAÑCA ABHIṆHAPACCAVEKKHAṆA
Những điểm chính:
· Công phu suy quán
· Năm điều cần suy quán
· Tác dụng suy quán
Dẫn nhập:
Dù không có điều kiện để tu tập thiền định, nhưng không phải vì vậy mà người Phật tử buông thả tâm để cho trí tuệ lu mờ và phiền não chi phối. Đức Phật đã dạy cho năm pháp thường suy quán, nếu thực hành hằng ngày vẫn đem lại ích lợi cho nội tâm, vẫn gọi là tâm có tu tập.
Năm điều nên suy quán ấy là quán xét sự già, quán xét sự bệnh, quán xét sự chết, quán xét sự biệt ly, quán xét nghiệp quả. Năm điều ấy dù là bậc xuất gia hay cư sĩ cũng phải nên thực hành quán tưởng.
Chúng sanh có sự dể duôi trong thiện pháp và buông lung trong ác pháp bởi do tâm thường kiêu mạn, kiêu mạn tuổi trẻ, kiêu mạn sức khoẻ, kiêu mạn tuổi thọ, chấp thủ ái luyến, bất chấp hậu quả. Khi tu tập thường xuyên về năm pháp quán này thì không còn sự kiêu mạn, ái chấp và quên mình nữa. Đó là tác dụng lợi ích của pháp môn này.
Chánh kinh:
Jarādhammomhi jaraṃ anatīto Byādhidhammomhi byādhiṃ anatītoMaraṇadhammomhi maraṇaṃ anatītoSabbehi me piyehi manāpehinānābhavo vinābhāvoKammasakomhi kammadāyādo kammayoniKammabandhu kammapaṭisaraṇoYaṃ kammaṃ karissāmi kaḷyāṇaṃ vāPāpakaṃ vā tassa dāyādo bhavissāmi.
Phật xưa rằng kiếp nhân sinhLắm điều khổ lụy chẳng dành riêng aiXuân xanh rồi cũng tàn phaiThời hoa mộng tựa sương mai đầu cànhTấm thân tứ đại hiệp thànhốm đau tật bệnh thường tình xưa nayDù cho thọ mạng ngắn dàiCổ kim nào kẻ thoát tay tử thầnNgười thân ly biệt người thânTrăm năm bao lượt khó ngăn lệ nhoàMỗi người riêng nghiệp thiểu đaRừng mê bể khổ phải qua một mìnhTử sinh nối tiếp tử sinhTrầm luân khởi tự vô minh cội nguồnTrí nhân hiểu lẽ vô thườngTinh cần tu tập thẳng đường vô sanh.
Thảo luận:
1. Năm pháp tu quán tưởng này có thể tu đến giải thoát chăng?
2. Một vị đang tu tập thiền quán có cần thiết phải tu tập quán tưởng thêm những điều này trong mỗi ngày chăng?
3. Có nhiều thiện pháp khác cũng có tác dụng lợi ích tiến hoá, tại sao pháp suy quán ở đây chỉ nói đến năm điều?
Câu đố vui:
1. Hạng người nào dưới đây có thể đạt đến hiệu quả tu tập?
a. Hiểu nhiều nhưng không thực hành
b. Không hiểu nhưng thực hành
c. Hiểu ít nhưng thực hành nhiều
d. Hiểu nhiều nhưng thực hành ít
2. Trong việc tu tập, yếu tố để đạt được kết quả, đó là:
a. Hành đúng phương pháp dù không ước nguyện
b. Có ước nguyện dù hành sai phương pháp
c. Cả hai đều không đạt kết quả
d. Cả hai đều đạt được kết quả
3. Vị hành giả tu tập quán niệm sự chết, trí quán niệm ấy thuộc về:
a. Trí văn
b. Trí tư
c. Trí tu
d. Gồm cả ba loại trí
4. Có vị Tỳ-kheo nhờ suy quán thân khổ lúc bạo bệnh mà đắc quả A-la-hán, đó là:
a. Tỳ-kheo Girimānanda
b. Tỳ-kheo Godhika
c. Tỳ-kheo Cunda
d. Tỳ-kheo Pūtigattatissa
5. Thuở xưa Đức Phật khuyến khích các vị Tỳ-kheo sống ở rừng bởi lý do:
a. Rừng là nơi cô tịch, giúp cho tu thiền định dễ dàng
b. Các vị Tỳ-kheo thời ấy quá đông không thể ở thành thị
c. Sống ở rừng sẽ tự do thoải mái hơn ở làng mạc
d. Bản thân Ngài tìm được chân lý giải thoát từ nơi cảnh rừng
15. NĂM PHÁP QUÁNPAÑCA ABHIṆHAPACCAVEKKHAṆA
Những điểm chính:
· Công phu suy quán
· Năm điều cần suy quán
· Tác dụng suy quán
Dẫn nhập:
Dù không có điều kiện để tu tập thiền định, nhưng không phải vì vậy mà người Phật tử buông thả tâm để cho trí tuệ lu mờ và phiền não chi phối. Đức Phật đã dạy cho năm pháp thường suy quán, nếu thực hành hằng ngày vẫn đem lại ích lợi cho nội tâm, vẫn gọi là tâm có tu tập.
Năm điều nên suy quán ấy là quán xét sự già, quán xét sự bệnh, quán xét sự chết, quán xét sự biệt ly, quán xét nghiệp quả. Năm điều ấy dù là bậc xuất gia hay cư sĩ cũng phải nên thực hành quán tưởng.
Chúng sanh có sự dể duôi trong thiện pháp và buông lung trong ác pháp bởi do tâm thường kiêu mạn, kiêu mạn tuổi trẻ, kiêu mạn sức khoẻ, kiêu mạn tuổi thọ, chấp thủ ái luyến, bất chấp hậu quả. Khi tu tập thường xuyên về năm pháp quán này thì không còn sự kiêu mạn, ái chấp và quên mình nữa. Đó là tác dụng lợi ích của pháp môn này.
Chánh kinh:
Jarādhammomhi jaraṃ anatīto Byādhidhammomhi byādhiṃ anatītoMaraṇadhammomhi maraṇaṃ anatītoSabbehi me piyehi manāpehinānābhavo vinābhāvoKammasakomhi kammadāyādo kammayoniKammabandhu kammapaṭisaraṇoYaṃ kammaṃ karissāmi kaḷyāṇaṃ vāPāpakaṃ vā tassa dāyādo bhavissāmi.
Phật xưa rằng kiếp nhân sinhLắm điều khổ lụy chẳng dành riêng aiXuân xanh rồi cũng tàn phaiThời hoa mộng tựa sương mai đầu cànhTấm thân tứ đại hiệp thànhốm đau tật bệnh thường tình xưa nayDù cho thọ mạng ngắn dàiCổ kim nào kẻ thoát tay tử thầnNgười thân ly biệt người thânTrăm năm bao lượt khó ngăn lệ nhoàMỗi người riêng nghiệp thiểu đaRừng mê bể khổ phải qua một mìnhTử sinh nối tiếp tử sinhTrầm luân khởi tự vô minh cội nguồnTrí nhân hiểu lẽ vô thườngTinh cần tu tập thẳng đường vô sanh.
Thảo luận:
1. Năm pháp tu quán tưởng này có thể tu đến giải thoát chăng?
2. Một vị đang tu tập thiền quán có cần thiết phải tu tập quán tưởng thêm những điều này trong mỗi ngày chăng?
3. Có nhiều thiện pháp khác cũng có tác dụng lợi ích tiến hoá, tại sao pháp suy quán ở đây chỉ nói đến năm điều?
Câu đố vui:
1. Hạng người nào dưới đây có thể đạt đến hiệu quả tu tập?
a. Hiểu nhiều nhưng không thực hành
b. Không hiểu nhưng thực hành
c. Hiểu ít nhưng thực hành nhiều
d. Hiểu nhiều nhưng thực hành ít
2. Trong việc tu tập, yếu tố để đạt được kết quả, đó là:
a. Hành đúng phương pháp dù không ước nguyện
b. Có ước nguyện dù hành sai phương pháp
c. Cả hai đều không đạt kết quả
d. Cả hai đều đạt được kết quả
3. Vị hành giả tu tập quán niệm sự chết, trí quán niệm ấy thuộc về:
a. Trí văn
b. Trí tư
c. Trí tu
d. Gồm cả ba loại trí
4. Có vị Tỳ-kheo nhờ suy quán thân khổ lúc bạo bệnh mà đắc quả A-la-hán, đó là:
a. Tỳ-kheo Girimānanda
b. Tỳ-kheo Godhika
c. Tỳ-kheo Cunda
d. Tỳ-kheo Pūtigattatissa
5. Thuở xưa Đức Phật khuyến khích các vị Tỳ-kheo sống ở rừng bởi lý do:
a. Rừng là nơi cô tịch, giúp cho tu thiền định dễ dàng
b. Các vị Tỳ-kheo thời ấy quá đông không thể ở thành thị
c. Sống ở rừng sẽ tự do thoải mái hơn ở làng mạc
d. Bản thân Ngài tìm được chân lý giải thoát từ nơi cảnh rừng
Thứ Bảy, 5 tháng 3, 2005
Lớp giảng Kinh Pháp Cú
Phẩm 06: Hiền Trí - Phẩm Hiền Trí (Pandita Vagga)
Kệ ngôn 78: Phép Giao Du
Bản Việt văn của Tỳ khưu Giác Giới:
Chớ thân cận bạn ác
Chớ giao du tiểu nhân
Nên thân cận bạn lành
Nên giao du thượng nhân
Bản Phạm Văn Palì và thích nghĩa:
Na bhaje pāpake mitte
Na bhaje purisādhame
Bhajetha mitte kalyāṇe
Bhajetha purisuttame.
Bản Anh văn của Ngài Dhammananda:
Don’t go around with evil friends,
With rogues do not resort.
Spend your time with noble friends,
With worthy ones consort.
Bản Hán Văn của Pháp Sư Thường Bàn Ðại Ðịnh:
Mạc dữ ác hữu giao,
Mạc hữu ti bỉ giả.
Ưng dữ thiện hữu giao,
Ưng hữu cao thượng sĩ.
Duyên khởi:
Tỳ-khưu Channa (Sa-nặc) thường có lời mỉa mai và ác cảm với hai vị Thượng thủ Thinh văn của Đức Phật là Tôn giả Xá-lợi-phất và Tôn giả Mục-kiền-liên, vị ấy tỵ hiềm rằng khi thái tử rời bỏ hoàng cung đi xuất gia thì chỉ có một mình ta kề cận hộ tống đưa Ngài đi không có thấy mặt ai theo cả, nay Ngài đã thành Phật thì những vị này lại đứng trong hàng Thượng thủ Thinh văn oai phong hơn ta. Sự việc này đến tai Đức Phật, Ngài đã gọi Tỳ-khưu Channa đến và khuyên dạy: “Tỳ-khưu Sārīputta và Tỳ-khưu Moggallāna là những bậc chính nhân quân tử, là những người bạn lành của ngươi, ngươi hãy nên thân cận, giao du với các vị ấy để được tiến hóa, chớ nên hiềm khích như vậy”.
Rồi Đức Phật đã thuyết bài kệ trên.
Ý chính:
Hãy thân cận giao du với người thiện, chớ thân cận giao du với kẻ ác.
Thảo luận:
1) Theo Phật giáo thì như thế nào để gọi là người bạn lành?
2) Người bạn ác có những đặc tính hay dấu hiệu gì?
3) Bậc thượng nhân (purisuttamo) là ám chỉ cho bậc Thánh như Ngài Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên, hay có thể gọi cho những hạng phàm nhân được không?
Câu đố vui:
1) Đức tính nào dưới đây là chỉ cho một người bạn tốt:
a. Luôn luôn biết chìu ý người khác
b. Luôn luôn tán thán khen ngợi người khác
c. Có tính trung thực thẳng thắn
d. Có tính hay chỉ trích chê bai
2) Đức Phật được gọi là người bạn lành của chúng sanh vì:
a. Ngài luôn làm điều lợi ích cho chúng sanh
b. Ngài luôn cư xử tốt với chúng sanh
c. Ngài luôn có tâm từ bi với chúng sanh
d. Cả ba câu trên đều đúng
3) Thân cận với bạn xấu sẽ có hại cho mình bởi vì:
a. Người xấu không cho chúng ta lợi lộc
b. Người xấu thường khuyến khích ta làm điều xấu
c. Người xấu có thể lợi dụng ta
d. Cả ba câu trên đều đúng
4) Đức Phật có thí dụ trong kinh Pháp cú về sự thân cận với người khác như cái muỗng trong nồi canh. Thí dụ này có ý nghĩa là:
a. Hãy như cái muỗng trong nồi canh, không bị ảnh hưởng bởi vị canh
b. Hãy như cái muỗng trong nồi canh được nếm vị canh trước nhất
c. Đừng như cái muỗng trong nồi canh, không thưởng thức được vị canh
d. Đừng như cái muỗng trong nồi canh, chỉ đem vị canh cho cái lưỡi
5) Một người đã làm ác nghiệp giết cha do sự thân cận với kẻ xấu, bị kẻ xấu xúi giục; làm mất đi duyên hạnh đạo quả kiếp này. Người đó là:
a. Thanh niên Nandamānava
b. Công tử Soreyya
c. Thái tử Ajātasattu
d. Đức vua Pasenadi
Phẩm 06: Hiền Trí - Phẩm Hiền Trí (Pandita Vagga)
Kệ ngôn 78: Phép Giao Du
Chớ thân cận bạn ác
Chớ giao du tiểu nhân
Nên thân cận bạn lành
Nên giao du thượng nhân
Bản Phạm Văn Palì và thích nghĩa:
Na bhaje pāpake mitte
Na bhaje purisādhame
Bhajetha mitte kalyāṇe
Bhajetha purisuttame.
Bản Anh văn của Ngài Dhammananda:
Don’t go around with evil friends,
With rogues do not resort.
Spend your time with noble friends,
With worthy ones consort.
Bản Hán Văn của Pháp Sư Thường Bàn Ðại Ðịnh:
Mạc dữ ác hữu giao,
Mạc hữu ti bỉ giả.
Ưng dữ thiện hữu giao,
Ưng hữu cao thượng sĩ.
Duyên khởi:
Tỳ-khưu Channa (Sa-nặc) thường có lời mỉa mai và ác cảm với hai vị Thượng thủ Thinh văn của Đức Phật là Tôn giả Xá-lợi-phất và Tôn giả Mục-kiền-liên, vị ấy tỵ hiềm rằng khi thái tử rời bỏ hoàng cung đi xuất gia thì chỉ có một mình ta kề cận hộ tống đưa Ngài đi không có thấy mặt ai theo cả, nay Ngài đã thành Phật thì những vị này lại đứng trong hàng Thượng thủ Thinh văn oai phong hơn ta. Sự việc này đến tai Đức Phật, Ngài đã gọi Tỳ-khưu Channa đến và khuyên dạy: “Tỳ-khưu Sārīputta và Tỳ-khưu Moggallāna là những bậc chính nhân quân tử, là những người bạn lành của ngươi, ngươi hãy nên thân cận, giao du với các vị ấy để được tiến hóa, chớ nên hiềm khích như vậy”.
Rồi Đức Phật đã thuyết bài kệ trên.
Ý chính:
Hãy thân cận giao du với người thiện, chớ thân cận giao du với kẻ ác.
Thảo luận:
1) Theo Phật giáo thì như thế nào để gọi là người bạn lành?
2) Người bạn ác có những đặc tính hay dấu hiệu gì?
3) Bậc thượng nhân (purisuttamo) là ám chỉ cho bậc Thánh như Ngài Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên, hay có thể gọi cho những hạng phàm nhân được không?
Câu đố vui:
1) Đức tính nào dưới đây là chỉ cho một người bạn tốt:
a. Luôn luôn biết chìu ý người khác
b. Luôn luôn tán thán khen ngợi người khác
c. Có tính trung thực thẳng thắn
d. Có tính hay chỉ trích chê bai
2) Đức Phật được gọi là người bạn lành của chúng sanh vì:
a. Ngài luôn làm điều lợi ích cho chúng sanh
b. Ngài luôn cư xử tốt với chúng sanh
c. Ngài luôn có tâm từ bi với chúng sanh
d. Cả ba câu trên đều đúng
3) Thân cận với bạn xấu sẽ có hại cho mình bởi vì:
a. Người xấu không cho chúng ta lợi lộc
b. Người xấu thường khuyến khích ta làm điều xấu
c. Người xấu có thể lợi dụng ta
d. Cả ba câu trên đều đúng
4) Đức Phật có thí dụ trong kinh Pháp cú về sự thân cận với người khác như cái muỗng trong nồi canh. Thí dụ này có ý nghĩa là:
a. Hãy như cái muỗng trong nồi canh, không bị ảnh hưởng bởi vị canh
b. Hãy như cái muỗng trong nồi canh được nếm vị canh trước nhất
c. Đừng như cái muỗng trong nồi canh, không thưởng thức được vị canh
d. Đừng như cái muỗng trong nồi canh, chỉ đem vị canh cho cái lưỡi
5) Một người đã làm ác nghiệp giết cha do sự thân cận với kẻ xấu, bị kẻ xấu xúi giục; làm mất đi duyên hạnh đạo quả kiếp này. Người đó là:
a. Thanh niên Nandamānava
b. Công tử Soreyya
c. Thái tử Ajātasattu
d. Đức vua Pasenadi
thứ bảy, 5.3.2005
Câu đố vui A-tỳ-đàm
1) Câu nói “phiền não tức cảnh bồ-đề”, cảnh bồ-đề trong câu nói này phải được hiểu là:
a. Sự giác ngộ níp-bàn
b. Sự chứng đắc đạo quả
c. Sự ý thức cuộc sống bằng thiện tâm
d. Hình ảnh cội cây cổ thụ mà Đức Thế Tôn đã ngồi thành đạo
2) Cảnh phiền não nếu nói theo A-tỳ-đàm thì:
a. Cảnh dục giới
b. Cảnh danh pháp
c. Cảnh pháp
d. Cả ba câu đều đúng
3) Nói rằng phiền não trợ duyên cho sự tu tập, điều đó là đúng, bởi vì:
a. Nhờ có phiền não để lấy đó suy tư và nhàm chán
b. Nhờ có phiền não trui rèn nội tâm
c. Nhờ có phiền não mới thấy giá trị của sự giải thoát
d. Cả ba câu đều đúng
4) Có nhiều cách để người ta phát sanh niềm tin nơi Đức Phật như là nhìn tướng hảo, nghe âm thanh,... ở đây trường hợp 5 vị đạo sĩ Kiều-trần-như có lòng tịnh tín với Đức Thế Tôn do:
a. Thấy tướng hảo của Đức Phật
b. Nghe giọng nói ngọt ngào của Đức Phật
c. Cảm phục sự khổ hạnh của Đức Phật
d. Hiểu pháp mà Đức Phật thuyết
5) Khi ta nhìn thấy một cảnh buồn hay vui thì tâm bị chi phối, cảnh buồn vui đó là:
a. Do cảnh điêu tàn hay tươi đẹp
b. Do tâm con người buồn hay vui
c. Do sự quy ước của con người
d. Cả ba câu trên đều đúng
Câu đố vui A-tỳ-đàm
1) Câu nói “phiền não tức cảnh bồ-đề”, cảnh bồ-đề trong câu nói này phải được hiểu là:
a. Sự giác ngộ níp-bàn
b. Sự chứng đắc đạo quả
c. Sự ý thức cuộc sống bằng thiện tâm
d. Hình ảnh cội cây cổ thụ mà Đức Thế Tôn đã ngồi thành đạo
2) Cảnh phiền não nếu nói theo A-tỳ-đàm thì:
a. Cảnh dục giới
b. Cảnh danh pháp
c. Cảnh pháp
d. Cả ba câu đều đúng
3) Nói rằng phiền não trợ duyên cho sự tu tập, điều đó là đúng, bởi vì:
a. Nhờ có phiền não để lấy đó suy tư và nhàm chán
b. Nhờ có phiền não trui rèn nội tâm
c. Nhờ có phiền não mới thấy giá trị của sự giải thoát
d. Cả ba câu đều đúng
4) Có nhiều cách để người ta phát sanh niềm tin nơi Đức Phật như là nhìn tướng hảo, nghe âm thanh,... ở đây trường hợp 5 vị đạo sĩ Kiều-trần-như có lòng tịnh tín với Đức Thế Tôn do:
a. Thấy tướng hảo của Đức Phật
b. Nghe giọng nói ngọt ngào của Đức Phật
c. Cảm phục sự khổ hạnh của Đức Phật
d. Hiểu pháp mà Đức Phật thuyết
5) Khi ta nhìn thấy một cảnh buồn hay vui thì tâm bị chi phối, cảnh buồn vui đó là:
a. Do cảnh điêu tàn hay tươi đẹp
b. Do tâm con người buồn hay vui
c. Do sự quy ước của con người
d. Cả ba câu trên đều đúng
Thứ Sáu, 4 tháng 3, 2005
Lớp A Tỳ Đàm
Những đối tượng của tâm thức
Đối tượng của tâm thức còn gọi là cảnh (ārammaṇa), cảnh tức là sở tri của tâm, cái bị tâm biết.
Cảnh hay đối tượng của tâm thức, nói hẹp có 6 thứ là: cảnh sắc, cảnh thinh, cảnh khí, cảnh vị, cảnh xúc và cảnh pháp. Nếu nói rộng thì có 21 cảnh là cảnh sắc, cảnh thinh, cảnh khí, cảnh vị, cảnh xúc, cảnh ngũ, cảnh pháp, cảnh chơn đế, cảnh chế định, cảnh dục giới, cảnh đáo đại, cảnh níp-bàn, cảnh danh pháp, cảnh sắc pháp, cảnh quá khứ, cảnh hiện tại, cảnh vị lai, cảnh ngoại thời, cảnh nội phần, cảnh ngoại phần, cảnh nội ngoại phần.
Tâm biết cảnh tuỳ theo thứ tâm, có những tâm biết nhiều cảnh, có những tâm biết cảnh hạn chế, có những tâm biết cảnh nhất định, có những tâm biết cảnh bất định.
Ở đây, tâm khai ý môn, 8 tâm đổng lực dục giới hợp trí, 2 tâm thông biết đủ 21 cảnh.
12 tâm bất thiện, 8 tâm đổng lực dục giới tịnh hảo ly trí biết 20 cảnh (trừ cảnh níp-bàn) .
3 tâm quan sát, tâm sinh tiếu, 8 tâm đại quả chỉ biết 17 cảnh (trừ 4 cảnh là cảnh níp-bàn, cảnh đáo đại, cảnh chế định và cảnh ngoại thời).
3 tâm ý giới chỉ biết 13 cảnh (ngoại trừ 8 cảnh là cảnh pháp, cảnh danh pháp, cảnh chế định, cảnh đáo đại, cảnh níp-bàn, cảnh quá khứ, cảnh vị lai và cảnh ngoại thời).
Tâm ngũ song thức biết 8 cảnh là cảnh sắc pháp, cảnh chơn đế, cảnh dục giới, cảnh hiện tại, cảnh nội phần, cảnh ngoại phần, cảnh nội ngoại phần và 1 trong 5 cảnh sắc, thinh, khí, vị, xúc.
Tâm siêu thế biết 6 cảnh là cảnh pháp, cảnh chơn đế, cảnh níp-bàn, cảnh danh pháp, cảnh ngoại phần và cảnh ngoại thời.
3 tâm thức vô biên xứ, 3 tâm phi tưởng phi phi tưởng xứ cũng biết được 6 cảnh là cảnh pháp, cảnh đáo đại, cảnh chơn đế, cảnh danh pháp, cảnh quá khứ và cảnh nội phần.
15 tâm sắc giới, 3 tâm không vô biên xứ biết được 4 cảnh là cảnh pháp, cảnh chế định, cảnh ngoại thời và cảnh ngoại phần.
3 tâm vô sở hữu xứ chỉ biết 3 cảnh là cảnh pháp, cảnh chế định và cảnh ngoại thời.
Câu đố vui:
1) Người có mắt đôi khi cũng không biết cảnh sắc được, bởi nguyên nhân:
a. Người ấy nhìn trong bóng tối
b. Người ấy đang ngủ
c. Người ấy không tác ý đến cảnh sắc
d. Cả ba đều đúng
2) Người đang khởi tâm thiện hợp trí nhưng không biết được cảnh níp-bàn vì lý do là:
a. Người ấy là hạng phàm phu
b. Người ấy là bậc thánh hữu học nhưng lúc đó không phản khán níp-bàn
c. Người ấy là vị thánh vô học
d. Câu a và b đúng
3) Một người đang đảnh lễ kim thân Phật với niềm tin và trí tuệ. Trường hợp này tâm thiện của người ấy biết được cảnh nào?
a. Cảnh danh pháp
b. Cảnh sắc pháp
c. Cảnh chơn đế
d. Cảnh chế định
4) Một vị Tỳ-khưu phát triển thiền quán chứng được đạo quả, đối tượng suy niệm có thể là:
a. Cảnh sắc pháp
b. Cảnh danh pháp
c. Cảnh quá khứ
d. Gồm cả 3 cảnh
5) Đức Phật đã cho một vị Tỳ-khưu chiếc khăn tay để dùng làm đề tài suy niệm, và vị ấy đã nhờ đó mà đắc quả. Vị Tỳ-kheo ấy là:
a. Ngài Mahākāla (Đại Hắc)
b. Ngài Cūlapanthaka (Tiểu Bàn-đặc)
c. Ngài Cakkkhupāla (Hộ Nhãn)
d. Ngài Aṅgulimāla (Vô Não)
Những đối tượng của tâm thức
Đối tượng của tâm thức còn gọi là cảnh (ārammaṇa), cảnh tức là sở tri của tâm, cái bị tâm biết.
Cảnh hay đối tượng của tâm thức, nói hẹp có 6 thứ là: cảnh sắc, cảnh thinh, cảnh khí, cảnh vị, cảnh xúc và cảnh pháp. Nếu nói rộng thì có 21 cảnh là cảnh sắc, cảnh thinh, cảnh khí, cảnh vị, cảnh xúc, cảnh ngũ, cảnh pháp, cảnh chơn đế, cảnh chế định, cảnh dục giới, cảnh đáo đại, cảnh níp-bàn, cảnh danh pháp, cảnh sắc pháp, cảnh quá khứ, cảnh hiện tại, cảnh vị lai, cảnh ngoại thời, cảnh nội phần, cảnh ngoại phần, cảnh nội ngoại phần.
Tâm biết cảnh tuỳ theo thứ tâm, có những tâm biết nhiều cảnh, có những tâm biết cảnh hạn chế, có những tâm biết cảnh nhất định, có những tâm biết cảnh bất định.
Ở đây, tâm khai ý môn, 8 tâm đổng lực dục giới hợp trí, 2 tâm thông biết đủ 21 cảnh.
12 tâm bất thiện, 8 tâm đổng lực dục giới tịnh hảo ly trí biết 20 cảnh (trừ cảnh níp-bàn) .
3 tâm quan sát, tâm sinh tiếu, 8 tâm đại quả chỉ biết 17 cảnh (trừ 4 cảnh là cảnh níp-bàn, cảnh đáo đại, cảnh chế định và cảnh ngoại thời).
3 tâm ý giới chỉ biết 13 cảnh (ngoại trừ 8 cảnh là cảnh pháp, cảnh danh pháp, cảnh chế định, cảnh đáo đại, cảnh níp-bàn, cảnh quá khứ, cảnh vị lai và cảnh ngoại thời).
Tâm ngũ song thức biết 8 cảnh là cảnh sắc pháp, cảnh chơn đế, cảnh dục giới, cảnh hiện tại, cảnh nội phần, cảnh ngoại phần, cảnh nội ngoại phần và 1 trong 5 cảnh sắc, thinh, khí, vị, xúc.
Tâm siêu thế biết 6 cảnh là cảnh pháp, cảnh chơn đế, cảnh níp-bàn, cảnh danh pháp, cảnh ngoại phần và cảnh ngoại thời.
3 tâm thức vô biên xứ, 3 tâm phi tưởng phi phi tưởng xứ cũng biết được 6 cảnh là cảnh pháp, cảnh đáo đại, cảnh chơn đế, cảnh danh pháp, cảnh quá khứ và cảnh nội phần.
15 tâm sắc giới, 3 tâm không vô biên xứ biết được 4 cảnh là cảnh pháp, cảnh chế định, cảnh ngoại thời và cảnh ngoại phần.
3 tâm vô sở hữu xứ chỉ biết 3 cảnh là cảnh pháp, cảnh chế định và cảnh ngoại thời.
Câu đố vui:
1) Người có mắt đôi khi cũng không biết cảnh sắc được, bởi nguyên nhân:
a. Người ấy nhìn trong bóng tối
b. Người ấy đang ngủ
c. Người ấy không tác ý đến cảnh sắc
d. Cả ba đều đúng
2) Người đang khởi tâm thiện hợp trí nhưng không biết được cảnh níp-bàn vì lý do là:
a. Người ấy là hạng phàm phu
b. Người ấy là bậc thánh hữu học nhưng lúc đó không phản khán níp-bàn
c. Người ấy là vị thánh vô học
d. Câu a và b đúng
3) Một người đang đảnh lễ kim thân Phật với niềm tin và trí tuệ. Trường hợp này tâm thiện của người ấy biết được cảnh nào?
a. Cảnh danh pháp
b. Cảnh sắc pháp
c. Cảnh chơn đế
d. Cảnh chế định
4) Một vị Tỳ-khưu phát triển thiền quán chứng được đạo quả, đối tượng suy niệm có thể là:
a. Cảnh sắc pháp
b. Cảnh danh pháp
c. Cảnh quá khứ
d. Gồm cả 3 cảnh
5) Đức Phật đã cho một vị Tỳ-khưu chiếc khăn tay để dùng làm đề tài suy niệm, và vị ấy đã nhờ đó mà đắc quả. Vị Tỳ-kheo ấy là:
a. Ngài Mahākāla (Đại Hắc)
b. Ngài Cūlapanthaka (Tiểu Bàn-đặc)
c. Ngài Cakkkhupāla (Hộ Nhãn)
d. Ngài Aṅgulimāla (Vô Não)
Thứ Tư, 2 tháng 3, 2005
Khoá Học Giảng Giải Kinh Văn Nghi Thức Tụng Niệm
KINH SUY NIỆM VỀ NGHIỆP
14.7 Hậu quả hiển nhiên của nghiệp
Những điểm chính:
· Hai loại hậu quả của hành động
· Hậu quả của hành vi ác
· Hậu quả của hành vi thiện
Dẫn nhập:
Một hành vi đã làm bao giờ cũng tạo ra hai trạng thái hậu quả. Một hậu quả tâm lý và một hậu quả dị thục. Hậu quả tâm lý xảy ra sau khi hành động; hậu quả dị thục thì xảy ra trong đời sau, cũng có thể xảy ra trong đời này, nếu là hiện báo nghiệp.
Một người đã làm điều ác khi xét lại hành động của mình, người ấy đau khổ, đó là hậu quả tâm lý; sau khi sanh vào khổ cảnh, người ấy càng đau khổ hơn, đó là hậu quả dị thục.
Một người đã làm điều thện khi xét lại hành động của mình, người ấy hoan hỷ, đó là hậu quả tâm lý; sau khi tái sanh vào nhàn cảnh, người ấy càng hoan hỷ vì hưởng hạnh phúc, đó là hậu quả dị thục.
Chánh kinh:
Idha tappati pecca tappati pāpakāri ubhayattha tappati pāpaṃ me katan’ti bhiyyo tappati duggatiṃ gato. Idha nandati pecca nandati katapuñño ubhayattha nandati puññaṃ me katan’ti nandati bhiyyo nandati sugatiṃ gato.
Đời này đau khổ, đời sau cũng đau khổ, người tạo nghiệp bất thiện đau khổ cả hai đời. Xét ác nghiệp đã làm khiến lòng sầu khổ, sanh vào khổ cảnh nỗi khổ nhiều hơn. Kiếp này an lạc, kiếp sau cũng an lạc. Người tạo nghiệp lành hai đời an lạc. Xét việc thiện đã làm sanh tâm hoan hỷ, sanh vào lạc cảnh hạnh phúc nhiều hơn.
Thảo luận:
1. Có phương pháp nào để giải toả tâm lý bị ám ảnh bởi ác nghiệp đã làm chăng?
2. Xét về mặt tâm lý, có sự khác biệt gì giữa sự ám ảnh bởi ác nghiệp và sự chi phối bởi phiền não?
3. Có phải chăng tất cả ai sau khi làm điều thiện đều có tâm trạng hoan hỷ thoả thích?
KINH SUY NIỆM VỀ NGHIỆP
14.7 Hậu quả hiển nhiên của nghiệp
Những điểm chính:
· Hai loại hậu quả của hành động
· Hậu quả của hành vi ác
· Hậu quả của hành vi thiện
Dẫn nhập:
Một hành vi đã làm bao giờ cũng tạo ra hai trạng thái hậu quả. Một hậu quả tâm lý và một hậu quả dị thục. Hậu quả tâm lý xảy ra sau khi hành động; hậu quả dị thục thì xảy ra trong đời sau, cũng có thể xảy ra trong đời này, nếu là hiện báo nghiệp.
Một người đã làm điều ác khi xét lại hành động của mình, người ấy đau khổ, đó là hậu quả tâm lý; sau khi sanh vào khổ cảnh, người ấy càng đau khổ hơn, đó là hậu quả dị thục.
Một người đã làm điều thện khi xét lại hành động của mình, người ấy hoan hỷ, đó là hậu quả tâm lý; sau khi tái sanh vào nhàn cảnh, người ấy càng hoan hỷ vì hưởng hạnh phúc, đó là hậu quả dị thục.
Chánh kinh:
Idha tappati pecca tappati pāpakāri ubhayattha tappati pāpaṃ me katan’ti bhiyyo tappati duggatiṃ gato. Idha nandati pecca nandati katapuñño ubhayattha nandati puññaṃ me katan’ti nandati bhiyyo nandati sugatiṃ gato.
Đời này đau khổ, đời sau cũng đau khổ, người tạo nghiệp bất thiện đau khổ cả hai đời. Xét ác nghiệp đã làm khiến lòng sầu khổ, sanh vào khổ cảnh nỗi khổ nhiều hơn. Kiếp này an lạc, kiếp sau cũng an lạc. Người tạo nghiệp lành hai đời an lạc. Xét việc thiện đã làm sanh tâm hoan hỷ, sanh vào lạc cảnh hạnh phúc nhiều hơn.
Thảo luận:
1. Có phương pháp nào để giải toả tâm lý bị ám ảnh bởi ác nghiệp đã làm chăng?
2. Xét về mặt tâm lý, có sự khác biệt gì giữa sự ám ảnh bởi ác nghiệp và sự chi phối bởi phiền não?
3. Có phải chăng tất cả ai sau khi làm điều thiện đều có tâm trạng hoan hỷ thoả thích?
Câu đố vui: thứ tư, 2.3.2005
1. Một người làm điều bất thiện mà không bị hậu quả tâm lý đau khổ sau đó. Điều này xảy ra do:
a. Điều bất thiện ấy chỉ nhẹ không đủ sức chi phối tâm
b. Người ấy sau khi làm đã cố quên không xét lại hành động
c. Người ấy đã cố gắng tu tập thiện pháp để xoá mờ ác nghiệp
d. Câu A và B đúng
2. Việc làm thiện đem lại cho người một niềm an lạc. Điều này được giải thích là:
a. Do tâm ý nhận thức được giá trị của thiện pháp
b. Do thiện sanh quả vui
c. Do tự hào mình là người tốt
d. Gồm cả ba lý do trên
3. Khổ cảnh mà người ác phải sanh vào để chịu khổ đau. Khổ cảnh đó được mô tả theo kinh điển là:
a. Bốn đoạ xứ
b. Cõi người mà có sự bất hạnh
c. Mười cõi địa ngục
d. Cõi của loài ngạ quỷ
4. Lạc cảnh mà người thiện sanh vào để hưởng an vui. Lạc cảnh đó được mô tả theo kinh điển là:
a. Cõi Phạm thiên
b. Cõi Chư thiên
c. Cõi vui Dục giới
d. Cõi nhân thiên
5. Có hai thái độ khi đương đầu với nghịch cảnh để giữ tâm bình lặng, theo tinh thần Phật pháp, đó là:
a. Nhẫn nại và hành xả
b. Từ bi và trí tuệ
c. Trì giới và thiền định
d. Chân thật và nhu hòa
Thứ Ba, 1 tháng 3, 2005
Lớp Phật Học Cơ Bản
Part III: Morality / Đạo Đức
3.1 D.2 “Phẩm hạnh là cao quý”
Những điểm chính:
Cách sống sẽ làm thay đổi con người
Phẩm hạnh thanh cao sẽ tôn vinh con người
Hãy chú trọng bản chất hơn là hình thức
Dẫn nhập:
Người đẹp vì lụa, đó là lời phê phán của thế gian. Xét ra cũng đúng, nếu đẹp chỉ vì bộ y phục màu sắc loè loẹt thì cái đẹp đó không có giá trị; cái đẹp đó không phải là đẹp thực chất.
Cũng vậy, một người thật sự cao thượng, theo quan điểm của đạo Phật thì không phải vì người ấy có dòng dõi cao sang hay là có tài sản sung túc, mà chính do phẩm chất đạo đức của người ấy. Cách sống tốt đẹp sẽ làm thay đổi con người.
Một người có phẩm hạnh thanh cao sẽ khiến cho người ấy trở thành dễ thương, dễ mến và đáng kính trọng. Phẩm hạnh thanh cao sẽ tôn vinh con người.
Trong cuộc sống, chúng ta hãy chú trọng về bản chất cao thượng, hơn là hình thức bên ngoài được tô điểm bằng nhãn hiệu thế gia vọng tộc.
Chánh kinh:
By deeds, vision and rightteousness,
By virtue, the sublimest life-
By these are mortals purified,
And not by lineage and wealth.
Do sở hành, tri thức và chánh hạnh
Do đạo đức, đời sống thánh thiện
Do những điều đó thành người cao thượng
Không phải do gia thế và tài sản
Thảo luận:
1) Một người có thể dùng phẩm chất đạo đức để cải chuyển đời sống thấp kém do nghiệp quá khứ chăng?
2) Trong ba cách sống mà Đức Phật đã dạy là nhân tạo phước: bố thí, trì giới và tu thiền; điều nào sẽ tạo nên phẩm chất đạo đức?
3) Những bậc thánh sa-môn đôi lúc cũng bị người ta phỉ báng; đó có phải là các ngài thiếu phẩm chất đạo đức chăng?
Part III: Morality / Đạo Đức
3.1 D.2 “Phẩm hạnh là cao quý”
Những điểm chính:
Cách sống sẽ làm thay đổi con người
Phẩm hạnh thanh cao sẽ tôn vinh con người
Hãy chú trọng bản chất hơn là hình thức
Dẫn nhập:
Người đẹp vì lụa, đó là lời phê phán của thế gian. Xét ra cũng đúng, nếu đẹp chỉ vì bộ y phục màu sắc loè loẹt thì cái đẹp đó không có giá trị; cái đẹp đó không phải là đẹp thực chất.
Cũng vậy, một người thật sự cao thượng, theo quan điểm của đạo Phật thì không phải vì người ấy có dòng dõi cao sang hay là có tài sản sung túc, mà chính do phẩm chất đạo đức của người ấy. Cách sống tốt đẹp sẽ làm thay đổi con người.
Một người có phẩm hạnh thanh cao sẽ khiến cho người ấy trở thành dễ thương, dễ mến và đáng kính trọng. Phẩm hạnh thanh cao sẽ tôn vinh con người.
Trong cuộc sống, chúng ta hãy chú trọng về bản chất cao thượng, hơn là hình thức bên ngoài được tô điểm bằng nhãn hiệu thế gia vọng tộc.
Chánh kinh:
By deeds, vision and rightteousness,
By virtue, the sublimest life-
By these are mortals purified,
And not by lineage and wealth.
Do sở hành, tri thức và chánh hạnh
Do đạo đức, đời sống thánh thiện
Do những điều đó thành người cao thượng
Không phải do gia thế và tài sản
Thảo luận:
1) Một người có thể dùng phẩm chất đạo đức để cải chuyển đời sống thấp kém do nghiệp quá khứ chăng?
2) Trong ba cách sống mà Đức Phật đã dạy là nhân tạo phước: bố thí, trì giới và tu thiền; điều nào sẽ tạo nên phẩm chất đạo đức?
3) Những bậc thánh sa-môn đôi lúc cũng bị người ta phỉ báng; đó có phải là các ngài thiếu phẩm chất đạo đức chăng?
Câu đố vui: ngày thứ ba, 1.3.2005
1)Danh từ “đạo đức” được định nghĩa như thế nào là phù hợp với kinh điển Phật pháp:
a. Là một lối sống làm lợi mình lợi người
b. Là một hành động đúng theo Pháp Luật
c. Là một phong cách đáng kính trọng
d. Là một nếp sống lành mạnh
2) Người có phẩm chất cao quý, được nhận xét theo Phật giáo, đó là người:
a. Biết loại trừ những tính xấu trong nội tâm
b. Có lòng vị tha đối với người khác
c. Không nghĩ đến gây thương tổn cho ai
d. Cả ba đều đúng
3) Một người hy sinh lợi ích của mình để làm lợi ích cho tha nhân. Điều này theo tinh thần đạo Phật thì:
a. Nên như vậy, vì đó là tâm quảng đại của bồ-tát
b. Không nên như vậy, vì phải biết thương chính mình
c. Có thể nên, nếu vì một hạnh nguyện cao cả
d. Có thể không nên, vì bản thân bị khổ đau thì làm sao tu được
4) Một lần nọ, có hai vị Tỷ-kheo từ xa đi đến viếng thăm Đức Phật gần hết giờ ăn, Đức Phật liền bảo hai vị nếu muốn hãy ăn tàn thực mà Ngài thọ thực còn dư lại. Một vị nghĩ rằng: “ta phải ăn để sống mà tiếp tục tu tập” ; vị kia thì không chịu ăn vì nghĩ rằng: “ta nên thừa tự pháp tốt hơn là thừa tự lộc thực của Đức Phật”. Hãy đoán xem Đức Phật đã nhận xét hai vị như thế nào:
a. Ngài khen ngợi vị Tỷ-kheo thọ thực, vì biết vâng lời
b. Ngài tán thán vị Tỷ-kheo không ăn chỉ muốn thừa tự pháp
c. Ngài chê cả hai Tỷ-kheo ấy
d. Ngài không khen cũng không chê vị nào
5)Trong Pháp cú kinh có câu: “Như bông hoa tươi đẹp, có sắc mà không hương”. Câu này có ý nghĩa rằng:
a. Ám chỉ người nói giỏi mà làm dở
b. Ám chỉ một lời khuyên hay nhưng không ai thực hành
c. Ám chỉ một người thân hình đẹp mà tâm xấu xa
d. Nói đến một loại hoa vô vị
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)